Chương 1 LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. Khái niệm và ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tội phạm học là một ngành khoa học pháp lý - xã hội học nghiên cứu nguồn gốc, bản chất, các hình thức biểu hiện và các loại tình hình tội phạm, các quy luật xuất hiện, tồn tại và thay đổi của tình hình tội phạm; các nguyên nhân và điều kiện và cơ chế tác động của các nguyên nhân và điều kiện đó đến tình hình tội phạm; nhân thân người phạm tội; các biện pháp phòng ngừa và khắc phục tình hình tội phạm xẩy ra trong xã hội và những vấn đề khác có liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống tình hình tội phạm. 5] Theo định nghĩa trên của GS. Võ Khánh Vinh thì tội phạm học là Luận một ngành khoa văn học pháp lý -thạc xã hội sĩ Luật học.
học Điều đó có nghĩa, để việc nghiên cứu đạt hiệu quả cao nhất chúng ta phải đặt ngành khoa học này trong mối quan hệ biện chứng giữa khoa học pháp lý mà cụ thể là khoa học luật hình sự với xã hội học, tâm lý học và một số các ngành khoa học khác. Vì vậy, để tạo tiền đề cho việc nghiên cứu đề tài luận văn trước tiên chúng ta tìm hiểu khái niệm về tội phạm được quy định tại khoản 1 điều 8 BLHS năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2009 như sau: Điều 8. Khái niệm tội phạm 1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền lợi, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các 7 quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Tại Điều 139 BLHS năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2009 tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã được quy định như sau: Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a) Có tổLuận chức; văn thạc sĩ Luật học b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Tái phạm nguy hiểm; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình: a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. Xuất phát từ quy định của pháp luật về tội phạm trong BLHS và dựa vào quy định của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại điều 139 BLHS, chúng ta có thể thấy khái niệm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được định nghĩa như sau: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, thông qua việc dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt Luận văn thạc sĩ Luật học tài sản của người khác một cách trái pháp luật”.
Khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là những hiện tượng xã hội tiêu cực, là mối quan hệ không thể tách rời, nếu chỉ có nguyên nhân mà không có điều kiện thì sẽ không phát sinh hành vi phạm tội, sẽ không tạo ra kết quả của tội phạm và ngược lại; có khi quả của hành vi phạm tội này lại là nhân của một hành vi phạm tội khác; đây chính là tính nhân quả trong tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sự tác động qua lại lẫn nhau “nguyên nhân - hậu quả” đều tùy thuộc vào “điều kiện”; điều kiện trong quan hệ này ta có thể ví như một hạt giống muốn nẩy mầm phải cần có nước làm chất xúc tác mà “điều kiện” trong trường hợp này chính là “nước”. Võ Khánh Vinh “Tính nhân quả trong tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mang tính phổ biến, tính không thể đảo ngược, tính 9 liên tục về không gian và thời gian và theo bản chất của mình mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ di truyền học bởi vì nguyên nhân nào gây ra hậu quả đó” [78, tr.75]; đồng thời dây chuyền mối liên hệ nhân quả này không chỉ là một nên cùng một hậu quả có thể do nhiều nguyên nhân và điều kiện tác động lên nó và đôi khi chỉ một nguyên nhân nhưng sinh ra nhiều hậu quả khác nhau. Trước đây trong lý luận tội phạm học khi phân tích nguyên nhân và điều kiện phần lớn các nhà tội phạm học lý giải nguyên nhân và điều kiện nằm ở cơ sở hạ tầng là chính (đó là quan điểm của Mark).
Ngày nay, trong ngành tội phạm học các nhà tội phạm học đã luận thêm là tính quyết định nguyên nhân và điều kiện không những nằm trong cơ sở hạ tầng còn nằm trong cơ sở ý thức và ý thức xã hội. Để nhận thức rõ nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tàiLuận sản trên văn địa bànthạc sĩ thì Tp.HCM Luậtkhônghọc thể không nghiên cứu cặp phạm trù “nhân - quả” của triết học Mác xít và “nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm” của tội phạm học. Khi nghiên cứu Tội phạm học Mác-Xít ta nhận thấy việc làm rõ nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm là nhiệm vụ của ngành Tội phạm học, nhưng bản thân vấn đề nguyên nhân và điều kiện lại là vấn đề của triết học Mác-Xít. Vì vây, để thực hiện nhiệm vụ này, tội phạm học phải dựa vào lý luận của triết học Mác-Xít về vấn đề nguyên nhân và điều kiện; theo đó nguyên nhân của tình hình tội phạm được hiểu là sự tác động qua lại giữa các yếu tố của môi trường sống như các hiện tượng kinh tế, xã hội, chính trị, tư tưởng, văn hóa, gia đình, nhà trường,.
và các yếu tố thuộc về chủ quan bên trong (đặc điểm về tâm sinh lý) của người phạm tội đã tác động qua lại làm phát sinh hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS gọi đó là tội phạm. Võ Khánh Vinh đã viết “Từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng mối quan hệ nhân quả được hiểu là mối quan hệ khách quan giữa 10 các hiện tượng, trong từng hiện tượng đó (nguyên nhân) trong những điều kiện nhất định sinh ra hiện tượng khác (hậu quả)” [78, tr. Mối quan hệ này chính là sự phụ thuộc lẫn nhau của các hiện tượng, quá trình xẩy ra liên tiếp và có một mối tương quan rõ rệt, không thể tách rời. Đặc điểm của sự tác động qua lại giữa nguyên nhân và hậu quả thể hiện ở “sự chuyển tải một số lượng vật chất, năng lượng và thông tin nào đó từ nguyên nhân đến hậu quả”.
Tất nhiên, sự chuyển tải thông tin là sự chuyển tải đặc thù đối với lĩnh vực quan hệ xã hội, trong đó con người là một tiểu hệ thống của nó, trong tiểu hệ thống này con người nhận vào tất cả các thông tin trong xã hội kể cả thông tin tốt lẫn thông tin xấu; do đó, tính chất hành vi của con người tùy thuộc rất lớn vào tính chất của những thông tin mà con người đó lĩnh hội trong cuộc sống hàng ngày. Nguyên nhân của tình hình tội phạm là những hiện tượng, quá trình xã Luận hội có khả năng vănsinhthạc làm phát sĩ Luật tình hình học tội phạm trong thực tế; trong mối quan hệ giữa nguyên nhân và điều kiện với tình hình tội phạm thì nguyên nhân là nhân tố trực tiếp làm phát sinh tình hình tội phạm, luôn thể hiện những mâu thuẫn về nhiều mặt trong đời sống xã hội và những mâu thuẫn này luôn tồn tại một cách ổn định bền vững về mặt thời gian. Điều kiện của tình hình tội phạm là những nhân tố không có khả năng trực tiếp làm phát sinh tình hình tội phạm, không chứa đựng những mâu thuẫn và xung đột trong xã hội nhưng lại tạo ra những khả năng và hoàn cảnh thuận lợi để nguyên nhân nhanh chóng làm phát sinh tình hình tội phạm. Điều kiện thường biểu hiện sự sơ hở và thiếu sót trong các hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội, những nhân tố tồn tại kém bền vững, không ổn định, dễ bị phá vỡ và thay đổi.
Bản thân của tình hình tội phạm trong xã hội cũng có thể trở thành nguyên nhân và điều kiện của chính nó đã làm phát sinh tình hình tội phạm. 11 Nguyên nhân và điều kiện luôn có sự thay đổi liên tục về mặt lịch sử, tiến hóa theo sự tiến hóa của xã hội; xã hội loài người phát triển không ngừng thông qua các hình thái kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, công nghệ thông tin, v.