CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. YẾU TỐ NGUY CƠ: 1. Thói quen nguy cơ: Thuốc lá: Thuốc lá được công nhận là nguyên nhân chủ yếu của nhiều loại ung thư kể cả UTBM khoang miệng. Hơn 43% các loại ung thư được cho là do thuốc lá và tác động sinh ung của thuốc lá đã được biết rõ [9].
Khói thuốc chứa hàng chục chất sinh ung thư như nitrosamin và các gốc tự do gây ức chế hoạt động của enzym chống oxy hóa. Nguy cơ xuất hiện tổn thương tiền ung thư và UTBM khoang miệng gia tăng theo số lượng và thời gian đối với tất cả các loại và cách thức sử dụng thuốc lá [10].Theo King và cộng sự năm 2010 [6], hút thuốc có liên quan tới tổn thương ung thư và tiền UTBM khoang miệng, người hút thuốc dưới 5 điếu/ngày có nguy cơ tổn thương tiền ung thư và ung thư cao hơn gấp 2 lần so với người không hút thuốc. Rượu: Tuy còn nhiều tranh cãi và bất đồng về tác động gây ung thư của rượu, người uống rượu nói chung có xu hướng nhạy cảm hơn với UTBM khoang miệng so với người không uống rượu. Trong thành phần của nước uống có cồn, ngoài ethanol, glucose và nước còn chứa lượng lớn N-nitrosodiethylamine và hydrocarbon thơm đa vòng.
Uống rượu quá mức gây tăng tính thấm của niêm mạc miệng với độc tố và giảm độ dày biểu mô. Acetaldehyde là chất chuyển hóa đầu tiên của ethanol, có thể gây đột biến gen và là chất sinh ung thư [7] Thuốc lá và rượu: Rượu gây tăng gấp bội nguy cơ UTBM khoang miệng khi sử dụng chung với thuốc lá. Hút thuốc làm tăng nồng độ acetaldehyde sau uống rượu, uống rượu gây tăng hoạt tiền chất sinh ung thư trong thuốc lá [11]. Nhai trầu: Có rất nhiều bất thường về nhiễm sắc thể và tổn thương gen ở những người nhai trầu và/hoặc hạt cau [12].
Trầu cau chứa nitrosamine, alkaloid và polyphenol tác động lên bề mặt niêm mạc miệng làm niêm mạc dễ nhiễm nhiều loại vi khuẩn và virus, gây khởi phát quá trình sinh ung thư [13]. Một nghiên cứu gần đây cho thấy nguy cơ cao ung thư niêm mạc miệng ở người nhai trầu cau thông qua điều hòa quá trình chết tế bào theo lập trình trong các tế bào ung thư bởi HIF (yếu tố gây giảm oxy) trong đường dẫn truyền MAPK (protein kinase kích hoạt phân bào) [13]. Người nhai trầu có nguy cơ mắc cao gấp 4-35 lần so với người không nhai trầu [8], [14]. Các tác nhân viêm nhiễm niêm mạc miệng Virus bướu nhú người (HPV): Quá trình sinh ung thư do HPV là một quá trình phức tạp do biến đổi của gen đè nén bướu và những biến đổi ngoại sinh [15].
HPV là những virus DNA nhỏ không vỏ bao gây nhiễm biểu mô gai và gây tổn thương mô. Khoảng 70- 80% ung thư khẩu hầu nhiễm HPV-16 (thuộc týp HPV nguy cơ cao) cho thấy vùng này nhạy cảm với HPV-16 hơn những vị trí khác ở vùng đầu cổ; điều này có thể do yếu tố môi trường tại chỗ dễ nhiễm virus và sự khác biệt về giải phẫu [15]. Một nghiên cứu gần đây báo cáo nhiễm HPV được phát hiện ở bệnh nhân UTBM khoang miệng từ 8 quốc gia trên thế giới khác nhau về sắc tộc, tôn giáo và văn hoá với tỉ lệ khoảng 35% [16]. Virus Epstein-Barr (EBV): Là virus đầu tiên ở người được xem có liên quan với bệnh sinh ung thư.
Một số nghiên cứu báo cáo về sự hiện diện của bộ gen EBV trong UTBM khoang miệng, một nghiên cứu khác tìm thấy RNA thông tin và protein của EBV biểu hiện trong đa số các tế bào UTBM khoang miệng. Nhiễm nấm Candida: Candida tạo ra nitrosamin có thể hoạt hóa tiền oncogen đặc hiệu trong UTBM khoang miệng. Nhiễm khuẩn: Một số vi sinh vùng miệng (Streptococcus, Staphylococcus aureus, Veillonella parvula, Micrococcus cùng với Candida) liên quan đáng kể đến UTBM khoang miệng ở người vì có thể tạo ra chất sinh ung thư tương tự acetaldehyde từ rượu. Nồng độ acetaldehyde trong nước bọt tăng lên đáng kể theo tình trạng vệ sinh răng miệng kém.
Chế độ ăn và dinh dưỡng: Chế độ ăn thiếu chất, ít vận động và béo phì chiếm 30-40% trường hợp UTBM khoang miệng. Chế độ ăn thiếu chất chống oxy hóa, vitamin, khoáng chất và nguyên tố vi lượng dễ bị UTBM khoang miệng. Những người không ăn đủ rau và trái cây gia tăng nguy cơ phát triển UTBM khoang miệng [17]. Ăn nhiều thịt đỏ, ít rau gây tăng nguy cơ UTBM khoang miệng [18].
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG: 1. Triệu chứng lâm sàng: 1. Triệu chứng cơ năng: Giai đoạn sớm: - Cảm giác vướng trong khoang miệng, có thể kèm theo nuốt đau. - Tăng tiết nước bọt, đôi khi có máu.
- Nhức đầu: lan tỏa, âm ỉ, thường ở một bên, đau lan lên tai. - Có thể phát hiện tình cờ khi đi khám một bệnh lý khác mà không có triệu chứng lâm sàng [5]. Giai đoạn muộn: - Nhức đầu liên tục có lúc dữ dội, đau nhói lên tai. - Nói khó và đau.
- Khạc ra đờm lẫn máu và có mùi hôi. - Nhiều bệnh nhân đến khám vì có hạch cổ [5]. Triệu chứng thực thể: Một loạt các thay đổi bệnh lý từ tổn thương tiền ung thư đến ung thư có thể xảy ra. Các tổn thương tiền ung thư bao gồm bạch sản (leukoplakia), hồng sản (erythroplakia) và loạn sản: - Bạch sản được đặc trưng bởi quá sản sừng và thường liên quan với tăng sản biểu mô.
Tỷ lệ biến đổi ác tính khoảng 5% [19]. - Hồng sản được đặc trưng bởi các mảng màu đỏ trên bề mặt ranh giới với niêm mạc bình thường. Thường được kết hợp với loạn sản và có liên quan với ung thư biểu mô tại chỗ hoặc ung thư xâm lấn lên đến 40% các trường hợp [20]. - Loạn sản có đặc điểm mô bệnh học là sự hiện diện của phân bào nguyên nhiễm và hạt nhân nổi.
Loạn sản gắn liền với tiến triển đến ung thư xâm lấn từ 15-30% các trường hợp [19, 21]. Các tổn thương ung thư: Hay gặp loét sùi, loét, sùi, có thể gặp thâm nhiễm cứng 5 - Lưỡi: Ổ loét ở lưỡi, trên ổ loét phủ giả mạc dễ chảy máu, loét phát triển nhanh, lan rộng làm lưỡi bị hạn chế vận động, không di động được. Ở giai đoạn tiến triển, thể loét chiếm ưu thế, loét sâu lan rộng xuống bề mặt hoặc vào mặt dưới, gây đau đớn, gây bội nhiễm, có mùi hôi, rất dễ chảy máu, thậm chí có thể gây chảy máu trầm trọng. Thường phải khám BN ở trạng thái đã gây tê để hạn chế phản ứng của BN do đau đớn.
- Môi: Thường gặp tổn thương loét sùi, gờ tròn hoặc bầu dục, đáy là ổ loét. Loét và thâm nhiễm cứng đơn độc hiếm gặp. Ngoài ra còn gặp tổn thương loét nứt kẽ trên nền cứng, dễ chảy máu hoặc dạng giả mụn cơm hoặc sùi giống u nhú. - Niêm mạc má: Thường gặp tổn thương loét, dễ chảy máu.
- Sàn miệng: Thường gặp dạng loét sùi với đặc điểm cứng, ranh giới không rõ, bờ nham nhở, dễ chảy máu. - Lợi hàm trên và khẩu cái cứng: Tổn thương có xu hướng thâm nhiễm sâu, phá huỷ lan tỏa kèm theo tổn thương có vi xâm lấn. - Lợi hàm dưới và tam giác sau hàm: Thường là tổn thương hình đĩa tròn, nhẵn trước khi xâm nhập xương hàm [22] Hệ hạch cổ: Thăm khám hạch góc hàm, hạch dưới cằm hai bên. Tính chất hạch thường chắc, bờ không đều, đôi khi thâm nhiễm, không di động [5].
Nhìn chung, bạch huyết đầu mặt cổ được chia thành sáu nhóm: - Nhóm I: Nhóm dưới cằm, dưới hàm: Các hạch nằm trong tam giác dưới cằm và dưới hàm. Tam giác dưới cằm được giới hạn bởi hai bụng trước cơ nhị thân và đáy là xương móng; tam giác dưới hàm được giới hạn ở trên là xương hàm dưới, hai cạnh dưới là bụng sau cơ nhị thân. - Nhóm II: Nhóm cảnh cao gồm nhóm dưới cơ nhị thân và nhóm hạch gai trên (II bis): Các hạch nằm trong khoảng 1/3 trên của tĩnh mạch cảnh trong và dây thần kinh gai IX nằm sát cột sống ngang mức chia đôi động mạch cảnh (mốc phẫu thuật) hoặc xương móng (mốc giải phẫu lâm sàng) đến nền sọ. Giới hạn sau là bờ sau cơ ức đòn chũm, giới hạn trước là bờ trước cơ ức móng.
- Nhóm III: Nhóm cảnh giữa: Các hạch nằm trong khoảng 1/3 giữa của tĩnh mạch cảnh trong xuất phát từ chỗ chia đôi động mạch cảnh đến trên cơ vai móng (mốc phẫu 6 thuật). Giới hạn sau là bờ sau của cơ ức đòn chũm, giới hạn trước là bờ bên của cơ ức móng. - Nhóm IV: Nhóm cảnh dưới: Các hạch nằm trong khoảng 1/3 dưới của tĩnh mạch cảnh trong xuất phát từ phía trên cơ vai móng đến phía dưới xương đòn. Giới hạn sau là bờ sau cơ ức đòn chũm, giới hạn trước là bờ bên của cơ ức móng.
- Nhóm V: Nhóm tam giác cổ sau: Gồm chủ yếu các hạch nằm dọc theo 1/2 dưới của thần kinh gai IX và động mạch cổ ngang, bao gồm cả hạch thượng đòn. Giới hạn trước là bờ sau cơ ức đòn chũm và giới hạn dưới là xương đòn. - Nhóm VI: Nhóm trước cổ, cạnh thanh quản: Gồm các hạch trước và sau khí quản, hạch Delphian và các hạch quanh giáp. Giới hạn trên là xương móng, giới hạn dưới là hõm trên xương ức, giới hạn bên là các động mạch cảnh gốc và giới hạn sau là các cân trước sống.
Triệu chứng cận lâm sàng: 1. Chẩn đoán tế bào học: Quệt tế bào bong ở tổn thương khoang miệng tìm tế bào ung thư. Chọc hút kim nhỏ làm chẩn đoán tế bào ung thư tại hạch cổ [5]. Chẩn đoán mô bệnh học: là xét nghiệm bắt buộc phải có để xác định chẩn đoán Sinh thiết trực tiếp u khoang miệng qua ống soi cứng hoặc mềm.
Sinh thiết hạch cổ nếu kết quả mô bệnh học u khoang miệng âm tính (chẩn đoán gián tiếp) [5]. Mô bệnh học là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán xác định. Đa số các trường hợp là typ UT biểu mô vảy (chiếm tỷ lệ 95%-99%), còn lại 1-5% là UT biểu mô tuyến hoặc tuyến nang, UT dạng biểu bì nhầy, u lympho không Hodgkin, u hắc tố. Ung thư biểu mô tế bào vảy được phân độ theo hệ thống phân độ của Broder thành độ III (biệt hóa kém), độ II (biệt hóa vừa), độ I (Biệt hóa cao).
Tiêu chuẩn phân độ phụ thuộc vào: (1) Mức độ biệt hóa của tế bào ung thư với tế bào biểu mô vảy, (2) sự đa hình của nhân, (3) hoạt động phân bào [23], [24] 1.