Tổng quan nghiên cứu

Quá trình già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng tại Việt Nam khi tỷ lệ người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên tăng từ 6,7% năm 1979 lên 9,2% năm 2006 và dự báo cán mốc 26,1% vào năm 2025. Với tỷ suất tử vong khoảng 32,43 trên 1.000 người cao tuổi, mỗi năm nước ta ghi nhận hơn 297.000 trường hợp người cao tuổi qua đời. Theo thống kê từ Tổ chức Y tế Thế giới, các bệnh mạn tính không lây chiếm 63% tổng số ca tử vong toàn cầu, trong đó 80% trường hợp xảy ra tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Những bệnh nhân mắc bệnh giới hạn sự sống phải chịu gánh nặng triệu chứng nặng nề vào 3 ngày cuối đời với 80% mệt mỏi, 28% đến 83% khó thở và 34% đến 45% chịu đựng cơn đau từ trung bình đến nặng.

Thực trạng chăm sóc y tế hiện nay tại Việt Nam vẫn phụ thuộc phần lớn vào quyết định của gia đình và nhân viên y tế, thiếu các chính sách chuẩn hóa về chăm sóc cuối đời cũng như kế hoạch chăm sóc tương lai. Luận văn thạc sĩ y học của tác giả Lê Đại Dương được thực hiện nhằm đánh giá thái độ và ý muốn của 47 bệnh nhân cao tuổi nội trú tại khoa Lão - Chăm sóc giảm nhẹ thuộc Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 01/03/2017 đến ngày 31/05/2017. Nghiên cứu xác định các yếu tố liên quan đến việc ra quyết định điều trị và phương tiện duy trì sự sống. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn, đặt nền tảng dữ liệu thực chứng cho việc xây dựng mô hình chăm sóc lấy người bệnh làm trung tâm, thúc đẩy tỷ lệ tiếp cận chăm sóc giảm nhẹ kịp thời và giảm bớt các can thiệp xâm lấn không cần thiết.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết Chăm sóc giảm nhẹ của Tổ chức Y tế Thế giới và triết lý Chăm sóc Viện cận tử hiện đại do Cicely Saunders khởi xướng từ năm 1967. Khung lý thuyết này khẳng định giảm nhẹ đau đớn và đồng hành tâm lý là nghĩa vụ đạo đức xuyên suốt quá trình điều trị. Các khái niệm trung tâm bao gồm: Lập kế hoạch chăm sóc cho tương lai (Advance Care Planning), Di chúc sức khỏe (Living Will hay Advance Directives), Phương tiện duy trì sự sống (Life-sustaining treatment) và Nguyện vọng không hồi sức (Do Not Resuscitate).

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp các thang đo lão khoa chuẩn mực để đánh giá toàn diện tình trạng người bệnh:

  • Thang đánh giá hoạt động chức năng Eastern Cooperative Oncology Group (ECOG) với 6 mức độ từ 0 đến 5 điểm.
  • Chỉ số độc lập trong hoạt động sinh hoạt hàng ngày Katz ADL từ 0 đến 6 điểm.
  • Chỉ số bệnh đồng mắc Charlson (CCI) phân tầng nguy cơ tử vong thành 3 mức thấp, trung bình và cao.
  • Điểm số đa bệnh đa thuốc (CPS) đánh giá gánh nặng điều trị và nguy cơ tích lũy biến cố bất lợi.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế cắt ngang mô tả. Dân số chọn mẫu bao gồm 207 bệnh nhân cao tuổi từ 60 tuổi trở lên nhập viện tại khoa Lão - Chăm sóc giảm nhẹ, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian từ ngày 01/03/2017 đến ngày 31/05/2017. Sau khi loại trừ 68 trường hợp có rối loạn tri giác, suy hô hấp cấp hoặc sa sút trí tuệ, nghiên cứu tiếp cận 139 bệnh nhân và thu nhận thành công 47 người bệnh đồng ý tham gia phỏng vấn trực tiếp (tỷ lệ đồng ý đạt 33,81%).

Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán theo công thức ước tính tỷ lệ biến nhị giá với độ chính xác tuyệt đối d = 0,15 và mức ý nghĩa 95%, xác định cỡ mẫu tối thiểu là 43 bệnh nhân. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện tiếp cận toàn bộ bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn nhận vào. Bộ công cụ thu thập dữ liệu chính là bảng câu hỏi Đánh giá thái độ người cao tuổi về các vấn đề cuối đời (AEOLI) gồm 27 mục, được dịch thuật chuẩn hai chiều và đạt hệ số tin cậy nội tại Cronbach alpha toàn bảng là 0,75.

Dữ liệu được nhập bằng Microsoft Excel 2016 và phân tích qua phần mềm SPSS phiên bản 23. Lý do lựa chọn mô hình hồi quy tuyến tính đa biến từng bước loại dần (backward stepwise linear regression) là nhằm tối ưu hóa việc lựa chọn các biến số độc lập sau khi sàng lọc tương quan đơn biến Pearson (ngưỡng p dưới 0,25) và kiểm soát hiện tượng đa cộng tuyến bằng hệ số Kendall tau dưới 0,80, bảo đảm tính chuẩn xác tối đa trên cỡ mẫu nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mẫu nghiên cứu có độ tuổi trung bình 73,96 ± 9,19 tuổi, trong đó nữ giới chiếm 57,4%, dân tộc Kinh chiếm 91,5% và thời gian nằm viện trung bình là 12,34 ± 7,1 ngày. Đáng chú ý, 61,7% bệnh nhân có chẩn đoán ung thư nhưng chỉ có 27,6% trong số đó hiểu rõ về chẩn đoán và tiên lượng bệnh của mình.

Thứ hai, mức độ độc lập chức năng trước nhập viện khá cao với 79% đạt điểm Katz ADL tuyệt đối là 6 điểm và 55% có mức hoạt động ECOG 2. Tuy nhiên, chỉ số bệnh đồng mắc CCI ở mức cao (từ 5 điểm trở lên) chiếm tới 51%, cho thấy gánh nặng bệnh lý tiềm ẩn rất lớn dù chức năng vận động tương đối bảo tồn.

Thứ ba, thái độ ủy quyền điều trị mang tính áp đảo khi 87,2% bệnh nhân đồng ý để bác sĩ toàn quyền quyết định quá trình chăm sóc cuối đời. Đồng thời, 76,6% người cao tuổi cho rằng không cần lập di chúc sức khỏe vì tin tưởng gia đình sẽ tự biết cách giải quyết khi thời điểm đến.

Thứ tư, có sự cách biệt sâu sắc giữa kiến thức và mong muốn can thiệp y tế. Khoảng 74,5% đến 87,2% bệnh nhân hoàn toàn không biết về các phương tiện duy trì sự sống như ấn tim ngoài lồng ngực (74,5%), đặt nội khí quản (87,2%), thở máy (76,6%) hay lọc máu (83,0%). Dẫu vậy, sau khi được giải thích, có từ 85,1% đến 93,6% người bệnh vẫn mong muốn được thực hiện các can thiệp này để kéo dài sự sống. Ngoài ra, 94% người cao tuổi chọn nhà riêng là nơi qua đời mong muốn và 55,3% khẳng định ở cạnh gia đình là điều quan trọng nhất trong giây phút lâm chung.

Thảo luận kết quả

Sự phụ thuộc lớn vào bác sĩ (87,2%) và người thân (57,4% con cái là người chăm sóc chính) phản ánh nét đặc thù của văn hóa Á Đông, nơi cấu trúc gia đình mang tính kết nối chặt chẽ và cá nhân thường giao phó các quyết định hệ trọng cho tập thể thân thuộc. Điều này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Yu tại Hàn Quốc với 96,4% người cao tuổi không có di chúc sức khỏe và muốn thân nhân ra quyết định y tế thay mình.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn phản ánh nơi qua đời mong muốn (với 94% tại nhà) và biểu đồ cột đối sánh tỷ lệ hiểu biết thấp (dưới 25%) với tỷ lệ mong muốn can thiệp cao (trên 85%) đối với 5 phương tiện duy trì sự sống. Bảng tương quan đa biến cũng chỉ rõ các yếu tố bệnh lý như chỉ số Charlson trung bình 4,19 điểm và số lần đến cơ sở y tế trong tháng trước (31,9% đi từ 3 lần trở lên) có mối liên hệ mật thiết đến tâm lý muốn sống bằng mọi giá (85,1%).

Sự mâu thuẫn giữa 85,1% muốn sống bằng mọi giá và 72,3% coi trọng chất lượng cuộc sống hơn thời gian sống bắt nguồn từ nỗi sợ đau đớn (76,6% tin rằng cái chết rất đau đớn) kết hợp với nhận thức chưa đầy đủ về bản chất của các can thiệp xâm lấn. So sánh với nghiên cứu của tác giả Somogyi tại Hoa Kỳ trên 1.266 bệnh nhân, nơi 70% người bệnh ưu tiên sự thoải mái và 80% có sẵn bản từ chối hồi sức DNR, có thể thấy khoảng trống lớn trong việc tư vấn lập kế hoạch chăm sóc trước tại Việt Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Bộ Y tế cần chủ trì xây dựng và ban hành Hướng dẫn Quốc gia về Quy trình Lập kế hoạch Chăm sóc Tương lai (ACP) trong vòng 12 đến 18 tháng tới. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ người bệnh cao tuổi mắc bệnh mạn tính giai đoạn tiến triển được tiếp cận tư vấn kế hoạch chăm sóc lên tối thiểu 40% tại các bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương.

Thứ hai, các trường Đại học Y Dược và cơ sở đào tạo y khoa cần đưa môn học Chăm sóc Giảm nhẹ cùng kỹ năng giao tiếp tin xấu vào chương trình đào tạo chính khóa từ năm học 2027-2028. Chỉ tiêu cần đạt là 100% bác sĩ nội trú và điều dưỡng lão khoa nắm vững phương pháp giải thích cặn kẽ về lợi ích cũng như tác hại của các phương tiện duy trì sự sống, giúp bệnh nhân đưa ra lựa chọn sáng suốt.

Thứ ba, Sở Y tế các tỉnh, thành phố cần triển khai thí điểm mạng lưới Chăm sóc Giảm nhẹ tại nhà và hỗ trợ chuyển tuyến cuối đời trong giai đoạn 24 tháng. Mô hình này giúp hiện thực hóa nguyện vọng của 94% người cao tuổi muốn được qua đời thanh thản tại tư gia dưới sự hỗ trợ chuyên môn của nhân viên y tế cơ sở.

Thứ tư, Hội Người cao tuổi Việt Nam phối hợp với các cơ quan truyền thông tổ chức chiến dịch giáo dục cộng đồng về quyền tự quyết sức khỏe và di chúc y tế trong thời gian 6 đến 12 tháng. Chương trình hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ người cao tuổi hiểu sai về can thiệp hồi sức tim phổi xuống dưới 30% và nâng mức độ cởi mở thảo luận về cái chết trong gia đình lên trên 60%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm bác sĩ và điều dưỡng chuyên ngành Lão khoa, Ung bướu, Chăm sóc Giảm nhẹ: Luận văn cung cấp bằng chứng rõ ràng về khoảng trống thông tin (chỉ 27,6% bệnh nhân ung thư biết rõ tiên lượng), giúp nhân viên y tế điều chỉnh cách thức giao tiếp và giải thích phương tiện duy trì sự sống phù hợp với tâm lý người bệnh.

Nhà hoạch định chính sách y tế và quản lý bệnh viện: Nguồn số liệu thực chứng về nguyện vọng qua đời tại nhà (94%) và gánh nặng chi phí y tế (40,4% cảm thấy tốn kém) là cơ sở quan trọng để xây dựng chính sách bảo hiểm y tế cho dịch vụ chăm sóc tại nhà và hoàn thiện hành lang pháp lý cho di chúc sức khỏe.

Giảng viên, học viên sau đại học và nhà nghiên cứu y học: Tài liệu là hình mẫu phương pháp luận chặt chẽ trong việc chuẩn hóa bộ công cụ AEOLI phiên bản tiếng Việt (Cronbach alpha đạt 0,75), kết hợp các thang điểm Katz ADL, ECOG, CCI, CPS và mô hình hồi quy tuyến tính đa biến.

Nhân viên công tác xã hội và người chăm sóc trong gia đình: Cung cấp góc nhìn tâm lý sâu sắc về nhu cầu được ở cạnh người thân (55,3%) và mong muốn kiểm soát triệu chứng đau (14,9%), giúp người chăm sóc đồng hành thấu hiểu và giảm tải áp lực tâm lý trong những ngày cuối đời của người thân.

Câu hỏi thường gặp

Người cao tuổi tại Việt Nam có xu hướng tự quyết định hay phụ thuộc vào người khác trong chăm sóc cuối đời? Phần lớn người cao tuổi có xu hướng ủy quyền cho bác sĩ và gia đình. Kết quả nghiên cứu chỉ ra 87,2% bệnh nhân muốn bác sĩ toàn quyền quyết định điều trị và 76,6% tin tưởng người thân sẽ tự biết cách xử lý mà không cần văn bản di chúc sức khỏe.

Tại sao có sự đối lập giữa việc muốn sống bằng mọi giá và việc coi trọng chất lượng cuộc sống? Sự mâu thuẫn này phát sinh do 76,6% người bệnh lo sợ đau đớn khi hấp hối kết hợp với việc thiếu kiến thức về can thiệp y khoa (trên 74% không hiểu rõ phương tiện duy trì sự sống). Khi chưa hiểu hết biến chứng của hồi sức xâm lấn, người bệnh thường chọn sống bằng mọi giá.

Nguyện vọng về địa điểm qua đời của người cao tuổi thể hiện như thế nào trong nghiên cứu? Nghiên cứu ghi nhận 94% bệnh nhân cao tuổi mong muốn được qua đời tại nhà riêng trong vòng tay người thân, chỉ 4% chọn bệnh viện và không ai chọn viện dưỡng lão. Điều này khẳng định tầm quan trọng của việc phát triển mạng lưới chăm sóc giảm nhẹ tại cộng đồng.

Mức độ hiểu biết của bệnh nhân về các phương tiện duy trì sự sống trước khi nhập viện ra sao? Hiểu biết của người bệnh về can thiệp y tế duy trì sự sống còn rất hạn chế. Có 74,5% bệnh nhân không biết về ấn tim ngoài lồng ngực, 87,2% không biết về đặt nội khí quản và 76,6% không biết về thở máy. Tuy nhiên, sau khi được tư vấn, hơn 85% bày tỏ mong muốn được áp dụng.

Bộ công cụ AEOLI được chuẩn hóa và kiểm định độ tin cậy trong luận văn như thế nào? Bảng câu hỏi AEOLI gồm 27 câu hỏi bao phủ 9 lĩnh vực chăm sóc cuối đời, được dịch thuật hai chiều Anh - Việt bởi các chuyên gia lão khoa và thử nghiệm tiền lâm sàng. Phép kiểm định cho thấy thang đo đạt tính đồng nhất nội tại tốt với hệ số Cronbach alpha toàn bộ đạt 0,75.

Kết luận

  • Luận văn cung cấp nguồn dữ liệu thực chứng đầu tiên tại Việt Nam về thái độ và ý muốn chăm sóc cuối đời của 47 bệnh nhân cao tuổi thông qua bộ công cụ AEOLI chuẩn hóa đạt độ tin cậy Cronbach alpha 0,75.
  • Tỷ lệ 87,2% người bệnh muốn bác sĩ quyết định điều trị và 76,6% tin tưởng gia đình thay vì lập di chúc sức khỏe phản ánh rõ nét văn hóa gắn kết gia đình đặc trưng của người Việt Nam.
  • Tồn tại khoảng trống tri thức đáng báo động khi hơn 74% người cao tuổi không hiểu rõ các phương tiện duy trì sự sống nhưng lại có trên 85% mong muốn can thiệp tối đa.
  • Nguyện vọng được qua đời tại nhà đạt tỷ lệ áp đảo 94% cùng với 55,3% ưu tiên được ở bên người thân, khẳng định yêu cầu cấp bách phải phát triển dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ ngoại viện.
  • Khoảng 40,4% bệnh nhân chịu áp lực về chi phí y tế và 61,7% mắc bệnh ung thư đồng mắc cho thấy sự cần thiết của các chính sách an sinh xã hội hỗ trợ giai đoạn cuối đời.

Công trình nghiên cứu đã đóng góp cơ sở khoa học vững chắc để ngành y tế triển khai mô hình Lập kế hoạch chăm sóc tương lai (ACP) và luật hóa Di chúc sức khỏe tại Việt Nam. Trong giai đoạn 2 năm tới, các nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng quy mô đa trung tâm với cỡ mẫu từ 500 đến 1.000 đối tượng trên toàn quốc. Đội ngũ y bác sĩ và các nhà quản lý y tế hãy chủ động đối thoại, tôn trọng quyền tự chủ của người cao tuổi và chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình chăm sóc nhân văn lấy người bệnh làm trung tâm.