Nghiên cứu xác định Terpin Hydrat và Paracetamol trong dược phẩm bằng phương pháp trắc quang

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu xác định terpin hydrat và paracetamol trong dược phẩm bằng phương pháp trắc quang, góp phần nâng cao chất lượng phân tích.

Chuyên ngành

Hóa phân tích

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

104
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. PHẦN 1: NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH PARACETAMOL

1.1. Đặc điểm và tính chất vật lý của Paracetamol

1.2. Tính chất dược học của Paracetamol

1.3. Dược lý và cơ chế tác dụng

1.4. Dược động học

1.5. Vai trò và ứng dụng của Paracetamol

1.6. Sự tương tác của Paracetamol với các loại thuốc

1.7. Một số phương pháp xác định Paracetamol

1.7.1. Phương pháp trắc quang

1.7.2. Phương pháp điện hóa

1.7.3. Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)

2. NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH TERPIN HYDRAT

2.1. Đặc điểm tính chất của Terpin hydrat (TEP)

2.2. Ứng dụng của TEP

2.3. Thành phần và tác dụng của thuốc

2.4. TEP tương tác với các loại thuốc khác

2.5. Dược lý và cơ chế tác dụng

2.6. Dược lực học

2.7. Dược động học

2.8. Các phương pháp xác định TEP

2.8.1. Phương pháp GC

2.8.2. Phương pháp UV – VIS

3. PHẦN 1: HÓA CHẤT - DỤNG CỤ - THIẾT BỊ

4. PHẦN 2: TIẾN HÀNH THỰC NGHIỆM

4.1. Xác định Paracetamol bằng phương pháp trắc quang

4.1.1. Quét phổ khảo sát bước sóng cho cực đại hấp thụ

4.1.2. Khảo sát thứ tự cho thuốc thử và nồng độ thuốc thử

4.1.3. Khảo sát độ bền của phức theo thời gian

4.1.4. Khảo sát ảnh hưởng của một số ion

4.1.5. Khảo sát sự tuân theo định luật Lambert – Beer

4.1.6. Lập đường chuẩn xác định PA

4.1.7. Xác định PA trong mẫu thuốc

4.1.8. Xác định PA trong mẫu thuốc Pacemin

4.1.9. Xác định PA trong mẫu thuốc Panadol Extra

4.1.10. Xác định PA trong mẫu thuốc Tiffy FU

4.1.11. Xác định PA trong mẫu thuốc Efferalgan

4.1.12. Xác định PA trong mẫu thuốc Siro Tiffy

4.1.13. Sử dụng phương pháp HPLC để xác định PA

4.1.14. Khảo sát sự xuất hiện peak của PA

4.1.15. Khảo sát ảnh hưởng đệm

4.1.16. Khảo sát ảnh hưởng tốc độ dòng

4.1.17. Khảo sát ảnh hưởng thể tích tiêm

4.1.18. Khảo sát ảnh hưởng tỷ lệ pha động

4.1.19. Khảo sát ảnh hưởng pH pha động

4.1.20. Lập đường chuẩn xác định PA

4.1.21. Xác định PA trong mẫu thuốc

4.1.22. Xác định PA trong mẫu thuốc Pacemin

4.1.23. Xác định PA trong mẫu thuốc Panadol Extra

4.1.24. Xác định PA trong mẫu thuốc Tiffy FU

4.1.25. Xác định PA trong mẫu thuốc Efferalgan

4.1.26. Xác định PA trong mẫu thuốc Siro Tiffy

4.1.27. Kiểm chứng kết quả bằng hai phương pháp

4.2. Xác định TEP bằng phương pháp trắc quang

4.2.1. Khảo sát bước sóng cực đại của phức TEP

4.2.2. Khảo sát thứ tự cho thuốc thử

4.2.3. Khảo sát thời gian đun tạo phức

4.2.4. Khảo sát độ bền của phức

4.2.5. Khảo sát ảnh hưởng của một số ion

4.2.6. Khảo sát sự tuân theo định luật Lambert – Beer

4.2.7. Lập đường chuẩn xác định TEP

4.2.8. Xác định TEP trong một số mẫu thuốc

4.2.8.1. Cách tiến hành
4.2.8.2. Xác định TEP trong mẫu thuốc Pharcoter
4.2.8.3. Xác định TEP trong mẫu thuốc Khaterban
4.2.8.4. Xác định TEP trong mẫu thuốc Acodine

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu xác định Terpin Hydrat và Paracetamol

Nghiên cứu xác định Terpin HydratParacetamol trong dược phẩm là một lĩnh vực quan trọng trong hóa phân tích. Hai hợp chất này có vai trò lớn trong việc điều trị các bệnh lý khác nhau. Paracetamol được biết đến như một thuốc giảm đau và hạ sốt phổ biến, trong khi Terpin Hydrat có tác dụng trong điều trị ho và các bệnh lý hô hấp. Việc xác định chính xác nồng độ của chúng trong dược phẩm là cần thiết để đảm bảo hiệu quả điều trị và an toàn cho người sử dụng.

1.1. Đặc điểm và tính chất của Paracetamol

Paracetamol, hay còn gọi là acetaminophen, có công thức hóa học C8H9NO2. Đây là một hợp chất có tính chất giảm đau và hạ sốt hiệu quả. Paracetamol được hấp thu nhanh chóng qua đường tiêu hóa và có thể gây độc cho gan khi sử dụng quá liều. Việc xác định nồng độ của Paracetamol trong dược phẩm là rất quan trọng để tránh các tác dụng phụ không mong muốn.

1.2. Đặc điểm và ứng dụng của Terpin Hydrat

Terpin Hydrat là một hợp chất có nguồn gốc tự nhiên, thường được chiết xuất từ các loại thảo dược như bạch đàn và oregano. Hợp chất này có tác dụng làm loãng đờm và hỗ trợ điều trị các bệnh lý hô hấp. Việc xác định nồng độ của Terpin Hydrat trong dược phẩm giúp đảm bảo hiệu quả điều trị và an toàn cho người bệnh.

II. Vấn đề và thách thức trong xác định Terpin Hydrat và Paracetamol

Mặc dù có nhiều phương pháp để xác định Terpin HydratParacetamol, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong quá trình phân tích. Các yếu tố như độ chính xác, độ nhạy và khả năng tái lập của phương pháp là những vấn đề cần được giải quyết. Ngoài ra, sự tương tác của các thành phần khác trong dược phẩm cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả phân tích.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến độ chính xác trong phân tích

Độ chính xác của phương pháp xác định phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng mẫu, điều kiện phân tích và thiết bị sử dụng. Việc kiểm soát các yếu tố này là rất quan trọng để đảm bảo kết quả phân tích chính xác và đáng tin cậy.

2.2. Tương tác giữa các thành phần trong dược phẩm

Sự tương tác giữa Paracetamol, Terpin Hydrat và các thành phần khác trong dược phẩm có thể làm thay đổi nồng độ của chúng trong mẫu. Điều này có thể dẫn đến kết quả phân tích không chính xác, do đó cần có các phương pháp phân tích phù hợp để kiểm soát các yếu tố này.

III. Phương pháp trắc quang trong xác định Terpin Hydrat và Paracetamol

Phương pháp trắc quang là một trong những phương pháp phổ biến nhất để xác định nồng độ của Terpin HydratParacetamol trong dược phẩm. Phương pháp này dựa trên nguyên lý hấp thụ ánh sáng của các hợp chất trong dung dịch. Việc sử dụng phương pháp này giúp xác định nồng độ một cách nhanh chóng và hiệu quả.

3.1. Nguyên lý của phương pháp trắc quang

Phương pháp trắc quang dựa trên nguyên lý rằng mỗi hợp chất hóa học sẽ hấp thụ ánh sáng ở các bước sóng khác nhau. Bằng cách đo độ hấp thụ của dung dịch tại bước sóng tối ưu, có thể xác định nồng độ của hợp chất trong mẫu.

3.2. Quy trình thực hiện phương pháp trắc quang

Quy trình thực hiện phương pháp trắc quang bao gồm các bước như chuẩn bị mẫu, xác định bước sóng tối ưu, và đo độ hấp thụ. Việc thực hiện đúng quy trình sẽ đảm bảo độ chính xác và độ tin cậy của kết quả phân tích.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp trắc quang có thể xác định chính xác nồng độ của Terpin HydratParacetamol trong nhiều loại dược phẩm khác nhau. Các ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu này bao gồm việc kiểm soát chất lượng dược phẩm và đảm bảo an toàn cho người sử dụng.

4.1. Kết quả xác định nồng độ Paracetamol trong mẫu thuốc

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng phương pháp trắc quang có thể xác định nồng độ Paracetamol trong các mẫu thuốc như Panadol và Efferalgan với độ chính xác cao. Kết quả này cho thấy tính khả thi của phương pháp trong việc kiểm soát chất lượng dược phẩm.

4.2. Kết quả xác định nồng độ Terpin Hydrat trong mẫu thuốc

Tương tự, phương pháp trắc quang cũng cho kết quả tốt trong việc xác định nồng độ Terpin Hydrat trong các mẫu thuốc trị ho. Điều này khẳng định vai trò quan trọng của phương pháp trong ngành dược phẩm.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu xác định Terpin Hydrat và Paracetamol

Nghiên cứu xác định Terpin HydratParacetamol bằng phương pháp trắc quang đã chứng minh được tính hiệu quả và độ chính xác. Tương lai của nghiên cứu này có thể mở ra nhiều hướng đi mới trong việc phát triển các phương pháp phân tích hiện đại hơn, đồng thời nâng cao chất lượng dược phẩm trên thị trường.

5.1. Hướng phát triển các phương pháp phân tích mới

Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc phát triển các phương pháp phân tích mới, như sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) hoặc điện hóa, để nâng cao độ chính xác và độ nhạy trong việc xác định nồng độ của các hợp chất trong dược phẩm.

5.2. Tầm quan trọng của việc kiểm soát chất lượng dược phẩm

Việc kiểm soát chất lượng dược phẩm là rất quan trọng để đảm bảo an toàn cho người sử dụng. Nghiên cứu này góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc xác định chính xác nồng độ của các hợp chất trong dược phẩm.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu xác định terpin hydrat và paracetamol trong một số dược phẩm bằng phương pháp trắc quang luận văn ths hoá học

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Từ xƣa, ngƣời ta đã sử dụng cây liễu làm thuốc hạ sốt, mà sau này đã chiết xuất đƣợc aspirin. Thế kỷ 19, cây canh ki na và chất chiết xuất từ nó là quinin đƣợc sử dụng để làm hạ sốt trong bệnh sốt rét [16]. Khi cây canh kina dần khan hiếm vào những năm 1880, ngƣời ta bắt đầu đi tìm các thuốc thay thế. Khi đó 2 thuốc hạ sốt đã đƣợc tìm ra là acetanilide năm 1886 và phenacetin năm 1887.

Năm 1878 Harmon Northrop Morse đầu tiên đã tổng hợp đƣợc paracetamol từ nguyên liệu ban đầu p-nitrophenol cùng với thiếc trong giấm đóng băng [18]. Tuy nhiên, paracetamol đã không đƣợc dùng làm thuốc điều trị trong suốt 15 năm sau đó. Năm 1893, paracetamol đã đƣợc tìm thấy trong nƣớc tiểu của ngƣời uống phenacetin, và đã đƣợc cô đặc thành một chất kết tinh màu trắng có vị đắng. Năm 1899, paracetamol đƣợc khám phá là một chất chuyển hóa của acetanilide.

Khám phá này đã bị lãng quên vào thời gian đó. Năm 1946, Viện nghiên cứu về giảm đau và thuốc giảm đau (the Institute for the Study of Analgesic and Sedative Drugs) đã tài trợ cho Sở y tế New York để nghiên cứu các vấn đề xung quanh các thuốc điều trị đau. Bernard Brodie và Julius Axelrod đƣợc chỉ định nghiên cứu tại sao các thuốc non-aspirin lại liên quan đến tình trạng gây met-hemoglobin, (tình trạng làm giảm lƣợng oxy đƣợc mang trong hồng cầu và có thể gây tử vong). Năm 1948, Brodie và Axelrod kết nối việc sử dụng acetanilide với met-hemoglobin và xác định đƣợc rằng, tác dụng giảm đau của acetanilide là do paracetamol - chất chuyển hóa của nó gây ra.

Họ chủ trƣơng sử dụng paracetamol trong điều trị và từ đó đã không xuất hiện các độc tính nhƣ của acetanilide nữa [10]. Sản phẩm paracetamol đầu tiên đã đƣợc McNeil Laboratories bán ra năm 1955 nhƣ một thuốc giảm đau hạ sốt cho trẻ em với tên Tylenol Children's Elixir [8]. Sau này, paracetamol đã trở thành thuốc giảm đau hạ sốt đƣợc sử dụng rộng rãi nhất với rất nhiều tên biệt dƣợc đƣợc lƣu hành. Terpin hydrat là một loại hoạt chất có nguồn ngốc từ các nguồn nhƣ nhựa thông, thyme, oregano, bạch đàn và đƣợc nghiên cứu sinh lý lần đầu tiên bởi Lepine năm 1855.

terpin hydrat tác động trực tiếp lên các tế bào tiết phế quản trong đƣờng hô hấp để hóa lỏng và tạo điều kiện thuận lợi cho việc loại bỏ các chất tiết phế quản chống viêm phế quản cấp và mãn tính. Nó cũng tạo nên một tác dụng sát trùng yếu vào nhu mô phổi [33]. terpin hydrat đƣợc phổ biến rộng rãi tại Mỹ kể từ cuối thế kỷ XIX. Và hiện nay phổ biến trong tất cả các dƣợc phẩm tân dƣợc trị ho.

-1- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TỔNG QUAN PHẦN 1: NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH PARACETAMOL 1. Đặc điểm và tính chất của Paracetamol (PA) Tên theo IUPAC: N-(4-hydroxyphenyl) acetamide Công thức: HO NHCOCH3 Tên khác: Paracetamol, Acetaminophen Công thức hóa học: C8H9NO2 Khối lƣợng phân tử: 151,17 Dạng tinh khiết bột kết tinh màu trắng Tỷ trọng: 1,263 g/mol Bán rã: 1 – 4 giờ Nhiệt độ nóng chảy: 168 – 1720C Độ tan: Tan trong nƣớc nóng, khó tan trong nƣớc lạnh, dễ tan trong kiềm, ethanol 1. Tính chất dƣợc học của Paracetamol [6]: + Nhóm dƣợc lý: Thuốc giảm đau, hạ sốt + Tên biệt dƣợc: Paracetamol, acetaminophen + Dạng thuốc và hàm lƣợng: Uống: nang 500mg Nang (chứa bột để pha dung dịch): 80mg Gói để pha dung dịch: 80mg, 120mg, 150mg/5ml Dung dịch: 26 mg/ml, 32 mg/ml, 48mg/ml, 100mg/ml Dịch treo: 32mg/ml, 100mg/ml Viên nén có thể nhai: 80mg, 100mg, 160mg. Viên nén giải phóng kéo dài, bao phim: 650mg.

Viên nén, bao phim: 160mg, 325mg, 500mg. Thuốc đạn: 80mg, 120mg, 125mg, 150mg, 300mg, 325mg, 650mg. + Thành phần: paracetamol 1. Dƣợc lý và cơ chế tác dụng: Paracetamol (acetaminophen hay N - acetyl – p – aminophenol) là chất chuyển hóa có hoạt tính của phenacetin, là thuốc giảm đau - hạ sốt hữu hiệu có thể thay thế -2- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Tuy vậy, khác với aspirin, paracetamol không có hiệu quả điều trị viêm. Với liều ngang nhau tính theo gam, paracetamol có tác dụng giảm đau và hạ sốt tƣơng tự nhƣ aspirin. Paracetmol làm giảm thân nhiệt ở ngƣời bệnh sốt nhƣng hiếm khi làm giảm thân nhiệt ở ngƣời bình thƣờng. Thuốc có tác động lên vùng dƣới đồi gây hạ nhiệt, tỏa nhiệt tăng do giãn mạch và tăng lƣu lƣợng máu ngoại biên.

Paracetamol, với liều điều trị, ít tác động đến hệ tim mạch và hô hấp, không làm thay đổi cân bằng axit – bazơ, không gây kích ứng, xƣớc hoặc chảy máu dạ dày nhƣ khi dùng salicylat, vì paracetamol không tác dụng trên cyclooxygenase toàn thân, chỉ tác động đến cyclooxygenase/prostaglandin của hệ thần kinh trung ƣơng. Paracetamol không có tác dụng trên tiểu cầu hoặc thời gian chảy máu. Khi dùng quá liều paracetamol một chất chuyển hóa là N–acetyl– benzoquinonimin gây độc nặng cho gan. Liều bình thƣờng, paracetamol dung nạp tốt, không có nhiều tác dụng phụ của aspirin.

Tuy vậy, quá liều cấp tính (trên 10g) làm tổn thƣơng gan gây chết ngƣời, và những vụ ngộ độc và tự vẫn bằng paracetmol đã tăng lên một cách đáng lo ngại trong những năm gần đây. Ngoài ra, nhiều ngƣời trong đó có cả thầy thuốc dƣờng nhƣ không biết tác dụng chống viêm kém của paracetamol. Dƣợc động học: + Hấp thu: Paracetamol đƣợc hấp thu nhanh chóng và hầu nhƣ hoàn toàn qua đƣờng tiêu hóa. Thức ăn có thể làm viên nén giải phóng kéo dài paracetamol chậm đƣợc hấp thu một phần và thức ăn giàu carbon hydrat làm giảm tỷ lệ hấp thu của paracetamol.

Nồng độ đỉnh trong huyết tƣơng đạt trong vòng 30 đến 60 phút sau khi uống với liều điều trị. + Phân bố: Paracetamol phân bố nhanh và đồng đều trong phần lớn các mô của cơ thể. Khoảng 25% paracetamol trong máu kết hợp với protein huyết tƣơng. + Thải trừ: Nửa đời huyết tƣơng của paracetamol là 1,25 – 3giờ, có thể kéo dài thời gian với liều gây độc hoặc ở ngƣời bệnh có thƣơng tổn gan.

Sau liều điều trị, có thể tím thấy 90 đến 100% thuốc trong nƣớc tiểu trong ngày thứ nhất, chủ yếu sau khi liên hợp trong gan với axit glucoronic (khoảng 60%), axit sulfuric (khoảng 35%) hoặc cystein (khoảng 3%), cũng phát hiện thấy một lƣợng nhỏ những chất chuyển hóa hydroxyl – hóa và khử acetyl. Trẻ nhỏ ít khả năng glucuro liên hợp với thuốc hơn so với ngƣời lớn. -3- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Paracetamol bị N – hydroxyl hóa bởi cytochrom P450 để tạo nên N – acetyl – benzoquinonimin một chất trung gian có tính phản ứng cao. Chất chuyển hóa này bình thƣờng phản ứng với các nhóm sulfhydryl trong glutathion và nhƣ vậy bị khử hoạt tính.

Tuy nhiên, nếu uống liều cao paracetamol, chất chuyển hóa này đƣợc tạo thành với lƣợng đủ để làm cạn kiệt glutathion của gan trong tình trạng đó, phản ứng của nó với nhóm sulfhydryl của protein gan tăng lên, có thể dẫn đến họai tử gan. Vai trò và ứng dụng của Paracetamol [6] 1. Chỉ định: Paracetamol đƣợc dùng rộng rãi trong điều trị các chứng đau và sốt từ nhẹ đến vừa. + Đau: Paracetamol đƣợc dùng làm giảm đau tạm thời trong điều trị trứng đau nhẹ và vừa.

Thuốc có hiệu quả nhất là làm giảm đau cƣờng độ thấp có nguồn gốc không phải là nội tạng. Paracetamol không có tác dụng trị thấp khớp. Paracetamol là thuốc thay thế salicylat (đƣợc ƣa thích ở ngƣời bệnh chống chỉ định hoặc không dung nạp salicylat) để giảm đau nhẹ hoặc hạ sốt. + Sốt: Paracetamol thƣờng đƣợc dùng để giảm thân nhiệt ở ngƣời bệnh sốt, khi sốt có thể có hại hoặc khi hạ sốt ngƣời bệnh sẽ dễ chịu hơn.

Tuy vậy, liệu pháp hạ sốt nói chung không đặc hiệu, không ảnh hƣởng đến tiến trình của bệnh cơ bản và có thể che lấp tình trạng bệnh của ngƣời bệnh 1. Chống chỉ định: - Ngƣời bệnh nhiều lần thiếu máu, bệnh tim, phổi, thận hoặc gan - Ngƣời quá mẫn với paracetamol - Ngƣời thiếu hụt glucose – 6- phosphat dehydrogenase 1. Thời kỳ mang thai: Chƣa xác định đƣợc tính an toàn của paracetamol dùng khi tha nghén liên quan đến tác dụng không mong muốn. Thời kì cho con bú: Nghiên cứu ở ngƣời mẹ dùng paracetamol sau khi đẻ cho con bú, không thấy có tác dụng không mong muốn ở trẻ nhỏ bú mẹ.

Tác dụng không mong muốn: Ban da và những phản ứng dị ứng khác thỉng thoảng xảy ra. Thƣờng là ban đỏ hoặc mày đay, nhƣng đôi khi nặng hơn và có thể kèm theo sốt do thuốc và thƣơng tổn -4- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com niêm mạc. Ngƣời bệnh mẫn cảm với salicylat kiêm mẫn cảm với paracetamol và những thuốc có liên quan. Trong một số trƣờng hợp riêng lẻ, paracetamol dễ gây giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu và giảm toàn thể huyết cầu.

Liều lƣợng và cách dùng: - Khi sử dụng paracetamol để trị liệu thƣờng đƣợc dùng uống. Đối với ngƣời bệnh không uống đƣợc, có thể dùng dạng thuốc đạn đặt trực tràng, tuy vậy liều trực tràng cần thiết để có cùng nồng độ huyết tƣơng có thể cao hơn liều uống. - Không đƣợc dùng paracetamol để tự điều trị giảm đau quá 10 ngày ở ngƣời lớn hoặc quá 5ngày ở trẻ em, vì đau nhiều và kéo dài nhƣ vậy có thể là dấu hiệu của một tình trạng bệnh lý cần thầy thuốc chuẩn đoán và điều trị có giám sát. - Không dùng paracetamol cho ngƣời lớn và trẻ em để tự điều trị sốt cao (trên 39,50C), sốt kéo dài trên 3ngày, hoặc sốt tái phát, trừ khi do thầy thuốc hƣớng dẫn và sốt nhƣ vậy có thể là dấu hiệu của một bệnh nặng cần đƣợc thầy thuốc chuẩn đoán nhanh chóng.

- Để giảm thiểu nguy cơ quá liều, không nên cho trẻ em quá 5 liều paracetamol để giảm đau hoặc hạ sốt trong vòng 24 giờ, trừ khi do thầy thuốc hƣớng dẫn. - Để giảm đau hoặc hạ sốt cho ngƣời lớn và trẻ em trên 11 tuổi, liều paracetamol thƣờng dùng uống hoặc đƣa vào trực tràng là 325 – 650mg, cứ 4 -6 giờ một lần khi cần thiết, nhƣng không quá 4g một ngày, liều một lần lớn hơn (ví dụ 1g) có thể hữu ích để giảm đau ở một số ngƣời bệnh. - Để giảm đau hoặc hạ sốt, trẻ em có thể uống hoặc đƣa vào trực tràng cứ 4 -6 giờ một lần khi cần thiết, liều xấp xỉ nhƣ sau: trẻ em 11 tuổi, 480mg; trẻ em 9-11 tuổi 400mg; trẻ em 6-8 tuổi 320mg; trẻ em 4-5 tuổi 240mg và trẻ em 2-3 tuổi 160mg. Trẻ em dƣới 2 tuổi có thể uống liều sau đây, cứ 4 - 6giờ một lần khi cần: trẻ em 1 - 2 tuổi 120mg; trẻ em 4 -11 tháng tuổi 80mg, trẻ em tới 3 tháng tuổi 40mg.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu xác định Terpin Hydrat và Paracetamol trong dược phẩm bằng phương pháp trắc quang" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc sử dụng phương pháp trắc quang để xác định hai hợp chất quan trọng trong dược phẩm. Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao hiểu biết về các phương pháp phân tích hóa học mà còn mang lại lợi ích thiết thực cho ngành dược, từ việc đảm bảo chất lượng sản phẩm đến việc phát triển các phương pháp phân tích mới.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về các phương pháp phân tích trong hóa học, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ kỹ thuật hóa học phát triển phương pháp phân tích xác định đồng thời esomeprazole và naproxen trong thuốc bằng phương pháp hplcuv, nơi trình bày một phương pháp sắc ký lỏng hiện đại. Ngoài ra, tài liệu Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu xây dựng quy trình định lượng mangiferin trong cây tri mẫu bằng phương pháp hplc cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình định lượng trong dược phẩm. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Phân tích hàm lượng cà phê và caffeine trong cà phê rang xay bằng phương pháp uv vis kết hợp phân tích dữ liệu đa biến, một nghiên cứu thú vị về phân tích hóa học trong thực phẩm.

Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn những góc nhìn đa dạng và sâu sắc hơn về các phương pháp phân tích trong hóa học, từ đó mở rộng kiến thức và ứng dụng trong thực tiễn.