Tổng quan nghiên cứu

Hơn 70% lượng kháng sinh sử dụng trong y tế và nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam được đào thải ra môi trường nước mà không qua chuyển hóa hoàn toàn, gây nguy cơ gia tăng các chủng vi khuẩn kháng thuốc. Tình trạng dư lượng kháng sinh nhóm tetracycline xuất hiện trong nguồn nước với nồng độ từ 0,5 đến 2,0 mg/L đang đe dọa trực tiếp đến hệ sinh thái và sức khỏe của hơn 650 triệu dân tại khu vực Đông Nam Á. Trước thực trạng đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định cơ chế hấp phụ polyme mang điện âm natri polystyrene sulfonate (PSS) trên đá ong tự nhiên và đánh giá khả năng xử lý kháng sinh tetracycline trong môi trường nước.

Đề tài được triển khai từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2020 tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên, sử dụng nguồn khoáng đá ong tự nhiên khai thác tại huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội kết hợp khảo sát trên mẫu nước ao nuôi cá rô phi thực tế. Đóng góp nổi bật của luận văn là phát triển thành công vật liệu hấp phụ biến tính chi phí thấp, giúp nâng hiệu suất tách loại tetracycline từ 45% lên trên 93%, đồng thời duy trì khả năng xử lý ổn định qua 4 chu kỳ tái sử dụng liên tục. Kết quả nghiên cứu mở ra hướng đi bền vững, giúp giảm thiểu hơn 80% chi phí xử lý so với việc sử dụng than hoạt tính thương phẩm nhập khẩu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết hấp phụ bề mặt, tương tác hút tĩnh điện giữa các phân tử mang điện tích trái dấu và thuyết tạo phức bề mặt. Mô hình hấp phụ đơn lớp Langmuir cùng mô hình hấp phụ đa lớp Freundlich được áp dụng để mô tả trạng thái cân bằng pha, kết hợp phương trình động học giả bậc 1 và giả bậc 2 của Lagergren nhằm phân tích tốc độ phản ứng. Khung lý thuyết tích hợp 4 khái niệm trọng tâm:

  • Polyelectrolyte mang điện âm: Hợp chất cao phân tử natri polystyrene sulfonate có khối lượng phân tử 1.000 kg/mol, phân ly hoàn toàn trong nước tạo khung điện tích âm bền vững không phụ thuộc vào pH môi trường.
  • Trạng thái ion hóa của tetracycline: Kháng sinh phân ly qua 3 giá trị pKa lần lượt là 3,3; 7,7 và 9,7, tồn tại ở dạng cation khi pH dưới 3,3 và dạng lưỡng cực khi pH nằm trong khoảng từ 3,3 đến 7,7.
  • Điện thế Zeta và điểm đẳng điện: Đại lượng đo điện thế màng phân giới giúp xác định sự dịch chuyển điện tích bề mặt đá ong từ dương sang âm sau quá trình biến tính.
  • Khoáng laterit tự nhiên: Đất đá xốp giàu oxit sắt Fe2O3 chiếm 40,1% và oxit nhôm Al2O3 chiếm 15,0%, cung cấp diện tích bề mặt riêng từ 200 đến 3.000 m2/g với các tâm tích điện dương thuận lợi cho biến tính.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm gồm mẫu đá ong Thạch Thất và 50 lít nước thải ao nuôi cá rô phi thu thập lúc 16h30 ngày 03 tháng 09 năm 2020 tại Thái Nguyên. Phương pháp chọn mẫu là lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo tiêu chuẩn TCVN 6663-1:2011, sau đó gia công nghiền sàng hạt kích thước từ 0,5 đến 1,0 mm để đảm bảo tính đồng nhất bề mặt. Cỡ mẫu thực nghiệm gồm hơn 120 bình phản ứng độc lập, mỗi thí nghiệm tiến hành lặp lại 3 lần nhằm tính toán độ lệch chuẩn và triệt tiêu sai số ngẫu nhiên.

Phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử UV-Vis tại các bước sóng 224,4 nm và 261,4 nm cho PSS cùng 277,4 nm và 356,4 nm cho tetracycline được lựa chọn do có độ nhạy cao, khoảng tuyến tính rộng và giới hạn phát hiện dưới 0,1 mg/L. Cấu trúc vật liệu được phân tích qua kính hiển vi điện tử quét SEM, đo diện tích bề mặt riêng BET bằng phép hấp phụ N2 ở nhiệt độ 77 K, quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier FT-IR và máy Zetasizer Nano ZS trong suốt thời gian từ tháng 01 đến tháng 09 năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình thực nghiệm đã ghi nhận 4 phát hiện quan trọng mang tính cốt lõi:

  1. Quá trình biến tính bề mặt đá ong tự nhiên bằng PSS đạt hiệu suất cực đại 93,08% với dung lượng hấp phụ 3,70 mg/g tại pH 4,0, nồng độ muối NaCl 50 mM, tỷ lệ chất hấp phụ 5 mg/mL và thời gian lắc 150 phút. Khi pH tăng từ 4,0 lên 10,0, hiệu suất hấp phụ PSS giảm mạnh từ 92,38% xuống chỉ còn 7,39%.
  2. Vật liệu đá ong biến tính bằng PSS làm tăng dung lượng hấp phụ tetracycline gấp 3,2 lần so với đá ong tự nhiên, nâng hiệu suất tách loại tetracycline đạt trên 97% trong dung dịch nồng độ 10 mg/L tại pH 4,0 và nồng độ NaCl 10 mM.
  3. Động học hấp phụ tetracycline trên vật liệu biến tính tuân theo mô hình giả bậc 2 với hệ số hồi quy R2 đạt trên 0,99, chứng minh quá trình hấp phụ hóa học kiểm soát tốc độ phản ứng và đạt trạng thái cân bằng sau 180 phút.
  4. Xử lý mẫu nước nuôi cá rô phi thực tế có nồng độ tetracycline ban đầu khoảng 2,0 mg/L cho hiệu suất loại bỏ xấp xỉ 100%. Khi thử nghiệm thêm chuẩn nồng độ 5,0 mg/L và 10,0 mg/L, hiệu suất xử lý vẫn duy trì ổn định trên 93,5%.

Thảo luận kết quả

Hiệu quả hấp phụ vượt trội của vật liệu sau biến tính được giải thích nhờ lực tương tác hút tĩnh điện giữa nhóm sulfonate mang điện tích âm trên mạch polyme PSS và nhóm dimethylamin mang điện tích dương của phân tử tetracycline tại khoảng pH từ 3,0 đến 6,0. Khi môi trường có pH trên 7,7, tetracycline chuyển sang dạng anion cùng dấu làm xuất hiện lực đẩy tĩnh điện, dẫn đến hiệu suất sụt giảm xuống dưới 35%.

So sánh với than sinh học vỏ bưởi có dung lượng hấp phụ 476,19 mg/g hay graphen oxit đạt 313,00 mg/g, đá ong biến tính PSS có chi phí nguyên liệu thấp hơn 90% và quy trình tổng hợp rất thân thiện với môi trường. Dữ liệu thực nghiệm khi biểu diễn qua đồ thị đường đẳng nhiệt Langmuir tuyến tính Ccb/q theo Ccb và bảng ma trận động học cho thấy sự tương thích tuyệt đối giữa dung lượng lý thuyết và thực nghiệm với sai số dưới 2,5%. Sự hiện diện của các ion kim loại Al3+, Cu2+, Zn2+ ở nồng độ từ 10 đến 100 mg/L gây hiện tượng tạo phức cạnh tranh làm dịch chuyển cực đại phổ UV-Vis nhưng hiệu suất xử lý tổng thể vẫn được bảo toàn trên 80%.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn kiểm soát ô nhiễm môi trường nước, 4 nhóm giải pháp kỹ thuật cụ thể được đề xuất:

  1. Chuẩn hóa quy trình sản xuất vật liệu đá ong biến tính quy mô công nghiệp: Áp dụng công nghệ ngâm phủ PSS nồng độ 500 mg/L ở điều kiện pH 4,0 và nồng độ NaCl 50 mM cho nguồn đá ong tự nhiên tại Thạch Thất và khu vực Tây Nguyên. Đặt mục tiêu đạt sản lượng 10 tấn vật liệu mỗi tháng với dung lượng hấp phụ trên 3,5 mg PSS trên mỗi gam đá trong giai đoạn 2021 đến 2023, do Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với các viện nghiên cứu.
  2. Lắp đặt trạm lọc hấp phụ xử lý nước thải tại các cơ sở nuôi trồng thủy sản: Xây dựng hệ thống cột lọc dòng chảy với định mức 5 kg vật liệu cho 1 mét khối nước thải, duy trì thời gian lưu nước 180 phút để hạ nồng độ tetracycline từ 2,0 mg/L xuống dưới 0,05 mg/L theo chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT, triển khai thí điểm tại 20 trang trại thủy sản ở Thái Nguyên và Quảng Ninh từ năm 2022 đến 2024.
  3. Vận hành quy trình tái sinh vật liệu định kỳ: Thực hiện giải hấp tetracycline bằng dung dịch axit HCl 0,1 M và kiềm NaOH 0,1 M, sau đó tái biến tính bằng dung dịch PSS để duy trì hiệu suất hấp phụ trên 80% sau 4 chu kỳ sử dụng, giúp giảm 65% chi phí hóa chất cho các cơ sở y tế từ năm 2023.
  4. Tăng cường kiểm soát và quan trắc dư lượng kháng sinh môi trường: Ban hành quy chế quan trắc bắt buộc đối với dư lượng kháng sinh nhóm tetracycline trong nguồn nước mặt với ngưỡng phát hiện dưới 0,01 mg/L, do Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Bộ Y tế thực thi giai đoạn 2023 đến 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

  1. Kỹ sư môi trường và chuyên viên vận hành hệ thống xử lý nước thải: Tiếp cận giải pháp kỹ thuật nâng hiệu suất tách loại tetracycline lên trên 97% từ nguồn khoáng tự nhiên, giúp tối ưu hóa hệ thống xử lý nước thải y tế với chi phí vận hành giảm 60% so với màng lọc công nghệ cao.
  2. Chủ trang trại và kỹ thuật viên ngành nuôi trồng thủy sản: Ứng dụng quy trình xử lý triệt để dư lượng kháng sinh từ 2,0 mg/L về ngưỡng an toàn dưới 0,05 mg/L trong ao nuôi thủy sản, giúp tăng tỷ lệ sống của cá và tôm thêm 15% đến 20% mà không để lại tồn dư độc hại.
  3. Giảng viên và nghiên cứu viên ngành Hóa Phân tích, Công nghệ Môi trường: Sử dụng hệ thống dữ liệu thực nghiệm về mô hình động học giả bậc 2, đường đẳng nhiệt Langmuir và phổ FT-IR, Zeta để phát triển các hướng biến tính khoáng sét laterit với hơn 5 nhóm hợp chất polyme mới.
  4. Học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Hóa học: Tham khảo phương pháp tối ưu hóa 5 thông số kỹ thuật gồm pH, lực ion, tỷ lệ vật liệu, thời gian phản ứng và nồng độ ban đầu, cùng kỹ thuật đo quang UV-Vis có độ lệch chuẩn dưới 0,5%.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao cần biến tính đá ong tự nhiên bằng polyme PSS để xử lý kháng sinh tetracycline? Đá ong tự nhiên có cấu trúc xốp nhưng khả năng hấp phụ tetracycline chỉ đạt dưới 45% do thiếu tâm tương tác điện tích. Việc phủ polyme mang điện âm PSS giúp tăng mật độ điện tích âm bề mặt, tạo lực hút tĩnh điện cực mạnh với cation tetracycline ở pH 4,0, giúp nâng hiệu suất xử lý lên trên 93% và tăng dung lượng hấp phụ gấp 3,2 lần.

  2. Điều kiện tối ưu nhất cho quá trình hấp phụ tetracycline trên đá ong biến tính là gì? Quá trình hấp phụ đạt hiệu quả cao nhất tại pH 4,0, nồng độ muối NaCl 10 mM, tỷ lệ vật liệu 5 mg/mL và thời gian tiếp xúc 180 phút ở 25 độ C. Trong điều kiện này, hiệu suất loại bỏ tetracycline nồng độ 10 mg/L đạt trên 97% với độ lệch chuẩn thực nghiệm luôn duy trì dưới mức 0,5%.

  3. Sự hiện diện của các ion kim loại trong nước ảnh hưởng như thế nào đến khả năng hấp phụ? Các ion Al3+, Cu2+ và Zn2+ ở nồng độ từ 10 đến 100 mg/L có xu hướng tạo phức cạnh tranh với tetracycline làm thay đổi phổ hấp thụ UV-Vis. Tuy vậy, nhờ liên kết tĩnh điện bền vững giữa PSS và tetracycline, vật liệu biến tính vẫn giữ vững hiệu suất xử lý thực tế trên 80%.

  4. Vật liệu đá ong biến tính có thể tái sử dụng bao nhiêu lần và quy trình tái sinh ra sao? Vật liệu có thể tái sử dụng qua 4 chu kỳ liên tiếp bằng cách giải hấp bằng dung dịch HCl hoặc NaOH 0,1 M và tẩm biến tính lại với dung dịch PSS 500 mg/L. Sau 4 lần tái sinh, hiệu suất hấp phụ tetracycline vẫn đạt trên 84%, giúp tiết kiệm hơn 60% chi phí vật liệu lọc.

  5. Hiệu quả xử lý tetracycline trên nguồn nước thải nuôi trồng thủy sản thực tế ra sao? Thực nghiệm trên mẫu nước ao nuôi cá rô phi tại Thái Nguyên có nồng độ tetracycline khoảng 2,0 mg/L cho hiệu suất loại bỏ đạt gần 100%. Khi bổ sung thêm lượng kháng sinh chuẩn 5,0 mg/L và 10,0 mg/L, hiệu suất xử lý vẫn duy trì bền vững trên 93,5%, chứng minh độ tin cậy trong môi trường thực.

Kết luận

  • Chế tạo thành công vật liệu đá ong biến tính bằng PSS mang điện âm, nâng hiệu suất hấp phụ tetracycline từ 45% lên trên 93%.
  • Tối ưu hóa hệ điều kiện xử lý tại pH 4,0, nồng độ muối NaCl 10 mM đến 50 mM, thời gian 180 phút và liều lượng vật liệu 5 mg/mL.
  • Khẳng định cơ chế hấp phụ hóa học tuân theo mô hình giả bậc 2 và đẳng nhiệt Langmuir với hệ số tương quan R2 trên 0,99.
  • Chứng minh tính kinh tế qua khả năng tái sử dụng 4 chu kỳ với hiệu suất duy trì trên 84% và xử lý triệt để nước ao nuôi cá.
  • Mở ra giải pháp xử lý chất thải kháng sinh giá rẻ, thân thiện môi trường từ nguồn khoáng laterit dồi dào của Việt Nam.

Giai đoạn 2021 đến 2023, nhóm nghiên cứu tiếp tục mở rộng thử nghiệm trên nước thải dược phẩm và hoàn thiện mô hình thiết bị lọc tự động. Các đơn vị quan tâm hãy liên hệ ngay với nhóm tác giả tại Đại học Thái Nguyên để tiếp nhận chuyển giao quy trình công nghệ chế tạo vật liệu tiên tiến này.