phần Mở đầu, tác giả tập trung phân tích nội dung điều chỉnh của pháp luật đối với việc thi hành các hình phạt không tước tự do là cảnh cáo, phạt tiền và cải tạo không giam giữ 1. Thi hành hình phạt cảnh cáo Theo Điều 34 của BLHS 2015 (trước đây là Điều 29 BLHS năm 1999) thì cảnh cáo là hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt. Như vậy, việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tôi khi có đủ hai điều kiện: một là, người phạm tội ít nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm) và hai là, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt (theo BLHS thì có 22 trường hợp được coi là tình tiết giảm nhẹ và được miễn hình phạt nếu thuộc trường hợp đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự. Căn cứ quy định của Điều 71 Luật Thi hành án hình sự năm 2010 thì hình phạt cảnh cáo được thi hành ngay tại phiên tòa do Tòa án tuyên; trong thời hạn 07 ngày, kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, Toà án đã xét xử sơ thẩm phải gửi bản án cho người bị phạt cảnh cáo, cơ quan thi hành án hình sự 13 Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, UBND cấp xã, đơn vị quân đội nơi người bị phạt cảnh cáo cư trú hoặc làm việc, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm có trụ sở và cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm theo dõi, thống kê, báo cáo theo quy định.
Như vậy, mặc dù hình phạt cảnh cáo là hình phạt chính được thi hành ngay tại phiên tòa nhưng với việc chuyển giao bản án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, UBND cấp xã, Sở Tư pháp. chứng tỏ rằng người bị kết án vẫn cần phải giám sát, giáo dục tại cộng đồng để người bị kết án nhận thức được chính sách khoan hồng của Nhà nước giành cho mình, nhận thức được trách nhiệm đối với gia đình, tổ chức, chính quyền địa phương để phấn đấu lao động, làm việc để trở thành người có ích cho gia đình và cho xã hội; đồng thời phòng ngừa người bị kết án tiếp tục vi phạm pháp luật hay phạm tội. Thi hành hình phạt tiền Hình phạt tiền được áp dụng đối với người phạm tội được quyết định theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm và tình hình tài sản của người bị kết án nhằm buộc người bị kết án phải nộp một khoản tiền nhất định để nộp vào ngân sách của Nhà nước. Theo quy định hiện hành, việc thi hành hình phạt tiền có tính chất thi hành phần "dân sự" trong các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nên nên việc thi hành hình phạt này được thực hiện theo trình tự, thủ tục thi hành án dân sự.
Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 (gọi chung là Luật Thi hành án dân sự) và các văn bản hướng dẫn thi hành thì khi nhận được bản án của Tòa án có tuyên hình phạt tiền thì Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án chủ động. Trên cơ sở quyết định thi hành án, Chấp hành viên cơ quan Thi 14 hành án dân sự được giao nhiệm vụ thi hành sẽ tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án (người phải thi hành án); thông báo thời gian tự nguyện thi hành án; phối hợp với UBND cấp xã và các cơ quan, tổ chức liên quan xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, động viên, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành hình phạt tiền. Trường hợp qua xác minh cho thấy người phải thi hành án có điều kiện thi hành án (tài sản, thu nhập) thì Chấp hành viên thuyết phục, động viên người phải thi hành án tự nguyện thi hành. Nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án cần thiết để đảm bảo thi hành án.
Theo quy định của Luật THADS thì các biện pháp cưỡng chế thi hành án được áp dụng để buộc người phải thi hành án thi hành hình phạt tiền bao gồm: khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ; khai thác tài sản của người phải thi hành án [13, Điều 71]. Trên cơ sở biện pháp cưỡng chế được áp dụng, Chấp hành viên phối hợp với VKSND cùng cấp, các cơ quan, tổ chức liên quan (cơ quan Công an, cơ quan quản lý nhà nước về đất đai; cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm; cơ quan bảo hiểm; tổ chức tín dụng.) và UBND cấp xã tổ chức việc cưỡng chế theo trình tự, thủ tục quy định đối với mỗi biện pháp cưỡng chế. Trong trường hợp phải cưỡng chế kê biên tài sản của người phải thi hành án thì sau khi kê biên, Chấp hành viên ký hợp đồng với tổ chức thẩm định giá để định giá tài sản và ký hợp đồng với tổ chức đấu giá để bán tài sản kê biên và thu tiền thi hành án; trường hợp tại tỉnh, thành phố nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở không có tổ chức đấu giá tài sản hoặc tổ chức đấu giá tài sản từ chối bán tài sản hoặc giá trị tài sản dưới 10.000 đồng, tài sản tươi sống, mau hỏng thì Chấp hành viên tự bán đấu giá tài sản đã kê biên để thi hành án. 15 Trường hợp qua xác minh cho thấy người phải thi hành án không có điều kiện thi hành án (tài sản, thu nhập) thì cơ quan Thi hành án dân sự ra quyết định về việc thi hành án chưa có điều kiện thi hành và công khai thông tin trên Trang thông tin điện tử của các Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh và Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, đồng thời, gửi quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án cho UBND cấp xã nơi xác minh để niêm yết công khai.
Tuy nhiên, trong quá trình thi hành án, tùy từng trường hợp, pháp luật quy định người phải thi hành án được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản tiền phạt thu nộp cho ngân sách nhà nước. Cụ thể là: - Người phải thi hành án được xét miễn nghĩa vụ thi hành án khi có đủ các điều kiện: Không có tài sản hoặc có tài sản nhưng tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành án hoặc không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị dưới 2.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị từ 2.000 đồng đến dưới 5. - Người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại khi có đủ các điều kiện: thuộc trường hợp quy định nêu trên và hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị dưới 5.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 5.000 đồng đến dưới 10. - Người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp 16 ngân sách nhà nước mà thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì được xét giảm một phần nghĩa vụ thi hành án khi có một trong các điều kiện: Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 10.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần tư số tiền còn lại phải thi hành án; và hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ trên 100.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần năm số tiền còn lại phải thi hành án nhưng tối đa không quá 50.
- Người phải thi hành án đã tích cực thi hành được một phần án phí, tiền phạt nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục thi hành được phần nghĩa vụ còn lại hoặc lập công lớn thì được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại. Việc miễn, giảm chỉ được xét một lần trong một năm đối với mỗi bản án, quyết định và căn cứ để xác định thời hạn xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án là quyết định thi hành án lần đầu. Thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ Cải tạo không giam giữ là một loại hình phạt chính trong hệ thống hình phạt được quy định trong BLHS, theo đó không tước tự do, không buộc người phạm tội cách ly khỏi gia đình, nơi làm việc cũng như xã hội. Mục đích của hình phạt này là tạo điều kiện cho người bị kết án được cải tạo, học tập trong môi trường xã hội bình thường, khuyến khích họ trở thành người có ích cho xã hội.
Nội dung của hình phạt là Tòa án giao người bị kết án cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập hoặc UBND cấp xã nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục và gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc UBND cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó. 17 Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước.