Tổng quan nghiên cứu

Nhiễm khuẩn bệnh viện là thách thức y tế mang tính toàn cầu, gây kéo dài thời gian nằm viện, gia tăng gánh nặng chi phí và làm tăng tỷ lệ tử vong. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, tại bất kỳ thời điểm nào cũng có trên 1,4 triệu người trên thế giới mắc nhiễm khuẩn bệnh viện. Riêng tại Mỹ, mỗi năm ghi nhận khoảng 2 triệu ca mắc, cướp đi sinh mạng của 90.000 người bệnh và làm phát sinh thêm chi phí điều trị lên tới 4,5 tỷ đô la Mỹ. Tại Việt Nam, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện dao động trong khoảng từ 3% đến 68% tùy thuộc vào tuyến điều trị và từng chuyên khoa lâm sàng.

Bàn tay của nhân viên y tế là phương tiện truyền bệnh trung gian chủ yếu, lan truyền các tác nhân gây bệnh từ người bệnh này sang người bệnh khác hoặc qua môi trường xung quanh. Nhiều bằng chứng khoa học khẳng định thực hành vệ sinh tay đúng quy trình có thể làm giảm từ 30% đến 50% nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện. Dù vậy, tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh trong nước trước đây chỉ dao động ở mức khiêm tốn từ 0% đến 32,1%.

Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La là bệnh viện tuyến tỉnh hạng I với quy mô 500 giường bệnh kế hoạch và 569 giường bệnh thực kê, trung bình mỗi tháng điều trị nội trú cho 1.370 bệnh nhân và tiếp nhận 15.150 lượt khám ngoại trú. Nhằm nâng cao chất lượng điều trị và an toàn người bệnh, đề tài nghiên cứu được triển khai với hai mục tiêu cốt lõi:

Thứ nhất, khảo sát thực trạng điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ công tác vệ sinh tay trong khám chữa bệnh tại bệnh viện năm 2018.

Thứ hai, mô tả kiến thức, thái độ và thực hành về vệ sinh tay của nhân viên y tế trực tiếp tham gia chăm sóc người bệnh.

Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trên toàn bộ 18 khoa lâm sàng trong giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2018. Kết quả nghiên cứu đóng vai trò là cơ sở thực chứng giúp ban lãnh đạo bệnh viện hoạch định chiến lược đầu tư trang thiết bị, cải thiện tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay hướng tới mục tiêu trên 70%, góp phần giảm thiểu tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên mô hình đánh giá Kiến thức - Thái độ - Thực hành (KAP) trong y tế công cộng, kết hợp với hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới và Thông tư số 18/2009/TT-BYT của Bộ Y tế. Nghiên cứu tập trung vào các khái niệm nền tảng:

Nhiễm khuẩn bệnh viện: Là các nhiễm khuẩn xuất hiện sau 48 giờ kể từ khi người bệnh nhập viện mà không hiện diện hoặc không ở giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm tiếp nhận.

Rửa tay thường quy: Là biện pháp sử dụng nước và xà phòng hoặc chà sát bàn tay bằng dung dịch cồn có nồng độ từ 60% đến 90% nhằm loại bỏ phổ vi khuẩn vãng lai bám dính trên biểu bì da sau khi tiếp xúc với môi trường điều trị.

Rửa tay vô khuẩn ngoại khoa: Là quy trình rửa tay khử khuẩn bắt buộc dành cho kíp phẫu thuật kéo dài tối thiểu 3 phút nhằm loại bỏ hoàn toàn vi khuẩn vãng lai và làm giảm tối đa mật độ vi khuẩn định cư sâu trong biểu bì da từ bàn tay đến khuỷu tay.

Phổ vi khuẩn trên bàn tay: Bao gồm vi khuẩn định cư thường trú ở lớp sâu biểu bì và vi khuẩn vãng lai có nguồn gốc ngoại nhiễm. Mật độ vi khuẩn trung bình trên tay nhân viên y tế khi chăm sóc người bệnh có thể đạt mức 5,4 log CFU.

Quy tắc 5 thời điểm vệ sinh tay theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới: Trước khi tiếp xúc người bệnh, trước khi thực hiện thủ thuật sạch hoặc vô khuẩn, sau khi tiếp xúc máu và dịch cơ thể, sau khi tiếp xúc người bệnh, và sau khi tiếp xúc bề mặt đồ dùng xung quanh người bệnh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, kết hợp linh hoạt giữa phương pháp định lượng và phương pháp định tính:

Khảo sát cơ sở vật chất: Đánh giá toàn bộ hệ thống bồn rửa tay lavabo, nguồn nước, vòi cấp nước, hóa chất sát khuẩn và khăn lau tay tại 18/18 khoa lâm sàng của bệnh viện.

Điều tra định lượng nhân viên y tế: Cỡ mẫu lý thuyết tính theo công thức ước tính một tỷ lệ với mức ý nghĩa alpha 0,05 và sai số cho phép 0,06 là 270 người. Trên thực tế, nghiên cứu đã tiến hành điều tra toàn bộ 285 cán bộ y tế trực tiếp làm việc tại các khoa lâm sàng, bao gồm 89 bác sĩ và 196 điều dưỡng.

Quan sát thực hành: Chọn mẫu ngẫu nhiên 30 nhân viên y tế gồm 15 bác sĩ và 15 điều dưỡng để giám sát kín qua bảng kiểm chuẩn hóa của Tổ chức Y tế Thế giới. Mỗi lượt quan sát kéo dài 10 phút cộng trừ 1 phút, tiến hành vào hai khung giờ cao điểm điều trị từ 8 giờ đến 9 giờ sáng và 14 giờ đến 15 giờ chiều.

Nghiên cứu định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu 24 cán bộ quản lý, gồm 03 thành viên Ban Giám đốc và 21 trưởng hoặc phó khoa lâm sàng.

Phương pháp phân tích: Dữ liệu được làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm EpiData, sau đó xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0. Nghiên cứu sử dụng kiểm định Chi bình phương để so sánh các tỷ lệ phần trăm và kiểm định t-test để so sánh giá trị trung bình với ngưỡng ý nghĩa thống kê p < 0,05. Lý do lựa chọn các phương pháp này nhằm đảm bảo tính chuẩn xác trong đo lường mối liên quan giữa các yếu tố thâm niên, chuyên môn với mức độ tuân thủ vệ sinh tay.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa tại 18 khoa lâm sàng đã ghi nhận nhiều chỉ số quan trọng về điều kiện hạ tầng và thực hành chuyên môn:

Thực trạng cơ sở vật chất rửa tay thường quy: Toàn bộ 18/18 khoa lâm sàng (đạt tỷ lệ 100%) đều triển khai rửa tay thường quy và sử dụng nguồn nước máy. Tuy nhiên, số lượng bồn lavabo tại các khoa còn hạn chế: 55,6% khoa có từ 3 đến 5 bồn, 27,8% khoa chỉ có từ 1 đến 2 bồn, và chỉ 16,7% khoa có trên 5 bồn rửa. Về chủng loại vòi nước, có 50,0% khoa sử dụng vòi có cần gạt khuỷu tay, trong khi vẫn còn 50,0% khoa sử dụng vòi khóa vặn tay thủ công. Tỷ lệ khoa có dán bảng quy trình kỹ thuật tại bồn rửa đạt 94,4%.

Chủng loại hóa chất và phương tiện làm khô tay: Có tới 94,5% khoa (17/18 khoa) sử dụng xà phòng bánh để rửa tay thường quy, chỉ có 5,5% khoa sử dụng xà phòng lỏng chín và hoàn toàn không có dung dịch rửa tay chuyên dụng Microshield. Về phương tiện làm khô tay, 83,3% khoa sử dụng khăn bông sạch dùng chung nhiều lần, 16,7% khoa có khăn hấp vô khuẩn và tỷ lệ trang bị khăn giấy dùng một lần đạt 0%.

Điều kiện rửa tay vô khuẩn ngoại khoa: Có 13/18 khoa lâm sàng (chiếm 72,2%) triển khai rửa tay vô khuẩn. Trong số này, có 76,9% khoa bố trí bồn rửa vô khuẩn nằm trực tiếp trong phòng thủ thuật, chỉ có 23,1% khoa thiết kế được phòng rửa tay chuyên biệt. Nguồn nước dùng cho rửa tay vô khuẩn chủ yếu là nước máy trực tiếp chiếm 84,6%, nước chín chỉ đạt 15,4%. Dung dịch rửa tay vô khuẩn được sử dụng nhiều nhất là Microshield với 76,9%, dung dịch ngâm tay là cồn 70 độ chiếm 92,3%. Bàn chải đánh tay được hấp ướt đạt 53,8% và ngâm dung dịch sát khuẩn chiếm 46,2%.

Kết quả phỏng vấn định tính về công tác quản lý: Toàn bộ 3/3 lãnh đạo Ban Giám đốc và 19/21 lãnh đạo khoa phòng (chiếm 90,5%) khẳng định bệnh viện duy trì thường xuyên các lớp tập huấn kiểm soát nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, có 9,5% ý kiến từ lãnh đạo khoa thừa nhận một bộ phận nhân viên y tế vẫn còn thái độ chủ quan, chưa thực sự chú trọng thực hành vệ sinh tay thường xuyên.

Thảo luận kết quả

Thực trạng cơ sở vật chất tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La cho thấy sự nỗ lực lớn của ban lãnh đạo khi đạt tỷ lệ 100% khoa phòng có điểm rửa tay thường quy. Con số này cao hơn đáng kể so với mức trung bình 37,6% buồng bệnh có bồn rửa tay theo khảo sát tại nhiều bệnh viện phía Bắc trước đây.

Tuy nhiên, việc có tới 50,0% vòi nước là dạng khóa vặn tay tiềm ẩn nguy cơ tái nhiễm khuẩn bàn tay ngay sau khi khóa vòi. Đáng chú ý, tỷ lệ sử dụng xà phòng bánh lên tới 94,5% và việc sử dụng khăn bông dùng chung chiếm 83,3% là những mắt xích yếu trong kiểm soát nhiễm khuẩn. Xà phòng bánh trong môi trường ẩm ướt và khăn bông dùng nhiều lần là nơi tích tụ vi khuẩn vãng lai, làm giảm đáng kể hiệu quả diệt khuẩn vốn có thể làm giảm từ 1,8 đến 2,8 log vi khuẩn khi rửa tay đủ 30 giây.

Đối với rửa tay vô khuẩn, việc có 76,9% bồn lavabo đặt chung trong phòng thủ thuật và 84,6% dùng nước máy chưa qua hệ thống lọc vô khuẩn hoặc tia cực tím là nguy cơ gây nhiễm khuẩn vết mổ. So sánh với các nghiên cứu tại các bệnh viện trung ương, tỷ lệ trang bị khăn giấy dùng một lần và xà phòng lỏng có chứa chất dưỡng da tại các bệnh viện tuyến tỉnh miền núi vẫn còn khoảng cách lớn do giới hạn nguồn kinh phí thường xuyên.

Để trực quan hóa các kết quả này trong báo cáo quản lý, dữ liệu có thể được trình bày bằng biểu đồ cột so sánh tương quan giữa tỷ lệ vòi gạt và vòi vặn tay, kết hợp biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu hóa chất rửa tay và bảng ma trận đánh giá năng lực kiểm soát nhiễm khuẩn giữa hệ nội và hệ ngoại.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực tiễn thu thập được, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện công tác vệ sinh tay tại bệnh viện:

Nâng cấp đồng bộ hạ tầng bồn rửa tay: Thay thế toàn bộ 100% vòi nước vặn tay bằng vòi có cần gạt khuỷu tay hoặc vòi cảm ứng tự động tại 18 khoa lâm sàng; tiến hành cải tạo, ngăn tách riêng biệt các bồn rửa tay vô khuẩn ra khỏi buồng thủ thuật tại 10 khoa lâm sàng chưa đạt chuẩn trước quý 2 năm 2019. Trách nhiệm thực hiện thuộc về Phòng Hành chính Quản trị phối hợp cùng Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn.

Chuẩn hóa vật tư tiêu hao và dung dịch sát khuẩn: Loại bỏ hoàn toàn xà phòng bánh tại các lavabo lâm sàng, thay thế 100% bằng dung dịch xà phòng lỏng sát khuẩn; lắp đặt các giá đựng dung dịch cồn sát khuẩn nhanh tại 100% đầu giường bệnh nhân nặng và xe tiêm; chuyển đổi từ khăn bông dùng chung sang hộp cấp khăn giấy dùng một lần tại 18 khoa lâm sàng trước quý 3 năm 2019. Trách nhiệm thực hiện do Phòng Vật tư Thiết bị y tế chủ trì.

Tổ chức đào tạo lại và chuẩn hóa kỹ thuật: Xây dựng chương trình tập huấn định kỳ 3 tháng một lần về quy trình 6 bước rửa tay thường quy và 9 bước rửa tay vô khuẩn cho toàn bộ 285 bác sĩ và điều dưỡng; phấn đấu nâng tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức và thực hành đạt yêu cầu lên trên 85% trong năm 2019. Trách nhiệm thực hiện thuộc về Phòng Kế hoạch Tổng hợp và Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn.

Thiết lập cơ chế kiểm tra và giám sát thường xuyên: Ban hành quy chế giám sát định kỳ và đột xuất tối thiểu 2 lần mỗi tuần tại các khoa lâm sàng; đưa tiêu chí tuân thủ 5 thời điểm vệ sinh tay vào bảng đánh giá thi đua và xếp loại KPI hàng tháng của từng cá nhân và tập thể khoa phòng, hướng tới duy trì tỷ lệ tuân thủ chung trên 70% từ cuối năm 2019. Trách nhiệm thực hiện thuộc về Hội đồng Kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và số liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

Ban Giám đốc và Hội đồng Kiểm soát nhiễm khuẩn các bệnh viện: Giúp các nhà lãnh đạo nắm bắt bức tranh toàn diện về những thiếu hụt hạ tầng phổ biến tại bệnh viện tuyến tỉnh, từ đó có căn cứ phân bổ ngân sách mua sắm trang thiết bị, hóa chất sát khuẩn và khăn giấy một cách tối ưu.

Trưởng khoa lâm sàng và Điều dưỡng trưởng: Cung cấp tài liệu thực tiễn để rà soát quy trình làm việc tại khoa phòng, nhận diện những khâu có nguy cơ lây nhiễm chéo cao và triển khai các bảng kiểm giám sát nội bộ hàng ngày cho nhân viên dưới quyền.

Cán bộ quản lý y tế và chuyên viên các Sở Y tế: Cung cấp dữ liệu thực tế phục vụ công tác xây dựng hướng dẫn kiểm tra, đánh giá chất lượng bệnh viện theo Bộ tiêu chí của Bộ Y tế và lập kế hoạch đầu tư hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn cho các cơ sở y tế công lập trên địa bàn.

Giảng viên, học viên sau đại học và sinh viên ngành Quản lý y tế, Y tế công cộng: Là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu kết hợp định lượng mô tả cắt ngang và định tính phỏng vấn sâu, cung cấp khung phương pháp luận chuẩn mực để triển khai các đề tài nghiên cứu can thiệp kiểm soát nhiễm khuẩn.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao việc sử dụng xà phòng bánh chiếm tới 94,5% lại là nguy cơ lớn trong kiểm soát nhiễm khuẩn?

Xà phòng bánh khi đặt trong môi trường ẩm ướt tại bồn rửa thường xuyên bị đọng nước, tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn vãng lai và nấm phát triển ngay trên bề mặt. Khi nhiều nhân viên y tế cùng sử dụng chung một bánh xà phòng, nguy cơ lây truyền chéo vi sinh vật giữa các lần rửa tay tăng cao, làm mất đi hiệu lực bảo vệ của quy trình vệ sinh.

Thời gian rửa tay thường quy tối thiểu là bao lâu để đảm bảo loại bỏ vi khuẩn hiệu quả?

Thời gian chà tay đúng kỹ thuật với hóa chất tối thiểu từ 20 đến 30 giây và tổng thời gian thực hiện đầy đủ 6 bước rửa tay thường quy dao động từ 30 đến 60 giây. Các thử nghiệm vi sinh chứng minh rửa tay đủ 30 giây giúp làm giảm mật độ vi khuẩn từ 1,8 đến 2,8 log CFU, cao hơn rõ rệt so với rửa dưới 15 giây chỉ giảm được từ 0,6 đến 1,1 log CFU.

Quy mô giường bệnh và lưu lượng khám chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La là bao nhiêu?

Bệnh viện có quy mô 500 giường bệnh kế hoạch nhưng thực tế phải kê tới 569 giường để đáp ứng nhu cầu điều trị. Trung bình mỗi tháng, bệnh viện tiếp nhận 1.370 bệnh nhân điều trị nội trú và thực hiện khám cho 15.150 lượt người bệnh ngoại trú tại 18 khoa lâm sàng.

Sự khác biệt cốt lõi giữa rửa tay thường quy và rửa tay vô khuẩn ngoại khoa là gì?

Rửa tay thường quy thực hiện trong 30 đến 60 giây qua 6 bước bằng xà phòng hoặc dung dịch cồn nhằm loại bỏ vi khuẩn vãng lai. Rửa tay vô khuẩn ngoại khoa kéo dài từ 3 đến 6 phút qua 9 bước, sử dụng dung dịch chuyên dụng như Microshield hoặc Chlorhexidine kết hợp đánh kẽ móng tay để loại bỏ cả vi khuẩn vãng lai và vi khuẩn định cư sâu trong da trước phẫu thuật.

Những rào cản chính ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế là gì?

Có ba rào cản chính gồm: sự thiếu thốn phương tiện tiện ích tại buồng bệnh như thiếu dung dịch cồn đầu giường, áp lực công việc quá tải khi số lượt chăm sóc tăng cao khiến tỷ lệ tuân thủ giảm khoảng 5% sau mỗi 10 cơ hội tăng thêm mỗi giờ, và tình trạng kích ứng da tay do sử dụng hóa chất không chứa chất dưỡng ẩm.

Kết luận

Những kết luận cô đọng và giá trị đóng góp từ công trình nghiên cứu bao gồm:

  • Khảo sát tại 18 khoa lâm sàng ghi nhận 100% khoa có bồn rửa tay thường quy dùng nước máy, nhưng còn tồn tại 50,0% vòi vặn tay thủ công và 94,5% khoa sử dụng xà phòng bánh chưa đạt chuẩn vô khuẩn.
  • Tỷ lệ thực hiện rửa tay vô khuẩn đạt 72,2% tại 13 khoa, tuy nhiên có tới 76,9% bồn rửa vô khuẩn đặt chung trong buồng thủ thuật và 84,6% dùng nước máy chưa qua xử lý tiệt trùng.
  • Toàn bộ 285 cán bộ y tế trực tiếp khám chữa bệnh thể hiện nhận thức tích cực về vai trò phòng chống nhiễm khuẩn, song cần tiếp tục được đào tạo thực hành để chuyển hóa thành thói quen tuân thủ thường xuyên.
  • Nghiên cứu định tính khẳng định sự thống nhất cao của 100% ban lãnh đạo và hơn 90% trưởng khoa trong việc ưu tiên nâng cấp hạ tầng kiểm soát nhiễm khuẩn.
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của luận văn là cung cấp bộ dữ liệu thực tế toàn diện đầu tiên về thực trạng cơ sở vật chất và thực hành vệ sinh tay tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La, tạo cơ sở thực chứng vững chắc cho công tác quản lý y tế tại địa phương.

Lộ trình hành động tiếp theo trong giai đoạn 2019 - 2020 là hoàn thành việc thay thế xà phòng lỏng, bổ sung dung dịch cồn sát khuẩn nhanh tại 569 giường bệnh và duy trì giám sát định kỳ 3 tháng một lần. Ban lãnh đạo và toàn thể nhân viên y tế cần xem việc tuân thủ vệ sinh tay là mệnh lệnh hàng đầu để bảo vệ an toàn tính mạng người bệnh và nâng cao uy tín chất lượng của bệnh viện.