CHƯƠNG 1. Vẩu xương ổ răng 1. Định nghĩa vẩu xương ổ răng Theo Riolo và Avery, Vẩu xương ổ răng hai hàm là khi các răng phía trước của hai hàm ở vị trí phía trước so với giới hạn bình thường của nền xương.Vẩu xương ổ răng hàm trên là khi các răng phía trước của hàm trên ở vị trí phía trước so với giới hạn bình thường của nền xương.Vẩu xương ổ răng hàm dưới là khi các răng phía trước của hàm dưới ở vị trí phía trước so với giới hạn bình thường của nền xương[26]. Vẩu xương ổ răng hai hàm (Bimaxillary protrusion- BP) khá phổ biến ở một số chủng tộc như US mexico, Ấn độ, Nhật bản và Trung quốc [11, 16, 19, 21].
Ba dấu hiệu cổ điển của loại biến dạng này gồm môi nhô khi nhìn nghiêng, môi không khép kín và môi bị căng. Để chẩn đoán biến dạng này thì phải có cả ba dấu hiệu trên [7]. Vẩu xương ổ răng hai hàm có thể được chẩn đoán từ độ tuổi có hàm răng hỗn hợp. Loại biến dạng này có liên quan tới sai khớp cắn trước- sau do xương loại I, II, III.
Đặc điểm lâm sàng và sọ mặt của vẩu xương ổ răng 1. Mặt thẳng Môi khép không kín: Bình thường, ở trạng thái nghỉ hai môi hơi chạm nhau, cơ quan quanh miệng hoàn toàn thư giãn, răng trên lộ khoảng 1-5mm. Nếu bệnh nhân vẩu, tùy thuộc vào mức độ nhô của răng cửa sẽ dẫn tới tình trạng môi khép không kín, do đó khi bệnh nhân cố khép kín môi sẽ dẫn tới tăng trương lực cơ cằm, làm mất đường cong mềm mại của môi và cằm [66, 83] Ngoài độ vẩu chiều dài của răng và xương thì chiều dài môi, tuổi giới, chủng tộc[86] cũng ảnh hưởng đến mức độ lộ của răng cửa. Chiều dài môi trên trung bình 19-22 mm được đo từ từ nền mũi (Sn) đến bờ môi trên [92].
Các cá thể có chiều dài môi trên tăng giảm độ lộ răng cửa trên. Nếu môi trên ngắn <18mm làm khoảng hở giữa hai môi tăng, lộ răng cửa nhiều ở tư thế nghỉ, đồng thời có cười hở lợi đi kèm mặc dù chiều cao tầng mặt dưới bình thường và bệnh nhân không vẩu răng hay xương. Nghiên cứu của Vig và Brundo [90] chỉ ra tuổi của bệnh nhân ảnh hưởng tới mức độ lộ răng cửa ở tư thế nghỉ. Tuổi trẻ phai có lộ răng cửa nhiều hơn so với khi tuổi già.
Quá trình lão hóa tự nhiên sẽ dẫn tới mất trương lực các cơ vùng mặt và giảm độ đàn hồi của môi trên. Do vậy khi tuổi càng tăng thì độ lộ răng cửa trên 3 Hieu.rang giảm và độ lộ răng cửa dưới tăng. Bên cạnh đó, mức độ lộ răng cửa còn liên quan đến giới tính. Nữ giới có răng cửa lộ nhiều hơn so với nam giới [82].
Mặt nghiêng Kiểu mặt Kiểu mặt lồi: Đường đi thẳng đi từ Gla đến Sn và đường thẳng từ Sn đến Pog’ phần mềm cắt nhau tạo thành một góc Sn-Gn-Pog’. Mặt lồi nếu đỉnh góc quay ra trước, mặt lõm nếu đỉnh góc quay ra sau và mặt thẳng nếu hai đường thẳng trùng nhau (Hình 1. Mặt lõm biểu hiện của vẩu hàm dưới hay lùi hàm trên hay kết hợp cả hai. Theo tiêu chuẩn người da trắng, mặt thẳng là kiểu mặt bình thường.
Kiểu mặt lồi là biểu hiện của vẩu xương ổ răng hai hàm. Tuy nhiên mức độ lồi của mặt còn phụ thuộc vào từng chủng tộc [36]. Người Châu Phi, châu Á có kiểu mặt lồi hơn so với bình thường người da trắng. Nghiên cứu của G.William Arnett [33] Giá trị trung bình 169,30 ± 3,400.
Võ Trương Như Ngọc [2] nghiên cứu về khuôn mặt hài hòa của người Việt Nam lứa tuổi trưởng thành 18-25: góc Gl-Sn-Pg’trung bình 168,62 ± 5,960 (Nam) và 171,17± 4,520 (Nữ). Nếu bệnh nhân có vẩu hai hàm góc này sẽ giảm. Các kiểu mặt[36] A: Kiểu mặt lồi, B: kiểu mặt trung tính, C: Kiểu mặt lõm. Nghiên cứu của Eugene K.
Chan [37] về quan điểm thẩm mỹ đối với mặt nghiêng của người châu Á để từ đó có chẩn đoán chính xác và kế hoạch điều trị phù hợp cho thấy kiểu mặt nghiêng bình thường (D) là kiểu mặt được đánh giá thẩm mỹ cao nhất và vẩu hai hàm (A) là kiểu mặt được cho kém thẩm mỹ nhất (Hình 1.2) ở cả ba kênh đánh giá: người không chuyên môn, sinh viên nha khoa, bác sĩ chỉnh răng. Do vậy, kiểu mặt nghiêng D là mục tiêu của điều trị. Các kiểu mặt nghiêng [38] Góc mũi môi Góc mũi môi nhọn nhỏ hơn giá trị trung bình: Bình thường: 115 ±50. Góc mũi môi không chỉ bị ảnh hưởng bởi chức năng của một vài đặc điểm giải phẫu như độ nghiêng của trụ mũi, chiều dài nhân trung mà nó còn phản ánh mức độ ngả ra trước hay vẩu của răng cửa trên.
Vẩu hàm trên có xu hướng làm cho góc này nhọn, góc mũi môi càng nhỏ thì vẩu càng nặng và ngược lại góc mũi môi tù hơn khi độ ngả ra trước của răng cửa giảm [62]. Nghiên cứu Anic-Milosevic [69]: TB109,390(nam), 105,420(nữ). Nghiên cứu của Lew trên người Trung Quốc có khuôn mặt đẹp hài hòa và khớp cắn chuẩn cho kết quả góc mũi môi TB 95 ± 30 [65]. Việt Nam: Lê Gia Vinh và Trần Huy Hải: giá trị TB 95,4(nữ) và 93,2 ở nam.
Và theo hai tác giả này khi góc mũi môi < 930 có dấu hiệu của vẩu hàm trên [6]. Theo nghiên cứu của Võ Trương Như Ngọc đối với khuôn mặt hài hòa góc mũi môi có giá trị 91,67± 7,550 (nam); 97,41 ± 8,000 (nữ), giá trị trung bình cho cả hai giới 94,490 [2]. Đặc điểm khớp cắn 1. Lệch lạc khớp cắn theo chiều trước- sau Khớp cắn bình thường: Đỉnh múi ngoài gần răng hàm lớn thứ nhất hàm trên khớp với giãnh ngoài răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới.
Đường cắn bình thường. Các răng xắp thẳng đều đặn trên cung hàm. Lệch khớp cắn Angle I: Đỉnh múi ngoài gần răng hàm lớn thứ nhất hàm trên khớp với rãnh ngoài răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới. Đường cắn sai do răng xoay, mọc sai vị trí hay do các nguyên nhân khác (Hình 1.
Bệnh nhân có thể có cắn chìa tăng hoặc giảm, đôi khi có cắn chéo một hay nhiều răng ở phía trước [47]. Lệch lạc theo 3 chiều trong không gian có thể chỉ có đơn thuần răng hoặc xương hay kết hợp cả hai [31]. Theo thuyết bù trừ của Enlow [43] thường lệch lạc răng và xương sẽ đi kèm với nhau, nhưng sẽ có một yếu tố nổi trội chiếm ưu thế hơn yếu tố còn lại. Các loại lệch lạc khớp cắn A) Lệch lạc khớp cắn loại I; B) Lệch lạc khớp cắn loại II; C)Lệch lạc khớp cắn loại III [63].
Lệch lạc khớp cắn loại II: Khớp cắn có đỉnh núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên ở phía gần so với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới (Hình 1. Lệch lạc khớp cắn loại III: Núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên ở phía xa so với rãnh ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới. Các răng cửa dưới có thể ở phía ngoài các răng cửa trên (cắn ngược vùng cửa) ((Hình 1. Lệch lạc khớp cắn theo chiều dọc Sai lệch khớp cắn Angle I thường đi kèm với các lệch lạc khác như khớp cắn sâu, cắn hở hay lệch đường giữa (Hình 1.
Sai lệch khớp cắn Angle I, khớp cắn hở và lệch đường giữa [32]. Lệch lạc khớp cắn theo chiều ngang Bệnh nhân có thể có tương quan khớp cắn phía sau bình thường nhưng cũng có thể có hẹp hàm dẫn tới khớp cắn chéo phía sau (Hình 1. Lệch lạc khớp cắn trong từng cung hàm Răng khấp khểnh, răng xoay, thừa thiếu răng, răng mọc kẹt ngầm hay lạc chỗ, Hình 1. Sai lệch khớp cắn Angle I có cắn chéo phía sau hai bên[10].rang răng dị dạng là các đặc điểm thường gặp trong sai lệch khớp cắn Angle [4].
Ngoài ra có thể gặp cung hàm hẹp hay mất cân xứng (Hình 1. Tuy nhiên các lệch lạc khác trong cùng một cung hàm hay các bất thường giữa hai cung hàm có thể gặp ở bất kỳ sai lệch khớp cắn Angle nào chứ không chỉ ở sai lệch khớp cắn Angle I. Hàm trên hẹp,răng khấp khểnh xoay trục, răng nanh hàm trên bên trái mọc kẹt phía tiền đình [10]. Lệch lạc khớp cắn có thể xảy ra ở bất kỳ răng nào và bất kể tương quan theo các chiều trong không gian nên không chỉ lệch lạc răng và hàm theo chiều trước sau mà còn theo chiều dọc và chiều ngang.
Sự kết hợp lệch lạc theo các chiều làm cho bức tranh toàn cảnh về sai lệch khớp cắn đa dạng và phong phú. Đặc điểm sọ mặt trên phim sọ nghiêng 1. Vẩu răng cửa trên và răng cửa dưới Trục răng cửa trên, trục răng cửa dưới so với nền sọ hay so với nền xương hàm tương ứng đều ngả ra trước hơn so với gía trị trung bình [34, 56, 58]. Răng cửa trên và răng cửa dưới bị nằm xa ở phía trước so với nền xương.
Khoảng cách từ rìa cắn răng cửa trên đến đường APog hay NA cũng như khoảng cách từ rìa cắn răng cửa dưới đến đường APog hay NB lớn hơn so với bình thường (TB1 ± 2mm và 3,5 ± 2,3mm) [38, 51, 79]. Góc liên trục răng cửa trên và răng cửa dưới giảm. Tương quan giữa hai răng cửa trên và dưới được đánh giá bằng chỉ số góc trục liên răng cửa (II), Trung bình 1300 (người da trắng) [83] 128,2 ± 7,30 (Trung Quốc) [65]. Khi góc này giảm, hoặc răng cửa trên hoặc răng cửa dưới hoặc cả hai bị ngả ra trước hơn so với bình thường.
Ngoài đánh giá vị trí trước sau của răng cửa trên và răng cửa dưới góc này còn ảnh hưởng đến độ hài hòa của môi. Nếu góc này nhọn chứng tỏ ít nhất hoặc răng cửa trên hoặc răng cửa dưới ngả ra trước làm cho môi nhô ra trước. Ngược lại nếu trục răng cửa ngả trong làm cho góc này tù. Vị trí xương hàm Xương hàm trên hơi nhô ra trước và có cằm hơi lùi ra sau, tương quan xương hai hàm loại II [56] Kết quả nghiên cứu của Lamberton ở người Thái Lan cho thấy không có sự khác khau về vị trí của xương hàm đối với bệnh nhân có vẩu hay không có vẩu răng [58].
Vị trí xương hàm trên so với nền sọ thể hiện qua góc SNA: Trung bình 82 ± 20. Võ Trương Như Ngọc nghiên cứu khuôn mặt hài hòa trên lứa tuổi 18-25 cho thấy, SNA TB 83,63±1,910 (Nam) và 83,09 ± 2,440 (Nữ); SNB TB 80,89 ± 3,170 (Nam) và 80,02 ± 3,320 (Nữ) [2].