ĐẶT VẤN ĐỀ Dựa trên thống kê của Globocan (2018), ung thư vòm họng là một dạng ung thư phổ biến ở Việt Nam với tỷ lệ tử vong khá cao lên đến 3,9% dân số vào năm 2012. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến ung thư vòm họng, bao gồm: sự xâm nhiễm EBV, yếu tố môi trường, các hiện tượng epigenetics (methyl hóa, miRNA, sự biến đổi protein histon),. Trong đó, miRNA đang được các nhà khoa học nghiên cứu chuyên sâu gần đây, là một họ các phân tử RNA không mã hóa (non-coding RNAs), chiều dài khoảng 21 nucleotide, được bảo tồn cao và được tìm thấy rộng rãi ở động vật, thực vật, động vật nguyên sinh và virus. miRNA điều hòa biểu hiện gene bằng cách gắn vào vùng 3'- UTR của các mRNA mục tiêu của chúng, kết quả là gây ra sự ức chế và giảm biểu hiện của mRNA, được chứng minh là liên quan đến một loạt các quá trình sinh học như tế bào phân chia, phát triển, biệt hóa, apoptosis, di căn, phản ứng stress,.
Trong những thập kỷ qua, nhiều công trình đã chứng minh rằng các miRNA liên quan đến các vai trò Oncogene và Tumor suppressor. Sự biểu hiện bất thường (tăng biểu hiện hoặc giảm biểu hiện) của miRNA góp phần vào quá trình hình thành khối u ở người. Với các tính chất biểu hiện đặc trưng, đặc biệt cho nhiều loại bệnh ung thư, cùng với hai tính chất nổi bật khác, đó là tính lưu thông trong nhiều loại dịch thể và tính bền, microRNA đã nhanh chóng được chú ý đến như là một dấu chứng sinh học rất tiềm năng, ứng dụng trong tiên lượng và chẩn đoán sớm ung thư. Sự xâm nhiễm của Epstein-Barr virus là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến UTVH.
Trong đó, các công trình nghiên cứu trên thế giới về tính đa hình của các gene EBV đã được quan tâm nhằm xây dựng và phát triển một dấu chứng sinh học tiềm năng trong chẩn đoán sớm UTVH, đồng thời các biến thể cung cấp cơ sở cho các nghiên cứu về chức năng hoạt động và cơ chế phát sinh ung thư vòm họng. Ngoài ra, tính đa hình còn cho phép xác định sự phân bố địa lý của các chủng EBV đặc trưng cho từng vùng, khu vực khác nhau. Mặt khác, các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam chỉ tập trung nghiên cứu về tính đa hình của một số họ gene đặc trưng của EBV như: EBNAs, LMPs, EBERs; rất ít công trình nghiên cứu về họ gene BARTs, nên giới hạn tầm nhìn về sự đa dạng toàn bộ bộ gene của EBV. Do đó, nghiên cứu về tính đa hình một số gene của EBV hiện đang là một hướng mới mang lại nhiều hứa hẹn trong lĩnh vực này.
Hơn nữa, tại Việt Nam, việc nghiên cứu này còn khá mới mẻ, do đó, việc tìm hiểu về 1 tính đa hình một số gene của EBV, cụ thể trong nghiên cứu này là họ gene RPMS1 trên bệnh UTVH sẽ giúp hiểu rõ hơn về nguyên nhân hình thành UTVH liên quan đến EBV. Cùng với đó, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về tính chất biểu hiện của miRNA trên nhiều loại ung thư khác nhau. Tuy nhiên, tại Việt Nam vẫn chưa có bất kì nghiên cứu nào về miRNA, cũng như tìm hiểu về tính chất biểu hiện của miRNA (cụ thể ở đây là miRNA-141). Vì vậy, nhóm nghiên cứu quyết định thực hiện đề tài “Nghiên cứu tính chất biểu hiện của miR-141 và tính đa hình gene RPMS1 trên bệnh nhân ung thư vòm họng tại Việt Nam”.
Mục tiêu tổng quát: Khảo sát một số tính chất phân tử trên bệnh nhân ung thư vòm họng tại Việt Nam, cụ thể là tính chất đa hình gene RPMS1 và tính chất biểu hiện của miRNA-141. Đề tài này hướng tới việc xây dựng cơ sở dữ liệu phân tử ban đầu về sự biểu hiện của phân tử miRNA-141 và các biến thể trên gene RPMS1 của EBV trên bệnh ung thư vòm họng Việt Nam. Kết quả nghiên cứu này sẽ bổ sung vào cơ sở dữ liệu phân tử về bệnh UTVH ở Việt Nam, từ đó, hướng tới việc sử dụng các dữ liệu phân tử này làm dấu chứng sinh học tiềm năng có thể ứng dụng trong sàng lọc, chẩn đoán sớm bệnh UTVH trên cộng đồng người Việt Nam. Dựa trên mục tiêu tổng quát, chúng tôi xác định các mục tiêu cụ thể sau: (1) Ứng dụng các công cụ Tin – Sinh học (Bioinformatics tools) để phân tích, thống kê minh chứng cho việc miR-141 có vai trò quan trọng trong việc hình thành khối u vòm họng; Dự đoán gene đích tương tác trực tiếp với miR-141.
Cùng với đó, ghi nhận tần số phát hiện của miRNA-141 và tần số xuất hiện của các biến thể trên gene RPMS1 trong UTVH. Từ đó, làm cơ sở cho các nghiên cứu thực nghiệm trên chính cộng đồng người Việt Nam. (2) Thiết lập quy trình bắt đầu từ tách chiết miRNA và DNA đến việc phát hiện phân tích tính chất biểu hiện của miR-141 bằng kỹ thuật Real-Time PCR; phát hiện các biến thể bằng kỹ thuật PCR và giải trình tự. (3) Bước đầu khảo sát tính chất biểu hiện của miR-141 và tính đa hình gene RPMS1 trên chính mẫu bệnh phẩm ung thư vòm họng trên bệnh nhân người Việt Nam, so với người chẩn đoán không bị ung thư vòm họng.
2 PHẦN I TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ UNG THƯ 1. Khái niệm về ung thư Ung thư là một nhóm các bệnh liên quan đến việc phân chia tế bào một cách mất kiểm soát (uncontrolled division). Các tế bào ung thư có khả năng di chuyển, xâm lấn đến các cơ quan khác, phát triển khối u mới thông qua hệ bạch huyết và mạch máu, tiến trình này gọi là di căn [1].
Về phân loại ung thư được chia làm năm nhóm chính sau: [1] Ung thư biểu mô (Carcinoma): ung thư bắt nguồn trong da hay các mô lót phủ trong các cơ quan của cơ thể, chẳng hạn như ung thư da, ung thư cổ tử cung, ung thư vòm họng, ung thư gan,…. [2] Bệnh bạch cầu (Leukemia): ung thư bắt nguồn từ trong mô máu như tủy xương, sản xuất lượng lớn các tế bào máu bất thường; [3] Ung thư mô liên kết (Sarcoma): đây là loại ung thư hiếm gặp, bắt nguồn từ xương, sụn, mạch máu hay các mô liên kết khác; [4] Ung thư hệ thần kinh: ung thư bắt nguồn từ trong các mô hệ thần kinh, não và tủy sống. Tình hình ung thư trên thế giới và Việt Nam Theo thống kê của Globocan năm 2018, số ca ung thư mắc mới trên thế giới đạt khoảng 18 triệu ca, số ca tử vong lên đến 9,6 triệu [2]. Đứng đầu trong các quốc gia có tỉ lệ mắc và tử vong do ung thư là Trung Quốc.
Các quốc gia tiếp theo là: Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và Đức [2]. Tỷ lệ tử vong do các loại ung thư năm 2018. 5 Đến nay, số lượng ca ung thư trên thế giới ngày càng tăng và trở thành một vấn đề cấp thiết toàn cầu. Tại Việt Nam, theo thống kê của Globocan năm 2018, Việt Nam có khoảng 164.671 ca mắc mới và trên 114.871 trường hợp tử vong do ung thư.
Theo dự đoán của Globocan 2018, ước tính đến năm 2040 số ca mắc mới và tử vong do ung thư tại Việt Nam lần lượt là 285. TỔNG QUAN VỀ UNG THƯ VÒM HỌNG 2. Sơ lược về ung thư vòm họng Ung thư vòm họng (UTVH) là khối u ác tính xuất phát từ lớp biểu mô vòm họng [3]. UTVH chiếm tỷ lệ cao trong các loại ung thư ở vùng đầu, cổ và họng.
Về vị trí của ung thư ở vùng vòm mũi họng, là nơi tiếp giáp mũi, họng và chỗ đổ của ống vòi nhĩ (ống thông giữa tai và mũi họng), nên khi ung thư xâm lấn sẽ có triệu chứng liên quan đến các cơ quan này. Một số triệu chứng ở tai bao gồm: nghe kém, ù tai, đặc biệt chỉ xảy ra một bên; triệu chứng ở mũi bao gồm chảy máu mũi, nghẹt; triệu chứng ở họng được ghi nhận là khạc ra máu [3]. Vị trí giải phẫu của ung thư vòm họng Phần lớn các trường hợp phát hiện UTVH hầu hết ở giai đoạn muộn. Tại Singapore, phần lớn bệnh nhân lớn tuổi thường được chẩn đoán mắc UTVH ở giai đoạn 2 hoặc giai đoạn 3, có nguy cơ tái phát cao hơn và tỷ lệ sống sót thấp hơn [5].
Trong các thập kỷ vừa qua, việc điều trị UTVH đã được cải thiện đáng kể với sự ra đời đồng thời của các phương pháp hóa trị và xạ trị. Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân di căn vẫn còn khoảng 25-34% và tỷ lệ sống sót của những bệnh nhân này vẫn còn thấp [6, 7]. Một điều quan trọng là UTVH có khả năng 6 chữa lành hoàn toàn trong giai đoạn đầu. Do đó, việc tìm kiếm một dấu chứng sinh học để chẩn đoán sớm UTVH trong giai đoạn đầu là rất cần thiết.
UTVH là một căn bệnh ác tính và tỷ lệ mắc bệnh của UTVH phụ thuộc vào sự phân bố địa lý và chủng tộc [4]. Một số nhóm dân tộc có nguy cơ cao mắc UTVH, ví dụ: Bidayuh trên đảo Borneo, Nagas ở miền Bắc Ấn Độ và Inuits ở Bắc Cực [4]. Đàn ông có khả năng mắc UTVH cao gấp hai đến ba lần so với phụ nữ. Độ tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là từ 50 đến 60 tuổi.
Người cao tuổi có nguy cơ tái phát cao hơn và cũng có tỷ lệ sống thấp hơn. Mặt khác, tỷ lệ tử vong cao nhất do UTVH đã được ghi nhận ở những người trên 85 tuổi [4]. Cùng với đó, UTVH có sự phân bố địa lý không đồng đều trên thế giới, chủ yếu tập trung tại khu vực Châu Á và Châu Phi [4]. Theo thống kê của Globocan 2018, 84,7% trường hợp mắc ung thư vòm họng xảy ra ở châu Á và 5,4% ở châu Phi [2].
UTVH rất phổ biến tại Châu Á (đặc biệt là Trung Quốc và Đông Nam Á) [8] [8] [8] [9] [8] (8). Theo Globocan năm 2018, số ca UTVH trên thế giới là 129.079 ca, số lượng ca tử vong lên đến 72. Quốc gia có số ca UTVH cao nhất là Trung Quốc (60.992 ca), Việt Nam (6.212 ca) và India (5. Các quốc gia có tỷ lệ mắc UTVH cao nhất [2] Ở Việt Nam, ung thư vòm họng là loại ung thư đứng đầu trong các loại ung thư vùng đầu cổ.
Ngoài ra, UTVH nằm trong 10 loại ung thư phổ biến nhất Việt Nam, với tỉ lệ mắc bệnh tính đến năm 2018 là 5,7% và tỉ lệ tử vong hằng năm là 3,9% [1]. Tỷ lệ số ca mắc và tỷ lệ tử vong do ung thư tại Việt Nam 2.