Tổng quan nghiên cứu

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm toàn cầu ghi nhận gần 800.000 trường hợp tử vong do tự tử, tương đương với việc cứ mỗi 40 giây lại có 1 người tự tước đi sinh mạng. Đáng chú ý, tự tử là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 2 ở nhóm thanh niên từ 15 đến 29 tuổi, trong đó hơn 79% các vụ việc tập trung tại những quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Tại môi trường đào tạo chuyên nghiệp, sinh viên y khoa chịu áp lực học tập và thực hành lâm sàng vô cùng lớn; một tổng quan hệ thống từ 17 nghiên cứu quốc tế ghi nhận tỷ lệ sinh viên y khoa có ý nghĩ tự tử dao động ở mức báo động từ 1,8% đến 53,6%. Tại Việt Nam, các rào cản văn hóa phương Đông cùng định kiến xã hội sâu sắc khiến các vấn đề sức khỏe tâm thần và tự tử thường bị che giấu, cản trở người bệnh tiếp cận sự trợ giúp chuyên môn kịp thời.

Trước bối cảnh đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Y học Dự phòng của tác giả Bùi Bình Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, đã thực hiện đề tài nhằm xác định mức độ kì thị, sự hiểu biết về tự tử và phân tích các yếu tố liên quan ở sinh viên y đa khoa trong giai đoạn từ tháng 10/2020 đến tháng 11/2021. Nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược khi lần đầu tiên chuẩn hóa hai thang đo quốc tế uy tín (SOSS-SF và LOSS-SF) sang phiên bản tiếng Việt, cung cấp bộ dữ liệu dịch tễ học tin cậy để các cơ sở đào tạo y khoa và cơ quan quản lý y tế thiết lập những can thiệp tâm lý học đường chuẩn xác.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết nhận thức xã hội về kì thị của Sheehan, Nieweglowski và Corrigan (2017), phân định kì thị thành 3 cấu trúc cốt lõi: đóng khuôn (nhận thức), định kiến (cảm xúc) và phân biệt đối xử (hành vi). Mô hình này chia kì thị thành các cấp độ như kì thị từ cộng đồng, kì thị bản thân, né tránh do lộ diện, chính sách kì thị và kì thị cấu trúc.

Dựa trên nền tảng đó, đề tài khai thác Thang đo kì thị tự tử rút gọn (Stigma of Suicide Scale - Short Form, SOSS-SF) gồm 16 mục hỏi đánh giá 3 chiều kích: thái độ kì thị (Stigma), nhận thức tự tử do cô lập/trầm cảm (Isolation/Depression) và thái độ đề cao/ca ngợi tự tử (Glorification). Đồng thời, Thang đo hiểu biết về tự tử rút gọn (Literacy of Suicide Scale - Short Form, LOSS-SF) gồm 12 mục hỏi được áp dụng để đánh giá 4 khía cạnh tri thức: dấu hiệu cảnh báo, nguyên nhân/bản chất, yếu tố nguy cơ và các biện pháp điều trị/phòng chống. Cơ sở kiểm định tính giá trị và độ tin cậy được thiết lập chặt chẽ theo lý thuyết đo lường tâm lý học của Drost (2011), bảo đảm tính hằng định nội bộ và giá trị cấu trúc nhân tố.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang mô tả có phân tích. Dân số mục tiêu là toàn bộ sinh viên y đa khoa từ năm thứ nhất đến năm thứ sáu đang theo học tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh niên khóa 2020 - 2021. Cỡ mẫu tối thiểu được tính toán theo công thức ước lượng số trung bình với độ lệch chuẩn $\sigma = 1,85$ và sai số biên $d = 0,15$, xác định ngưỡng tối thiểu là 584 sinh viên.

Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được triển khai trực tuyến thông qua nền tảng REDCap bảo mật của nhà trường từ ngày 07/06/2021 đến ngày 27/06/2021. Bộ câu hỏi khảo sát cấu trúc gồm 59 câu được gửi đến 2.340 địa chỉ email sinh viên với cơ chế nhắc tự động 5 lần, thu về 656 phản hồi (tỷ lệ phản hồi đạt 28,0%), trong đó 650 phiếu hợp lệ được đưa vào xử lý dữ liệu bằng phần mềm thống kê Stata 14.

Nghiên cứu tiến hành đánh giá giá trị giao diện trên mẫu thử nghiệm 30 sinh viên năm thứ nhất trước khi khảo sát chính thức. Tính tin cậy nội bộ được đánh giá qua hệ số Cronbach's alpha và tương quan biến - tổng. Tính giá trị cấu trúc của thang đo SOSS-SF được kiểm định bằng phương pháp Phân tích nhân tố khẳng định (Confirmatory Factor Analysis - CFA). Các phép kiểm phi tham số Mann-Whitney, Kruskal-Wallis và hệ số tương quan Spearman được lựa chọn để phân tích mối liên quan đơn biến vì dữ liệu điểm số không tuân theo phân phối chuẩn. Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến Ordinary Least Squares (OLS) được thiết lập với các biến có $p < 0,2$ ở phân tích đơn biến nhằm kiểm soát yếu tố gây nhiễu và xác định các yếu tố liên quan độc lập. Đề tài được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt theo Giấy chấp thuận số 12/HĐĐĐ-ĐHYD ngày 20/01/2021.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình chuẩn hóa công cụ ghi nhận thang đo SOSS-SF phiên bản tiếng Việt đạt độ tin cậy nội bộ cao với hệ số Cronbach's alpha toàn thang là 0,84 (phân nhóm Kì thị đạt 0,91; Cô lập đạt 0,84; Đề cao đạt 0,86). Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) mô hình 3 nhân tố cho các chỉ số tương thích xuất sắc: RMSEA = 0,068 (khoảng tin cậy 90%: 0,061 - 0,075), SRMR = 0,053, TLI = 0,933 và CFI = 0,944. Thang đo LOSS-SF đạt độ tin cậy nội bộ chấp nhận được với Cronbach's alpha bằng 0,73.

Trong tổng số 650 sinh viên tham gia (độ tuổi trung bình 21 ± 2; nam giới chiếm 55,5% và nữ giới chiếm 44,2%), thực trạng sức khỏe tâm thần và trải nghiệm tự tử bộc lộ nhiều chỉ số đáng báo động:

  • Tỷ lệ sinh viên có triệu chứng trầm cảm mức độ vừa đến nặng (PHQ-9 $\ge 10$) là 12,0% (78 sinh viên) và rối loạn lo âu lan tỏa (GAD-7 $\ge 10$) là 8,1% (53 sinh viên).
  • Tỷ lệ từng có ý nghĩ tự tử trong đời lên tới 32,8% (213 sinh viên), trong đó 36,1% có ý nghĩ này trong vòng 12 tháng gần nhất. Có 6,9% (45 sinh viên) từng lập kế hoạch tự tử, 2,9% (19 sinh viên) từng cố gắng tự tử và 26,0% (169 sinh viên) từng có hành vi tự gây tổn thương bản thân.
  • Về trải nghiệm xã hội, 87,2% từng chứng kiến hoặc đọc thông tin tự tử qua truyền thông, 31,5% có người quen chia sẻ ý định tự tử và 13,2% từng trải qua nỗi đau mất người thân do tự tử.

Về mức độ kì thị và hiểu biết, điểm trung bình phân nhóm Kì thị là 19,5 ± 6,3; phân nhóm Cô lập là 14,9 ± 2,7 và phân nhóm Đề cao là 9,1 ± 3,0. Đáng lưu ý, vẫn còn 32,4% sinh viên đồng ý rằng người tự tử là vô trách nhiệm và 31,2% xem họ là yếu đuối. Về hiểu biết, có tới 67,4% sinh viên trả lời sai về mối liên hệ chặt chẽ giữa nghiện rượu và tự tử, 71,5% hiểu sai về tốc độ thay đổi ý định của người có ý định tự tử và 56,9% nhận thức sai lầm khi cho rằng người hay nói về tự tử thì hiếm khi thực hiện.

Thảo luận kết quả

Kết quả điểm số thang đo SOSS cho thấy mức độ kì thị ở sinh viên y đa khoa Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh tương đồng với các nghiên cứu tại Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng cao hơn đáng kể so với sinh viên tại Úc và Hoa Kỳ. Sự khác biệt này phản ánh tác động mạnh mẽ của chuẩn mực văn hóa Á Đông, nơi hành vi tự tử đôi khi bị đồng hóa với sự thiếu bản lĩnh hoặc vi phạm nghĩa vụ gia đình. Điểm số phân nhóm Cô lập chiếm ưu thế (14,9 ± 2,7) chứng minh phần lớn sinh viên đã nhận thức được nỗi cô đơn và trầm cảm là căn nguyên dẫn đến hành vi tự sát, đây là tiền đề thuận lợi để xây dựng sự thấu cảm lâm sàng.

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả qua sơ đồ cấu trúc nhân tố CFA, ma trận tương quan giữa điểm số kì thị và hiểu biết, cùng biểu đồ cột so sánh tỷ lệ ý nghĩ tự tử giữa các năm học. Sự thiếu hụt kiến thức chuyên biệt về yếu tố nguy cơ (như nghiện chất, tính bốc đồng) và tỷ lệ 32,8% sinh viên từng có ý nghĩ tự tử nhấn mạnh sự cần thiết phải lồng ghép nội dung phòng ngừa khủng hoảng tâm lý vào chương trình đào tạo y khoa chính khóa, thay vì chỉ xem đây là một chuyên đề bệnh học tâm thần thuần túy.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên bằng chứng thực nghiệm thu được, luận văn đưa ra 4 nhóm khuyến nghị can thiệp hành động cụ thể:

  • Tích hợp chương trình giáo dục tâm lý y khoa chuyên sâu: Ban Giám hiệu cùng Phòng Đào tạo Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cần đưa học phần "Kỹ năng nhận diện và can thiệp khủng hoảng tự tử" vào khung chương trình đào tạo bắt buộc cho sinh viên y năm thứ nhất và năm thứ hai trước quý IV/2023, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ hiểu biết đúng chuẩn trên thang đo LOSS-SF lên trên 85% vào năm 2025.
  • Xây dựng mạng lưới tham vấn tâm lý học đường đa kênh: Phòng Công tác sinh viên chủ trì thiết lập hệ thống tư vấn tâm lý trực tiếp và trực tuyến bảo mật 24/7 từ đầu năm 2022, tổ chức các nhóm hỗ trợ đồng đẳng nhằm giảm ít nhất 20% điểm số kì thị tiêu cực (SOSS-Stigma) trong cộng đồng sinh viên y khoa.
  • Triển khai chiến dịch truyền thông xóa bỏ định kiến định kỳ: Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên phát động chiến dịch "Thấu cảm để sẻ chia" vào tháng 9 hàng năm (hưởng ứng Ngày Thế giới Phòng chống Tự tử 10/9), tiếp cận 100% sinh viên các khóa thông qua các buổi tọa đàm khoa học, tài liệu truyền thông số và diễn đàn mở.
  • Thiết lập quy trình sàng lọc và hỗ trợ sức khỏe tâm thần chủ động: Trạm Y tế nhà trường phối hợp cùng Bộ môn Tâm thần học thực hiện khảo sát sức khỏe tâm thần định kỳ hàng năm bằng thang đo PHQ-9 và GAD-7, bảo đảm 100% sinh viên thuộc nhóm nguy cơ cao (trầm cảm, lo âu, có ý nghĩ tự sát) được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc tâm lý chuyên nghiệp kịp thời.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban Giám hiệu và Các nhà quản lý đào tạo y khoa: Nắm bắt thực trạng sức khỏe tâm thần sinh viên y khoa để hoạch định chính sách hỗ trợ học đường, cải tiến chương trình đào tạo và phân bổ ngân sách cho các hoạt động chăm sóc tâm lý sinh viên.
  • Giảng viên Y học, Cán bộ tham vấn tâm lý học đường: Sử dụng bộ thang đo SOSS-SF và LOSS-SF phiên bản tiếng Việt đã được chuẩn hóa làm công cụ lượng giá tâm lý trong nghiên cứu và thực hành can thiệp khủng hoảng tâm lý cho người học.
  • Sinh viên, Học viên khối ngành Khoa học Sức khỏe: Tự trang bị kiến thức khoa học đúng đắn về tự tử, xóa bỏ các định kiến cá nhân, nhận diện sớm các dấu hiệu nguy cơ ở bản thân và bạn bè để chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ chuyên môn.
  • Các nhà nghiên cứu Dịch tễ học, Y học Dự phòng và Tâm thần học: Kế thừa khung phương pháp luận, số liệu thống kê chuẩn xác và mô hình CFA để mở rộng nghiên cứu sang các nhóm dân số khác như điều dưỡng, bác sĩ nội trú hoặc nhân viên y tế tuyến đầu.

Câu hỏi thường gặp

Thang đo SOSS-SF và LOSS-SF phiên bản tiếng Việt trong luận văn có độ tin cậy khoa học như thế nào?
Cả hai thang đo đều đạt chuẩn đo lường tâm lý quốc tế. Thang đo SOSS-SF đạt Cronbach's alpha 0,84 cùng mô hình CFA 3 nhân tố tối ưu (CFI = 0,944; TLI = 0,933; RMSEA = 0,068). Thang đo LOSS-SF đạt alpha 0,73, khẳng định tính giá trị và độ ổn định cao khi áp dụng tại Việt Nam.

Tỷ lệ sinh viên y khoa từng có ý nghĩ tự tử trong nghiên cứu là bao nhiêu và có đáng lo ngại không?
Nghiên cứu ghi nhận 32,8% sinh viên y đa khoa từng có ý nghĩ tự tử trong đời và 2,9% từng cố gắng tự tử. Đây là tỷ lệ rất đáng lo ngại, phản ánh áp lực tâm lý học đường nặng nề và đòi hỏi phải có các biện pháp can thiệp phòng ngừa sớm từ nhà trường.

Sự kì thị về tự tử thể hiện rõ nhất ở những khía cạnh nào trong sinh viên y đa khoa?
Mặc dù đa số sinh viên thấu cảm với sự cô đơn của người tự tử, vẫn còn 32,4% sinh viên cho rằng người tự tử là vô trách nhiệm và 31,2% xem họ là yếu đuối. Điều này cho thấy định kiến xã hội vẫn tồn tại ngay trong nhóm người học y khoa.

Yếu tố sức khỏe tâm thần nào có mối liên quan chặt chẽ nhất với trải nghiệm tự tử ở sinh viên?
Nghiên cứu xác định các biến số như mức độ trầm cảm (PHQ-9 $\ge 10$, chiếm 12,0%), rối loạn lo âu lan tỏa (GAD-7 $\ge 10$, chiếm 8,1%) và tiền sử bản thân từng có hành vi tự làm tổn thương (26,0%) là những yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê mật thiết với ý nghĩ và hành vi tự tử.

Luận văn đóng góp giá trị ứng dụng thực tiễn gì cho công tác y tế dự phòng tại Việt Nam?
Luận văn cung cấp bộ công cụ đo lường đã chuẩn hóa đầu tiên tại Việt Nam về kì thị và hiểu biết tự tử, đồng thời cung cấp bằng chứng dịch tễ học vững chắc để các nhà hoạch định chính sách y tế xây dựng chiến lược phòng chống tự tử cấp cơ sở và quốc gia.

Kết luận

  • Chuẩn hóa thành công hai bộ công cụ đo lường tâm lý SOSS-SF và LOSS-SF phiên bản tiếng Việt với độ tin cậy và tính giá trị cấu trúc đạt chuẩn quốc tế.
  • Xác định tỷ lệ hiện mắc các vấn đề tâm lý đáng báo động ở sinh viên y đa khoa: 32,8% có ý nghĩ tự tử, 12,0% có triệu chứng trầm cảm và 8,1% có rối loạn lo âu.
  • Bộc lộ rõ khoảng trống kiến thức về tự tử khi có hơn 67% sinh viên nhận định sai về mối liên hệ giữa nghiện chất và tự tử, cùng hơn 30% còn giữ định kiến kì thị.
  • Chứng minh tính cấp thiết của việc xây dựng hệ thống hỗ trợ tâm lý học đường và lồng ghép chương trình giáo dục phòng chống khủng hoảng tự tử vào đào tạo y khoa.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu dịch tễ học thực chứng hỗ trợ ngành Y tế Dự phòng Việt Nam xây dựng các can thiệp sức khỏe tâm thần cộng đồng giai đoạn 2022 - 2025.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ sở đào tạo y khoa quan tâm đến dữ liệu chi tiết và phương pháp chuẩn hóa thang đo có thể liên hệ thư viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp cận toàn văn luận văn thạc sĩ khoa học này.