CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan tình hình tự tử 1.1 Định nghĩa Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tự tử là hành vi với mục đích gây ra cái chết cho bản thân. Cố gắng tự tử là hành vi cố gắng tự tử hay những hành vi tự làm tổn hại bản thân mà có thể không gây ra hoặc gây ra cái chết. Hành vi tự tử bao gồm ý tưởng tự tử, lên kế hoạch tự tử, cố gắng tự tử và tự tử [63]. Kì thị được cho là bị xã hội làm mất uy tín và bị kết án khi một người ở trong tình trạng trái với những điều xã hội đó mong muốn [31].
Kì thị bao gồm ba cấu trúc nhận thức xã hội: đóng khuôn (nhận thức), định kiến (cảm xúc) và phân biệt đối xử (hành vi) [56].1: Phân loại kì thị Loại Định nghĩa Kì thị từ cộng đồng Sự đồng thuận từ cộng đồng về định kiến và phân biệt đối xử đối với nhóm đối tượng nào đó. Kì thị bản thân Một người thuộc nhóm đối tượng nào đó đồng hóa những định kiến xã hội và cho rằng chúng là đúng với bản thân mình. Né tránh do lộ diện Bệnh nhân tâm thần tránh tham gia vào các hoạt động mà thông tin về bệnh tình của họ được công khai. Chính sách kì thị Các chính sách công và tư vô tình làm hạn chế khả năng tiếp cận của một nhóm đối tượng nào đó.
Kì thị nhóm Những người tiếp xúc gần với một nhóm đối tượng nào đó bị nhận sự kì thị (người làm trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần, bạn bè, gia đình) Kẻ bắt nạt Khi một người sử dụng quyền lực của mình để kiểm soát, bóc lột và loại bỏ một nhóm đối tượng bị kì thị. Kì thị vô thức Những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi kì thị xảy ra tự động một cách vô thức hoặc không hẳn cố ý. Loại Định nghĩa Đôi – đa kì thị Khi một người kì thị nhiều hơn một nhóm đối tượng (LGBT, người nghèo, người béo phì, v.) Nguồn: Sheehan Lindsay, Nieweglowski Katherine, Corrigan Patrick W (2017) Structures and types of stigma [56] Sự kì thị của xã hội là việc một người không được người khác coi họ là một thành viên của tập thể, điều này gây nên những tác động tiêu cực đến lòng tự trọng, sự hòa nhập cộng đồng và khả năng tiếp cận sự hỗ trợ của chuyên gia [15, 49]. Sự kì thị của cộng đồng bao gồm dán nhãn, đóng khuôn, cô lập, hạ thấp và phân biệt đối xử [18, 31].
Do vậy, kì thị tự tử là những định kiến, phân biệt những người có suy nghĩ hoặc hành vi tự tử.2 Yếu tố nguy cơ dẫn đến tự tử Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát Bệnh tật và Dịch bệnh của Mỹ (CDC), có nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến tự tử giữa những người có và không có vấn đề về sức khỏe tâm thần [22]. 45 42 40 35 29 Tỉ lệ % 28 30 25 22 20 16 15 9 10 4 5 0 Mất nhà Vi phạm Gặp khó Vấn đề sức Rối loạn Gặp khủng Gặp khó pháp luật, khăn trong khỏe thể sử dụng hoảng khăn trong hình sự công việc/ chất nghiện trong vòng các mối tài chính chất 2 tuần trở quan hệ lại Yếu tố nguy cơ Nguồn: CDC’s National Vital Statistics System [22] Biểu đồ 1.1: Yếu tố nguy cơ dẫn đến tự tử giữa những người có và không có vấn đề sức khỏe tâm thần. Sự khác biệt ở những người có và không có vấn đề sức khỏe tâm thần còn được thể hiện qua giới tính và cách thức tự tử. Nguồn: CDC’s National Vital Statistics System [22] Biểu đồ 1.2: Sự khác biệt về giới và cách thức tự tử giữa những người có và không có vấn đề sức khỏe tâm thần 1.3 Thực trạng tự tử và sự kì thị Theo báo cáo của UNICEF năm 2017, tỉ lệ tự tử ở Việt Nam thấp hơn so với các nước trong khu vực là 5 vụ/100.000 người vào năm 2012.
Tuy nhiên, vấn đề này cần được quan tâm, khi chiều hướng tự tử ngày càng gia tăng những năm gần đây, đặc biệt là độ tuổi thanh thiếu niên [8]. Điều này cũng được thể hiện thông qua báo cáo số liệu về tỉ lệ tự tử thô của WHO. Theo báo cáo của WHO cho thấy nam luôn có tỉ lệ tự tử cao hơn nữ trong đó báo cáo năm 2010, 2015, 2016 tỉ lệ ở nam và nữ lần lượt là (10,5; 3,6), (10,8; 3,7), (10,9; 3,7) [62]. Các nghiên cứu đã được thực hiện tại một số tỉnh thành Việt Nam cũng góp phần chỉ rõ hơn tính bức thiết của chủ đề nhạy cảm này, cụ thể như: báo cáo kết quả tỉ lệ học sinh trong lứa tuổi học đường có ý nghĩ tự tử khá cao tại Cần Thơ, Tây Ninh, Hà Nội, Buôn Ma Thuột [6, 7, 42, 58].
Theo một báo cáo khác của UNICEF, phỏng vấn một bé gái 15 tuổi tại thành phố Điện. Biên khi hỏi về lý do dẫn tới tự tử, em đã nói rằng “Người ta nói con cái không nên như vậy, có nhiều cách giải quyết, phải tìm cách giải quyết chứ không phải cái chết. Con nghĩ trong hoàn cảnh đấy, bọn con cảm thấy áp lực quá nhiều, bọn con chia sẻ với những người khác nhưng sợ họ không tin, rồi cảm thấy bản thân mình không còn giá trị đối với mọi người xung quanh. Có lẽ việc nhìn nhận từ những người xung quanh ảnh hưởng rất lớn tới khả năng dám chia sẻ những suy nghĩ của bản thân [9].
Do đó, những dữ liệu từ các nghiên cứu đôi khi chưa phản ánh được thực tế về tự tử trong xã hội ngày nay. Kì thị tự tử không chỉ tác động trên những người có suy nghĩ hoặc hành vi tự tử, mà còn ảnh hưởng nặng nề lên những người trải qua mất mát người mình yêu thương vì tự tử, đó là những nỗi đau vô cùng lớn. Theo Arnold Toynbee, một cái chết luôn có 2 bên đó là người đã mất và những người ở lại – người ở lại chính là người phải gánh chịu nỗi đau khổ [10]. Trên thế giới, từ lâu đã có rất nhiều nghiên cứu nhằm đánh giá những ảnh hưởng về kì thị tự tử trên những đối tượng trải qua mất mát người thân vì tự tử.
Nghiên cứu của Demi và Howell (1991) cho thấy nỗi đau buồn mất người thân vì tự tử không giống như những nỗi đau buồn khác. Nhận sự kì thị từ mọi người xung quanh là một trong những yếu tố tác động quan trọng đối với những người trải qua mất mát người thân do tự tử và điều này cũng khiến nhiều người đã phải chuyển tới một nơi mới để có thể sống tiếp để không phải chịu sự phán xét của những người quen biết [26]. Sự hỗ trợ từ gia đình và bạn thân có vai trò rất quan trọng trong việc giảm lo âu, trầm cảm, các rối loạn tâm lý, cảm giác bị bỏ rơi ở những người trải qua việc đột ngột mất người thân. Mặt khác, khi nhận được sự kì thị hay bị xã hội cô lập về hành vi tự tử thì triệu chứng đau buồn sẽ càng nặng nề hơn [25] [51].
Sự kì thị của xã hội về tự tử có ảnh hưởng sâu sắc tới việc ngăn chặn tự tử, do đó việc nâng cao nhận thức của người dân có tác động tích cực tới việc hỗ trợ, tìm kiếm sự giúp đỡ. Một số nghiên cứu đã cho thấy thái độ của người dân về tự tử đã thay đổi tích cực sau các chiến dịch nâng cao nhận thức về tự tử trong cộng đồng [37, 48].2 Các phương pháp đánh giá sự kì thị và sự hiểu biết về tự tử 1.1 Thang đo đánh giá Kì thị tự tử Thang đo sự kì thị tự tử (Stigma of Suicide Scale - SOSS) gồm có 2 phiên bản: bản đầy đủ gồm 58 câu với chỉ số Cronbach alpha ≤ 0,86 và bản rút gọn 16 câu với Cronbach alpha ≤ 0,78 [17]. Trong đó chia thành 3 yếu tố: • Yếu tố chính: Kì thị đánh giá sự kì thị đối với những người chết vì tự tử. • Yếu tố cho rằng tự tử là do sự cô lập hoặc do trầm cảm gây ra (Cô lập/ Trầm cảm).
• Yếu tố thể hiện thái độ đề cao hành động tự tử (Đề cao/ Ca ngợi). Trong 3 yếu tố trên, chỉ có yếu tố chính “Kì thị” là đánh giá sự kì thị về tự tử, điểm càng cao thì mức độ kì thị đối với vấn đề tự tử càng cao. Hai yếu tố “Cô lập/ Trầm cảm” và “Đề cao/ Ca ngợi” không thể hiện sự kì thị nhưng nó đóng góp quan trọng thái độ của đối tượng đối với vấn đề tự tử. Sử dụng thang đo Likert 5 điểm từ 1 điểm “Rất không đồng ý” đến 5 điểm “Rất đồng ý”.
Tính tổng điểm theo từng yếu tố cấu trúc.2: Các nghiên cứu về thang đo SOSS Đối tượng Nghiên cứu Tính tin cậy STT Tác giả nghiên cứu Tính giá trị (năm) nội bộ và thang đo 1 Trung Quốc Jin Han và 224 sinh Cronbach Có giá trị cấu trúc (2014) [33] cộng sự viên đại học alpha: 0,72 – qua phân tích SOSS – SF 0,85 EFA: phiên bản Giá trị p của Trung Quốc Barlett test < 0,001 2 Úc (2014) Chan và 165 học viên Cronbach [23] cộng sự y sau đại alpha: 0,88 – học, 54 sinh 0,95 viên y năm cuối và 676 người (nhân viên và sinh. Đối tượng Nghiên cứu Tính tin cậy STT Tác giả nghiên cứu Tính giá trị (năm) nội bộ và thang đo viên trường đại học) 3 Thổ Nhĩ Kỳ Öztürk và 1100 sinh Cronbach - Có giá trị cấu trúc (2017) [14] cộng sự viên alpha: 0,79 – qua phân tích SOSS phiên 0,90 EFA: giá trị p của bản Thổ Nhĩ Barlett test < 0,001 Kỳ - Có giá trị cấu trúc qua phân tích CFA cho thấy tính hợp lệ của thang đo và các giá trị chỉ số phù hợp của thang đo là chấp nhận được. 4 Australia & Raquel Peel 478 người Cronbach Brazil và cộng sự tham gia alpha: 0,82 – (2017) [50] (270 người 0,92 SOSS – SF đến từ Australia và 208 người đến từ Brazil) 5 Mỹ (2018) Caitlin Mẫu 1: 449 Cronbach Mẫu 1: sử dụng [19] Leah sinh viên alpha: 0,79 – phân tích nhân tố SOSS – SF Williams và ngành tâm 0,87 EFA cộng sự lý học Mẫu 2: phương Mẫu 2: 570 pháp phân tích sinh viên nhân tố CFA cho thấy sự phù hợp giữa 3 yếu tố. Đồng thời cũng chỉ ra kết quả tương tự nhau giữa giới.
Đối tượng Nghiên cứu Tính tin cậy STT Tác giả nghiên cứu Tính giá trị (năm) nội bộ và thang đo (nam, nữ) bằng phương pháp MGCFA.