Chương 1: Những vấn dé ly luận về bồi thường thiệt hai do vi phạm hop đồng trong lĩnh vực thương mại và pháp luật về bôi thường thiệt hại trong lĩnh vực thương mại. Chương 2: Thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại và thực tiên thi hành tại Việt Nam. Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại ở Việt Nam. NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE BOI THUONG THIET HAI DO VI PHAM HOP DONG TRONG LINH VUC THUONG MAI VA PHAP LUAT VE BOI THUONG THIET HAI DO VI PHAM HOP DONG TRONG LINH VUC THUONG MAI 1.
NHUNG VAN DE LY LUAN VE BOI THUONG THIET HAI DO VI PHAM HOP DONG TRONG LINH VUC THUONG MAI 1. Nguồn gốc của việc bồi thường thiệt hại do vi phạm hop đồng trong lĩnh vực thương mại Pháp luật cô xưa thiên nặng về xử phạt và không tập trung vào việc BTTH. Ban đầu pháp luật không được sinh ra nhằm mục dich phân bổ tổn thất một cách hiệu quả cho các chủ thé pháp lý riêng lẻ hoặc cho toàn xã hội. Theo đó, pháp luật trước đây như một con đường trả thù cho những hành động sai trái chứ không phải là sự sửa chữa hay khắc phục sự mất mát.
Điển hình cho vấn đề này là pháp luật thời kỳ đầu của La Mã mà đặc biệt là Lex Aquilia’. Khi một hợp đồng được giao kết cũng không thể chắc chắn hợp đồng đó được thực hiện một cách chính xác và đầy đủ. Việc hợp đồng có thể bị vi phạm và dẫn đến các thiệt hại là một rủi ro cơ bản phải được nhận diện từ khi giao kết; hệ quả của việc được nhận diện từ sớm này là các bên sẽ có xu hướng tạo lập những cơ chế thích hợp dé hạn chế rủi ro này. Day cũng là căn nguyên của việc hình thành các thỏa thuận về BTTH trong hợp đồng.
Như vậy, BTTH do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng, tự do, thiện chí, ràng buộc của hợp đồng và các lý thuyết về lỗi, thiệt hại trong trách nhiệm dân sự, cũng như mong muốn hạn chế vi pham và có biện pháp khắc phục các thiệt hại nếu có trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại của các bên giao kết. Khái niệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại 1 Jansen, Nils, and Sandy Steel, Delictual Liability in Roman Law, in Sandy Steel (ed), The Structure of Tort Law, Oxford 2021, online edn, Oxford Academic, 20 Jan 2022, https://doi.0005 truy cập ngày 01/10/2023 Trong thực tế có thé tồn tại nhiều loại hợp đồng khác nhau, mà phổ biến nhất là hợp đồng trong lĩnh vực dân sự. Trong nhóm hợp đồng dân sự này thì loại hợp đồng điển hình và phổ biến lại là hợp đồng trong lĩnh vực thương mại. Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có khái niệm chính thức về thương mại và HĐTM nên Luận văn này thống nhất sử dụng thuật ngữ “hợp dong trong lĩnh vực thương mai” nhưng đôi khi sé sử dụng thuật ngữ “HDTM” khi nói dưới góc độ lý luận hoặc trích dẫn quan điểm của học giả.
Lĩnh vực thương mại bao gồm các hoạt động thương mại. “Hoạt động thương mại” về cơ bản được hiểu là hoạt động với tính chất là giao dịch dân sự đặc thù được thực hiện giữa các thương nhân hoặc ít nhất một bên trong giao dịch là thương nhân, nhằm mục đích sinh lợi. Và do vậy, HDTM là một loại hợp đồng dân sự, cũng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Bên cạnh đỏ còn mang những điểm đặc thù riêng biệt chỉ có trong lĩnh vực thương mai, tức là: (i) Ít nhất một bên trong quan hệ xác lập phải là thương nhân: Về đặc thù chủ thé, chủ thé đầu tiên của HĐTM là thương nhân, được định nghĩa tại Điều 6.1 LTM năm 2005 như sau: “Thương nhân bao gồm tô chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mai một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ky kinh doanh ”.
Với định nghĩa này, thương nhân là chủ thể HDTM có thé là thương nhân trong nước hoặc nước ngoài. Bên cạnh thương nhân, trong một số trường hợp nhất định, các cá nhân, tổ chức khác cũng có thể trở thành chủ thể HDTM?. (ii) Nhằm mục đích sinh lời: Điểm khác biệt căn bản giữa một giao dịch thương mại và giao dịch dân sự là mục đích sinh lợi của các chủ thể. Nói cách khác, chỉ khi ít nhất một bên chủ thề trong hợp đồng giao kết với mục đích tìm kiếm lợi nhuận, lợi ích thì đây mới được xem là HĐTM, chịu sự điều chỉnh của LTM.
? Dinh Trọng Liên (2023), Trách nhiệm BTTH trong hợp đông kinh doanh thương mai, Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam, xem tại: https://lsvn.vn/trach-nhiem-boi-thuong-thiet-hai-trong-hop-dong-kinh-doanh-thuong- mai-1677471084.html truy cập ngày 02/10/2023. BTTH có lẽ là biện pháp khắc phục cơ bản và phổ biến nhất được áp dụng trên thực tế và được quy định bởi pháp luật. Về cơ bản đây là một biện pháp khắc phục theo quy định của pháp luật và được áp dụng không phụ thuộc vào thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng. Mặc dù vậy, BTTH van là một nội dung phổ biến thường được đưa vào hợp đồng, đặc biệt là đối với các HĐTM phức tap và trở thành thông lệ của thị trường: trong trường hợp này, BTTH cũng có thể được xem là biện pháp khắc phục theo thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng.
Bên cạnh đó, BTTH thuộc loại biện pháp khắc phục liên quan đến trách nhiệm tài chính nếu nhìn từ góc độ của bên vi phạm hợp đồng Ÿ. Về thời điểm xác định trách nhiệm BTTH là khi bên có nghĩa vụ trong HĐTM vi phạm hợp đồng đó và từ hành vi vi phạm này phát sinh thiệt hại cho bên có quyền. Khi đó, trách nhiệm BTTH được đặt ra đối với bên có nghĩa vụ, nhằm bồi đắp những tổn thất, thiệt hại mà bên có quyền phải gánh chịu”. Xuất phát từ các luận giải về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại và BTTH do vi phạm hợp đồng vừa phân tích, tác giả đưa ra định nghĩa như sau: “Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là biện pháp khắc phục hậu quả gây ra bởi hành vi vi phạm của một bên trong hop đồng được giao kết vì mục dich sinh lời, nhằm bù đắp những tốn thất cho bên còn lại, giúp bên này đạt được vị thé giống như khi hợp đồng được thực hiện dung”.
Nguyên tắc của việc bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Nguyên tắc cơ bản là bên bị thiệt hại sẽ nhận được số tiền đủ để có được vị thé tương tự với vị thế khi vi phạm hợp đồng không xảy ra”. Nguyên tắc này được thừa nhận trong ca hệ thống pháp luật Anh - Mỹ (Common Law) và hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil Law), ví dụ, luật pháp của Pháp công nhận nguyên tắc > Trương Quang Nhật (2022), Pháp luật về hợp đông — các vấn dé cơ bản pháp lý, NXB Dân tri, tr. 573 * Hale, William B (1986), Handbook on the Law of Damages, St. Paul, Minnesota, West Publishing, p.
McGregor, McGregor on Damages (20th ed. Sweet & Maxwell, London 2017), Section 2-002, citing Livingstone v. Rawyards Coal Co [1880] 5 App Cas. 25 at 39 10 BTTH toàn bộẾ, mục tiêu của nguyên tắc này là đặt bên bị thiệt hại vào tình thế đáng lẽ phải xảy ra nếu không có hành động gây ra thiệt hại”.
Nguyên tắc BTTH toàn bộ (“réparation intégrale”) trong pháp luật Pháp nói riêng hay trong hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa nói chung được xây dựng trên cơ sở BTTH theo truyền thống luật La Mã. Trong luật La Mã, một khoản BTTH đầy đủ bao gồm các khoản BTTH cho những tôn thất về cả “tốn thất thực tế” (tiếng Latinh là “damnum emergens’”) va cả những tổn thất về “lợi nhuận” (“iuerum CeSsans `). Trong khi đó, đại diện cho hệ thống pháp luật Anh — Mỹ (Common Law/Thông luật), lại có sự thay đổi trong việc xác định nguyên tắc BTTH theo thời gian. Trước thế ky XIX, khi luật hợp đồng của Anh chưa ghi nhận nguyên tắc xác định BTTH cụ thể thì việc quyết định mức BTTH phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của bồi thẩm đoàn.
Do vậy, các phán quyết về BTTH do vi phạm hợp đồng trong từng tranh chấp cu thé rất khác nhauŸ. Đến thế kỷ XIX, nguyên tắc “BTTH toàn bộ” mới được rút ra từ tuyên bố của thấm phán Baron Parke trong vụ Robinson v. Harman và được áp dụng đến ngày nay, rằng”: “Quy tắc của TIhông luật về bồi thường thiệt hại là bên bị vi phạm sẽ được đặt vào tình trạng tương tự như khi hợp đồng được thực hiện đúng nếu thiệt hại do vi phạm hợp đồng có thé bù đắp bằng tiên ”. Trên bình diện quốc tế, nguyên tắc BTTH đã được phản ánh trong các văn kiện toàn cầu (như CISG, PICC) và cả văn kiện khu vực (như PECL của Châu Au) với các mức độ khác nhau.
Một cách minh thị, PICC đã ghi nhận nguyên tắc BTTH toàn bộ tại Điều 7. đưới tiêu dé “full compensation”, nêu rõ rằng: “Bên vi phạm hợp đồng được bồi thường toàn bộ thiệt hại mà mình phải ganh chịu là hệ quả cua việc không thực hiện hợp đồng”. đồng thời giải thích “foàn bộ thiệt hại” được hiểu Š Được dịch từ thuật ngữ tiêng Pháp là “réparation intégrale”, xem A. Bénabent, Droit des obligations (16th ed.
7 Christian Larroumet (1998), Droit civil- Les obligationsLes contrat, 4e édition, Economic, p. 713, 714; Frangois Terré, Philippe Simler (2013), Yves Lequette, Droit civil - Les obligations, 11e edition, Dalloz, p 649 Š Thomas D. Musgrave (2009), Comparative Contractual Remedies. University of Western Australia Law Review, p.
Peek (1972), Athens-McDonald v. Kazis - Contract-damages-mental injury, Adelaide law review, p 466 11 la bao gồm “. những tồn thất ma bên bị thiệt hại phải gánh chịu và những lợi ích bị mất di. Trong khi đó, CISG va PECL lại chỉ ghi nhận nguyên tắc này một cách gián tiếp (ngầm).
Tại CISG, Điều 74 quy định bên bị thiệt hại có thể yêu cầu bên gây thiệt hại phải bồi thường “một khoản tién tương ứng với những ton thất. là hệ quả của hành vi vi phạm hop dong”, mà những tốn thất nay lại khá rộng, bao gồm cả các khoản lợi nhuận bị mắt, có nghĩa là BTTH toàn bộ. Tương tự, tại PECL, thông qua cách tính thiệt hại cần bồi thường tại Điều 9:502 cho thấy, khoản BTTH được tính chính là toàn bộ.