CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VE HOP DONG DAN SỰ VÔ HIỆU DO VI PHAM DIEU KIEN VE Ý CHI CHỦ THE 1. Khái quát chung về hop đồng dân sự vô hiệu va phân loại hợp đồng dân sự vô hiệu. Khái niệm hợp dong dân sự vô hiệu. Vô hiệu được hiểu theo nghĩa thông thường là không có hiệu lực, không mang lại kết quả [9, tr.
Theo đó, hợp đồng dân sự vô hiệu sẽ được hiéu là hợp đồng dân sự không có hiệu lực, không mang lại kết quả. Việc hiều hợp đồng dân sự vô hiệu theo nghĩa này cũng bộc lộ khiếm khuyết, bởi lẽ, có những trường hợp hợp đồng vô hiệu do vi phạm quy định nào đó của pháp luật nhưng nêu ca hai bên tham gia giao kết đều thừa nhận hợp đồng đó và hợp đồng đó có mục dích, nội dung không xâm phạm tới lợi ích chung của cộng đồng, của Nhà nước thì vẫn được coi là có hiệu lực và ràng buộc các bên giao kết. Trong ngôn ngữ pháp lý, hợp đồng dân sự vô hiệu là hợp đồng không có hiệu lực pháp luật, không làm phát sinh (hoặc không được pháp luật thừa nhận) quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên do vi phạm pháp luật [10]. Hiện nay, Pháp luật dân sự Việt Nam chưa xây dựng được khái niệm khái quát về hợp đồng dân sự vô hiệu, khoa học pháp lý cũng như pháp luật thực định của Việt Nam mới chỉ đi sâu làm rõ các tiêu chí xác định sự vô hiệu của hợp đồng và từ đó đưa ra cách thức xử lý đối với các trường hợp vô hiệu.
Do đó, đê có thé hiểu được khái niệm hợp đồng dan sự vô hiệu, ta phái đặt chúng trong mỗi quan hệ với khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu. Theo các quy dịnh từ điều 122 và 134 - BLDS 2005, thì một giao dịch bị coi là vô hiệu khi không dáp ứng được một trong các điều kiện sau: - Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dan sự. - Muc đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cắm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. - Nguoi tham gia giao dịch hoàn toan tự nguyện.
- Hinh thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dich trong trường hợp pháp luật có quy định. Bên cạnh đó, tại điều 410 - BLDS 2005 lại quy định: “Các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ điều 127 đến điều 138 của Bộ luật nay cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu ”. Như vậy, theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành thi hợp đồng dân sự với tư cách là một loại của giao dịch dân sự cũng sẽ vô hiệu khi vi phạm một trong các diều kiện có hiệu lực được quy định tại điều 122 - BLDS 2005. Đây không được coi là một khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu theo đúng nghĩa của nó vì trong khái niệm này ta vẫn chưa thấy nêu lên được bản chất cũng như những đặc điểm của hợp đồng dân sự vô hiệu, nó cũng chỉ dừng lại ở sự liệt kê các trường hợp vô hiệu.
Trên cơ sở những phân tích ở trên, ta có thé hiểu hợp đồng dân sự vô hiệu là một hợp đồng mà pháp luật không thừa nhận, không có giá trị ràng buộc các bên giao kết hợp đồng. Hợp đồng vô hiệu sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý mà các bên đã cam kết trong hợp đồng. Thời diém xác định sự vô hiệu của hợp đồng được tính từ thời điểm hình thành hợp đồng. Việc hiểu và áp dụng đúng trong việc xác định hợp đồng dân sự vô hiệu có ý nghĩa quan trọng trong việc bao đảm an toàn pháp ly cho các chủ thé trong giao lưu dân sự, qua đó góp phan thiết lập ky xã hội, bảo vệ quyên va lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và Nha nước.
Phân loại hợp đồng dân sự vô hiệu: Phân loại hợp đồng dân sự vô hiệu là việc chia hợp đồng vô hiệu thành từng nhóm theo những tiêu chí nhất định với mục đích nhất định, dé có sự diều chỉnh pháp lý thích hợp. Bên cạnh đó, việc phân loại nay cho ta cái nhìn toàn diện về hợp đồng vô hiệu dưới những khía cạnh, phương diện khác nhau để từ dó đưa ra những cách thức xử lý thích hợp. Ở đây, ta đề cập đến ba cách phân loại hợp đồng dân sự vô hiệu. Căn cứ vào điêu kiện vi phạm: Trên cơ sở các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng được quy định tại điều 122 - BLDS 2005, ta có thé phân chia hợp đồng dân sự thành bốn loại khi chúng vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực đó.
Một là, hợp đồng dân sự vô hiệu do người tham gia giao kết không có năng lực hành vi dân sự. Khi tham gia bất kỳ một giao dịch nào các chủ thé cũng đều phải đáp ứng điều kiện về mặt năng lực hành vi dân sự và đối với hợp đồng dân sự cũng thé. Chủ thé tham gia hợp đồng dân sự không đáp ứng những quy định của pháp luật về van dé này sẽ làm cho hợp đồng vô hiệu. Hai là, hợp đồng dân sự vô hiệu do có mục đích và nội dung vi phạm điều cắm của pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Pháp luật cùng với việc quy định cho các chủ thể những hành vi được phép làm, cũng đã quy định những hành vi nhất định bị cắm. Bên cạnh đó, đạo đức xã hội cũng đặt ra những chuẩn mực ứng xử đòi hỏi các chủ thé phải tôn trọng và pháp luật cũng ghi nhận điều đó. Chính vì vậy mà khi các chủ thé không tuân thủ theo các quy định của pháp luật về điều cam và các chuẩn mực đạo đức xã hội thì hợp đồng trở nên vô hiệu. Ba là, hợp đồng dân sự vô hiệu do chủ thé tham gia hợp đồng không hoàn toan tự nguyện.
* Bản chất của hop đồng dân sự là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí. Chính vì thế, tự do ý chí và bày tỏ ý chí là các yếu tố cấu thành của sự tự nguyện. Nếu một trong hai yếu tô này không có hoặc không thống nhất thì không thé có tự nguyện. Và sự tự nguyện của các bên trong việc giao kết cũng như thực hiện hợp đồng đã dược khái quát lên thành một nguyên tắc được quy định trong BLDS, tại điều 4 - BLDS 2005 quy định: “Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận”.
Do đó, vi phạm sự tự nguyện của chủ thé chính là vi phạm pháp 10 luat. Hop đồng thiếu sự tự nguyện đều bi coi là vô hiệu. Moi sự thoả thuận không phản ánh đúng ý chí của các bên hoặc một bên ký kết sẽ không làm phát sinh hậu qua pháp lý. Bồn là, hợp đồng dân sự vô hiệu do có hình thức không phù hợp với quy định của pháp luật.
Pháp luật cho phép các bên chủ thé có quyền tự do lựa chọn hình thức của hợp đồng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp pháp luật quy định hợp đồng phải được lập theo một hình thức nhất định và hình thức của hợp đồng trong trường, hợp này được coi là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Khi đó, nếu hợp đồng không tuân thủ các quy định về hình thức sẽ vô hiệu. Căn cứ vào tính chất trái pháp luật: Đây là cách phân loại truyền thông và theo đó thì hợp đồng dân sự vô hiệu được chia thành hai nhóm là: Hợp đồng dân sự vô hiệu tuyệt đối và hợp đồng dân sự vô hiệu tương đối.
Sự phân loại này dựa trên một số đặc điểm khác biệt thể hiện bản chất của hai khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu tuyệt đối và hợp đồng dân sự vô hiệu tương đối. Không giống như cách phân chia ở trên, các trường hợp hợp đồng vô hiệu đều được quy định trong BLDS 2005, trong cách phân chia này, ta có thể thấy rằng hai khái niệm hợp đồng vô hiệu tuyệt đối và hợp đồng vô hiệu tương đối không được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật. Đó chi là những khái niệm của ngành khoa học luật dân sự và mang tính lý thuyết, thế nhưng hai khái niệm này lại là công cụ không thé thiếu được trong việc nghiên cứu bản chất của hợp đồng dân sự và chúng có ý nghĩa rất quan trọng đối với khoa học luật dân sự cũng như trong việc giải quyết các van dé có liên quan đến thủ tục tuyên bố một hợp đồng dân sự vô hiệu. Đến đây, dé hiểu được rõ vẻ khái niệm cũng như bản chất của hai loại hợp đồng dân sự vô hiệu này, chúng ta sẽ cùng đi vào phân tích những điểm khác biệt đặc trưng của chúng, đó là: Thứ nhất, sự khác biệt về trình tự vô hiệu của hợp đồng dân sự.
Hợp đồng dân sự vô hiệu tuyệt đối thì mặc nhiên bị coi là vô hiệu. Còn đối với hợp đồng vô hiệu tương đối thì không mặc nhiên vô hiệu mà chỉ bị vô hiệu khi hội tụ đủ những điều kiện nhất định là: Khi có đơn yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan và theo quyết định của Toa án. Đây là sự khác biệt quan trọng nhất, được coi là tiêu chí hàng đầu đề phân loại một hợp đồng vô hiệu thuộc trường hợp vô hiệu tuyệt đối hay tương đối khi nghiên cứu nội dung các văn bản quy phạm pháp luật. Cũng chính từ sự khác biệt này mà trong một số tải liệu còn sử dụng thêm các thuật ngữ khác dé biểu thị sự phân loại hợp đồng dân sự vô hiệu: hợp đồng dân sự đương nhiên vô hiệu và hợp đồng dân sự vô hiệu có điều kiện [20, tr.
Nhìn chung việc sử dụng hai cặp thuật ngữ này không có gì trái ngược nhau, tuy nhiên về phương diện phân tích lý thuyết của luật dân sự thì việc sử dụng cặp thuật ngữ “vô hiệu tuyệt đối” và “vô hiệu tương đối” sẽ không chỉ giới hạn ở sự khác biệt đang phân tích (mặc nhiên vô hiệu hay không mặc nhiên vô hiệu), mà còn cho phép chúng ta nghiên cứu bản chất của chúng một cách toàn diện hơn. Thứ hai, sự khác biệt về chủ thê yêu câu tuyên bồ vô hiệu: Về nguyên tắc, tất cả những người có quyên lợi liên quan đều có thể yêu cầu Toà án tuyên bố một hợp đồng dân sự vô hiệu tuyệt đối nhưng đôi với hợp đồng dân sự vô hiệu tương đối thì không phải bất cứ ai cũng có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu.