CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Giải phẫu cấu trúc dây thần kinh ngoại vi Các dây thần kinh ngoại vi lần đầu tiên được Herophilus mô tả để phân biệt với gân vào những năm 300 trước công nguyên, ông đã chứng minh được tính liên tục của hệ thần kinh. Vào đầu những năm 1900, Cajal đi tiên phong trong khái niệm rằng các sợi trục tái sinh từ các tế bào thần kinh và được hướng dẫn bởi các chất hóa học, từ đó các tác giả đã bắt đầu có các mô tả giải phẫu cắt ngang của dây thần kinh ngoại vi [66]. Giải phẫu cắt ngang sợi thần kinh bao gồm: - Sợi trục (axon) thần kinh được một lớp tổ chức bao bọc gồm myelin và tế bào Schwann .1: Cấu trúc dây thần kinh ngoại vi (Nguồn Benjamin 2001) - Các bó sợi thần kinh được tập hợp bởi các sợi trục thần kinh chạy song song với nhau và được lớp tổ chức liên kết bao bọc (perineurium).
luan an 4 - Các bó sợi tập hợp lại cùng với tổ chức liên kết, mạch máu và được bọc bởi một bao sợi bên ngoài tạo thành dây thần kinh ngoại vi.Giải phẫu thần kinh VII Dây thần kinh mặt hay dây VII là một trong 12 đôi dây thần kinh sọ. Dây mặt là một dây hỗn hợp, có đầy đủ chức năng của một dây thần kinh ngoại vi (vận động, cảm giác, thực vật, dinh dưỡng và phản xạ)[81].1 Các nhân Nhân dây VII gồm có: - Nhân vận động:nằm ở cầu não cho các bó sợi rồi thoát ra ở gaocs cầu tiểu não và vận độngcho các cơ bám da mặt, cổ và một số cơ khác. - Nhân cảm giác (nhân bó đơn độc): nằm ở hành não và cảm giác cho 2/3 trước lưỡi. - Nhân thực vật (nhân lệ tỵ và nhân bọt trên): nằm sau nhân vận động tiết dịch cho tuyến lệ, niêm mạc mũi, hầu.2 Đường đi của dây thần kinh VII Gồm 03 đoạn: đoạn trong sọ, đoạn trong xương đá và đoạn ngoài sọ.
- Đoạn trong sọ: từ rãnh hành cầu, dây thần kinh VII thoát ra khỏi não đi vào xương đá qua lỗ tai trong. Ngay đoạn trong sọ, dây VII cũng có đoạn trong não và đoạn trong màng não. - Đoạn trong xương đá: sau khi qua lỗ tai trong, dây VII vào ống tai trong (ductus acusticus internus); đoạn này gồm 03 phần: đoạn mê đạo, đoạn nhĩ và đoạn chũm. Trong đoạn này dây đi bên cạnh dây VIII, nằm trên dây VIII (cuốn cong như một cái võng) rồi chui vào hố trước trên của đáy ống tai, dây VII vào ống Fallop (hay còn gọi là ống dây VII, facial tunel).
- Đoạn ngoài xương đá: Dây VII chui qua lỗ châm chũm ra ngoài sọ, sau đó đi qua giữa 2 thùy của tuyến nước bọt mang tai từ thân chính chia luan an 5 thành 2 thân (thân thái dương - mặt và thân cổ - mặt). Đây là hai thân thuần vận động phân bố cho cơ bám da mặt và bám da cổ. - Thân thái dương - mặt còn gọi là thân trên phân bố tiếp ra các nhánh cho các cơ nằm nửa trên mặt, trong đó có các cơ quan trọng là cơ trán, cơ cau mày và cơ vòng mi. - Thân cổ - mặt còn gọi là thân dưới phân bố cho các cơ nằm bên dưới mặt, trong đó quan trọng là cơ vòng miệng, các cơ gò má, cơ nâng môi trên và xa hơn nữa dây VII phân nhánh xuống tới tận cơ bám da cổ.3 Các nhánh tận của thần kinh VII: - Đoạn sau khi ra hố châm chũm dây VII chia ra nhánh chẩm và nhánh tai, nhánh cho cơ nhị thân.2: Giải phẫu thần kinh VII (Nguồn: A.
Prof Frank Gaillard) -Vùng mặt đi sâu vào tuyến mang tai thần kinh VII chia thành 5 nhánh tận chính. - Nhánh trán: đi qua cung tiếp gò má lên vùng thái dương vận động cho cơ trán, cơ vòng mi, nối với nhánh gò má, nhánh ổ mắt và nhánh lệ của ổ mắt. - Nhánh gò má: đi trên xương gò má đến góc mắt ngoài chi phối vận động cho cơ vòng mi và tuyến lệ. luan an 6 - Nhánh miệng: vận động cho cơ vòng môi, cơ nâng môi trên, cơ gò má lớn và cơ gò má bé và một phần cơ mũi.
- Nhánh bờ hàm dưới: đi vào lớp bám mặt cổ chi phối vận động cho môi dưới và cằm. - Nhánh cổ: chi phối vận động cho cơ bám da cổ. - 70-90% trường hợp có sự liên hệ giữa nhánh miệng và nhánh gò má [87] Ảnh 1.1: Mô hình hóa các nhánh tận của dây VII (nguồn: eDoctorOnline.4 Các cơ chi phối bởi dây thần kinh VII[8],[45],[99] Đặc điểm giải phẫu: - Có 17 đôi cơ và một cơ vòng môi biểu thị nét mặt được chi phối bởi dây VII. - Một đầu cơ bám vào xương hay cân mạc, đầu còn lại bám vào trung bì da, khi cơ co tạo nếp nhăn và biểu lộ cảm xúc.
- Các cơ này được chia thành các nhóm: các cơ bám trên sọ (epicranial), cơ quanh ổ mắt (circumorbital), nhóm cơ vùng mũi (nasal), nhóm cơ vùng miệng (buccolabial). luan an 7 Các cơ: Cơ trán: là một cơ mảnh được gắn kết với lớp cân và cung mày được chi phối bởi nhánh trán. Động tác nâng cung mày và nhăn trán. Cơ vòng mi:là một cơ phẳng chạy vòng quanh ổ mắt gồm 02 phần: phần ổ mắt và phần mi.
Một đầu cơ bám vào vùng thái dương và bờ ngoài ổ mắt, đầu còn lại của cơ bám vào mi mắt. Cơ hoạt động như một cơ thắt của mí mắt làm động tác nhắm mắt và phối hợp với cơ nâng mi làm động tác nâng mi.3: Các cơ bám da mặt (Nguồn: F.Netter) Cơ gò má lớn và cơ gò má bé: đi từ xương gò má đến góc mép. Động tác nâng môi trên gây hở răng hàm trênkhi cười. Đồng thời cơ phối hợp với cơ nâng môi để vận động rãnh mũi má.
Cơ mút:cơ mỏng hình tứ giác nằm giữa hàm trên và hàm dưới đi từ chân bướm hàm đến góc mép. Động tác mút, đối lại lực của răng và lợi khi nhai do vậy làm hạn chế rơi thức ăn. Cơ cười:đi từ cân cơ cắn đến góc miệng. + Động tác nhếch góc mép.
Cơ nâng môi trên:đi từ bờ dưới ổ mắt tới xương gò má và xương hàm trên sau đó đi vào môi trên.+ Động tác nâng môi trên và rãnh mũi má. Cơ vòng môi:hoạt động giống như một cơ thắt, tuy nhiên người ta luan an 8 chia cơ thành 04 phần độc lập (trên, dưới, phải, trái). Động tác đóng miệng và mím môi. Cơ nâng môi trên và cánh mũi:cơ chạy băng qua cánh mũi một phần bám vào xương hàm trên, một phần bám vào rãnh cánh mũi.Động tác đóng và mở lỗ mũi.
Cơ hạ góc miệng, cơ hạ môi dưới: chi phối bởi nhánh bờ hàm. Động tác hạ môi dưới. Cơ bám da cổ: chi phối bởi nhánh cổ, cơ liên kết với phức hợp cơ vòng môi, cơ hạ góc miệng. Phần sâu của cơ liên kết với cơ cười.Động tác trề môi dưới.Giải phẫu cơ cắn và thần kinh cơ cắn[100] 1.
Giải phẫu cơ cắn Vị trí và giới hạn Cơ cắn nằm ở dưới lớp da và cơ bám da mặt, một phần nằm dưới tuyến mang tai. Cơ cắn rất dễ nhận biết thấy khi bệnh nhân cắn khít hàm, có thể sờ thấy bờ trước của cơ cắn nổi lên. Đối với người béo và trẻ em khó nhận biết do không sờ thấy được giới hạn trước. Trong góc sau trên của cơ cắn, ta có thể sờ thấy mỏm lồi cầu, là một chỗ nổi lên lăn dưới tay khi thực hiện động tác nhai.
Các lớp cơ cắn Cơ cắn gồm 03 lớp, ba lớp này hòa vào nhau ở giới hạn trước của cơ.Lớprộng nhất là lớp nông của cơ.Đầu trên lớp nông bám vào 2/3 trước xương gò má đến cung tiếp. Cân của lớp nông chạy xuống dưới, ra sau ôm lấy mặt ngoài của ngành lên xương hàm dưới. Các cân chạy từ cơ của lớp này cũng bám vào nhành lên xương hàm dưới. Lớp giữa của cơ cắn đầu trên bám vào 2/3 sau vàở bở dưới cung tiếp gò má.Mặt sau của lớp này bám vào phần trung tâm của của ngành lên luan an 9 xương hàm dưới.
Lớp sâu của cơ cắn bám vào mặt sau của cung tiếp rồi đến bám vào từ phía trên của ngành lên tới mỏm vẹt xương hàm dưới. Một số quan điểm cho rằng các sợi cân của cơ cắn bám vào sụn khớp của khớp thái dương hàm , do vậy, tổn thương cơ cắn thường gây ảnh chức năng khớp như hạn chế há miệng. Liên quan Lớp da, lớp platysma, cơ cười, cơ gò má lớn và cơ gò má bé lớn, tuyến mang tai, ống tuyến, nhánh của thần kinh VII, động mặt ngang mặt, động mạch thái dương nông nằm ở lớp trên của cơ cắn.Bờ trước cơ cắn được tách ra khỏi cơ mút và nhánh miệng bởi mỡ má Bichat.Lớp trên của bờ sau cơ cắn là tuyến nước bọt mang tai. TKCC và động mạch cơ cắn nằm ở lớp sâu của cơ sau khi băng qua khuyết hàm dưới.
Mạch nuôi cơ cắn Cơ cắn được cấp máu bới nhánh động mạch cơ cắn thuộc động mạch hàm trên, động mạch mặt và nhánh ngang mặt của động mạch thái dương nông. Thần kinh chi phối Chi phối bởi nhánh TKCC thuộc thân trước của V3 thần kinh hàm dưới (mô tả chi tiết ở phần sau). luan an 10 Hình 1. Giải phẫu cơ cắn (nguồn: Gray’s Anatomy 2005) Chức năng vận động của cơ cắn Chức năng chính của cơ là nâng xương hàm dưới lên trên cho động tác cắn và một phần nhỏ cho động tác đưa hàm sang hai bên.
Sự cocơ là ít nhất khi xương hàm dưới ở trạng thái nghỉ.5: Các lớp cơ cắn, động mạch và thần kinh cơ cắn 1.Thần kinh cơ cắn Thần kinh chi phối vận động cơ cắn được gọi là TKCC (masseteric nerve) là một nhánh từthân trước của dây thần kinh hàm dưới. Thần kinh hàm dưới là nhánh V3 thuộc thần kinh sinh ba (dây V). Dây thần kinh sọ số V là một dây hỗn hợp gồm có rễ vận động và rễ cảm giác. Theo Gray: TKCC, nhánh thái dương sâu, nhánh miệng là những nhánh vận động của nhánh thần kinh hàm dưới thuộc dây thần kinh sinh ba [46].
Theo mô tả của Fournier [40], nhánh vận động cho cơ cắn là nhánh lớn nhất trong ba nhánh vận động của dây V. Nhánh TKCC đi xuống dưới, ở phía trước khớp thái dương hàm băng qua khuyết hàm dưới và sau gân cơ thái dương rồi đi vào cơ cắn để chi phối vận động. TKCC sau khi qua khuyết hàm dưới xương hàm dưới thì đi cùng với động mạch cơ cắn vào lớp sâu của cơ cắn. Theo nghiên cứu của Hwang: 69.