Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi một cổng sau phúc mạc cắt thận mất chức năng do bệnh lý lành tính

Luận án tiến sĩ y tế phân tích y học nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi một cổng sau phúc mạc cắt thận mất chức năng do bệnh, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm,

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2022

166
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU CỦA THẬN

1.2. Vị trí và hình thể ngoài của thận

1.3. Liên quan của thận

1.4. Đặc điểm mạch máu thận

1.4.1. Động mạch thận

1.4.2. Biến thể của động mạch thận

1.4.3. Chiều dài và đường kính động mạch thận

1.4.4. Tĩnh mạch thận

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung

3.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

3.3. Quy trình phẫu thuật và ghi nhận kết quả trong mổ

3.4. Theo dõi kết quả trong mổ

3.5. Theo dõi hậu phẫu

3.6. Đánh giá bệnh nhân tái khám

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung

4.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

4.3. Quy trình phẫu thuật và ghi nhận kết quả trong mổ

4.4. Theo dõi trong mổ

4.5. Theo dõi hậu phẫu

4.6. Đánh giá bệnh nhân tái khám

KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Tóm tắt

I. Phẫu thuật nội soi một cổng

Phẫu thuật nội soi một cổng (PTNSMC) là một phương pháp tiên tiến trong điều trị thận mất chức năng do bệnh lý lành tính. Phương pháp này kết hợp các ưu điểm của phẫu thuật nội soi truyền thống với việc sử dụng một vết mổ duy nhất, giúp giảm thiểu xâm lấn và cải thiện thẩm mỹ. PTNSMC đặc biệt hiệu quả trong việc cắt bỏ thận mất chức năng, giảm đau sau phẫu thuật và rút ngắn thời gian hồi phục. Nghiên cứu này tập trung vào việc ứng dụng PTNSMC trong điều trị thận mất chức năng, đánh giá hiệu quả và các yếu tố liên quan đến kỹ thuật này.

1.1. Ưu điểm của PTNSMC

PTNSMC mang lại nhiều lợi ích so với phẫu thuật nội soi truyền thống. Phương pháp này giảm thiểu số lượng vết mổ, từ đó giảm nguy cơ biến chứng liên quan đến đặt trocar như tổn thương cơ, mạch máu, và nhiễm trùng. Ngoài ra, PTNSMC còn giúp cải thiện thẩm mỹ, giảm đau sau phẫu thuật, và rút ngắn thời gian nằm viện. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng PTNSMC có thể được áp dụng hiệu quả trong các trường hợp thận mất chức năng do bệnh lý lành tính, đặc biệt là khi thận bị viêm dính nhiều.

1.2. Thách thức và hạn chế

Mặc dù có nhiều ưu điểm, PTNSMC cũng đặt ra một số thách thức. Phẫu trường hẹp và ít điểm mốc giải phẫu trong phẫu thuật nội soi sau phúc mạc có thể gây khó khăn trong thao tác, đặc biệt là với thận ứ nước lớn hoặc khối u thận. Ngoài ra, việc kiểm soát cuống thận trong PTNSMC đòi hỏi kỹ năng cao và kinh nghiệm của phẫu thuật viên. Nghiên cứu này cũng đề cập đến các yếu tố cần cải thiện để tối ưu hóa hiệu quả của PTNSMC trong điều trị thận mất chức năng.

II. Cắt thận mất chức năng

Cắt thận mất chức năng là phương pháp điều trị triệt để trong các trường hợp thận không còn khả năng hoạt động do bệnh lý lành tính. Phương pháp này có thể được thực hiện qua phẫu thuật mở hoặc phẫu thuật nội soi, trong đó phẫu thuật nội soi được ưa chuộng hơn do ít xâm lấn và thời gian hồi phục nhanh hơn. Nghiên cứu này tập trung vào việc ứng dụng PTNSMC trong cắt thận mất chức năng, đánh giá hiệu quả và các yếu tố kỹ thuật liên quan.

2.1. Chỉ định và đối tượng

Cắt thận mất chức năng được chỉ định cho các bệnh nhân có thận không còn khả năng hoạt động do bệnh lý lành tính như viêm thận, sỏi thận, hoặc bệnh lý khúc nối bể thận niệu quản. Nghiên cứu này xác định các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân được điều trị bằng PTNSMC, bao gồm tuổi, giới tính, và các bệnh lý kèm theo. Kết quả cho thấy PTNSMC phù hợp với đa số bệnh nhân, đặc biệt là những người có tiền sử phẫu thuật nhiều lần qua phúc mạc.

2.2. Kỹ thuật và quy trình

Quy trình PTNSMC trong cắt thận mất chức năng bao gồm việc tạo khoang sau phúc mạc, kiểm soát cuống thận, và cắt bỏ thận qua một vết mổ duy nhất. Nghiên cứu đánh giá các yếu tố kỹ thuật như thời gian đặt cổng nội soi, thời gian phẫu thuật, và các biến chứng trong mổ. Kết quả cho thấy PTNSMC có thời gian phẫu thuật ngắn hơn và tỷ lệ biến chứng thấp hơn so với phẫu thuật nội soi truyền thống.

III. Bệnh lý lành tính và điều trị

Bệnh lý lành tính là nguyên nhân chính dẫn đến thận mất chức năng, bao gồm các bệnh như viêm thận, sỏi thận, và bệnh lý khúc nối bể thận niệu quản. Nghiên cứu này tập trung vào việc ứng dụng PTNSMC trong điều trị các bệnh lý lành tính gây mất chức năng thận, đánh giá hiệu quả và các yếu tố liên quan đến kỹ thuật này.

3.1. Nguyên nhân và chẩn đoán

Các bệnh lý lành tính như viêm thận, sỏi thận, và bệnh lý khúc nối bể thận niệu quản là nguyên nhân chính dẫn đến thận mất chức năng. Nghiên cứu này xác định các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân, bao gồm triệu chứng toàn thân, kết quả xét nghiệm máu, và hình ảnh học. Kết quả cho thấy PTNSMC là phương pháp hiệu quả trong điều trị các bệnh lý lành tính gây mất chức năng thận.

3.2. Hiệu quả điều trị

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của PTNSMC trong điều trị các bệnh lý lành tính gây mất chức năng thận. Kết quả cho thấy PTNSMC giúp giảm đau sau phẫu thuật, rút ngắn thời gian nằm viện, và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Ngoài ra, phương pháp này còn mang lại kết quả thẩm mỹ tốt, giúp bệnh nhân hài lòng hơn với quá trình điều trị.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi một cổng sau phúc mạc cắt thận mất chức năng do bệnh lý lành tính

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU CỦA THẬN 1. Vị trí và hình thể ngoài của thận Bình thường cơ thể có hai thận nằm sau phúc mạc ở thành bụng sau, trong góc tạo bởi xương sườn XI và cột sống thắt lưng, ngay trước cơ thắt lưng [11]. Phúc mạc thành bụng sau cùng với hai lá mạc thận chia khoang sau PM thành 3 khoang bao gồm khoang quanh thận, khoang cạnh thận trước, khoang cạnh thận sau [99].

Một số tác giả mô tả thêm khoang mạch máu trung tâm chứa ĐM chủ bụng, TM chủ dưới và các hạch bạch huyết bao quanh [150]. Các khoang và mạc sau phúc mạc [99] 1.Khoang cạnh thận 3.Lá sau mạc thận 4.khoag cạnh thận 5.lá trước mạc thận 8.khoang sau PM 9. PM thành bụng sau 10. Đại tràng xuống 17.Khoang cạnh thận trước 18.Mạc thành bụng bên 19.

Khoang cạnh thận sau 20. Khoang sau PM 21. Mỡ quanh thận 22. Thân đốt sống 23.

Cơ dựng sống 4 Thận có hình hạt đậu màu nâu đỏ cao 12 cm rộng 6 cm dày 3cm, được bọc bởi một bao xơ bề mặt trơn láng. Lớp bao xơ này có thể được bóc ra một cách dễ dàng và hay được ứng dụng trong cắt thận dưới bao khi thận bị viêm dính nhiều. Thận có 2 cực trên và dưới, 2 mặt trước và sau, 2 bờ ngoài và trong. Nơi lõm vào ở bờ trong tạo thành rốn thận, rốn thận là nơi thông ra ngoài của xoang thận, có mạch máu, thần kinh và bể thận đi qua [11].

Liên quan của thận 1. Liên quan phía trước Thận phải nằm gần hết trong tầng trên mạc treo kết tràng ngang nhưng ngoài PM. Cực trên và phần trên bờ trong liên quan với tuyến thượng thận. Cuống thận và bờ trong của thận phải liên quan với phần xuống của tá tràng.

Bờ này cũng gần TM chủ dưới nên khi cắt thận c ó thể gây tổn thương cho tá tràng và TM này. Một phần lớn mặt trước thận phải liên quan với vùng gan ngoài phúc mạc, phần còn lại liên quan với góc kết tràng phải và ruột non [11, 106, 115]. Thận trái nằm một nửa ở tầng trên, một nửa ở tầng dưới mạc treo kết tràng ngang, có rễ mạc treo kết tràng ngang nằm bắt chéo phía trước. Cực trên và phần trên bờ trong cũng liên quan với tuyến thượng thận.

Phía dưới lần lượt liên quan với mặt sau dạ dày (qua túi mạ c nối), với thân đuôi tụy, lách, góc kết tràng trái, phần trên kết tràng xuống và ruột non [11, 99, 106]. Liên quan phía sau Mặt sau là mặt phẫu thuật của thận. Xương sườn 12 nằm chắn ngang thận ở phía sau chia thận làm 2 tầng: tầng ngực ở trên, tầng thắt lưng ở dưới. Tầng ngực liên quan chủ yếu với xương sườn 11, xương sườn 12, cơ hoành và ngách sườn hoành của màng phổi.

Tầng thắt lưng 5 liên quan với cơ thắt lưng, cơ vuông thắt lưng và cơ ngang bụng [11, 115]. Hình chiếu xs 11 Vùng liên quan cơ Vùng liên quan cơ hoành hoành Hình chiếu xs 12 Hình chiếu xs 12 Vùng liên quan cân Vùng liên quan cân cơ ngang bụng cơ ngang bụng Vùng liên quan cơ Vùng liên quan cơ vuông thắt lưng vuông thắt lưng Vùng liên quan cơ Vùng liên quan cơ thắt lưng lớn thắt lưng lớn Hình 1. Liên quan phía sau của Thận [115] 1. Liên quan phía trong Từ sau ra trước mỗi thận liên quan với cơ thắt lưng và phần bụng của thân thần kinh giao cảm ở bờ trong cơ này, bó mạch tuyến thượng thận, bó mạch thận, bể thận và đoạn trên niệu quản, bó mạch sinh dục, TM chủ dưới ở thận phải và ĐM chủ bụng đối với thận trái [11, 115].

Liên quan phía ngoài Liên quan phía ngoài không quan trọng. Liên quan phía ngoài của thận tiếp xúc với lớp mỡ quanh thận và lớp cơ thành bụng [11, 115]. Đặc điểm mạch máu thận 1. Động mạch thận Nguyên ủy và phân nhánh Bình thường mỗi thận có một động mạch (ĐM) xuất phát từ bờ bên của ĐM chủ bụng ngay dưới gốc của ĐM mạc treo tràng trên.

ĐM thận đi sau TM thận và đi trước bể thận, khi gần tới rốn thận chúng chia thành 2 nhánh trước và sau. Hai nhánh này thường chia ra 5 nhánh ĐM phân thùy đi vào xoang thận để cung cấp máu cho 5 phân thùy thận tương ứng là phân thùy trên, trước trên, trước dưới, dưới và phân thùy sau [106]. Tuy 6 vậy cũng có trường hợp ĐM thận khi chưa vào đến rốn thận đã phân ra các nhánh sớm, điều này dẫn đến có nhiều phân nhánh ngoài rốn thận gây ra các khó khăn khi kiểm soát ĐM trong lúc cắt thận. ĐM thận được gọi là phân nhánh sớm khi nó tách ra các nhánh cách gốc ĐM thận chưa đến 2 cm hoặc phân nhánh ở vị trí sau TM chủ dưới [17, 149].

Theo Raman và cộng sự, phân nhánh sớm của ĐM thận trái xảy ra trong 21% các trường hợp trong khi phân nhánh sớm của ĐM thận phải là 15% [133]. Các biến thể của động mạch thận Các biến thể giải phẫu của ĐM thận cần được lưu ý, không những để thực hiện các phẫu thuật trên thận cũng như ghép thận (Pérez và cộng sự, 2013) [17] mà còn để thực hiện các kỹ thuật mới ví dụ như can thiệp vào ĐM thận để tắc mạch trong trường hợp chảy máu từ phân thùy thận, hoặc để tái thông ĐM thận hay nong rộng ĐM thận điều trị tăng huyết áp kháng trị (Atherton và cộng sự, 2012) [18]. Người ta cũng đã chỉ ra rằng đường đi của các ĐM cực dưới xuất phát từ ĐM chủ có thể làm tắc nghẽn niệu quản trong bệnh lý khúc nối bể thận niệu quản. Do đó cần nghiên cứu các biến thể của ĐM thận để có phương pháp điều trị phù hợp và chủ động khống chế ĐM thận khi PTNS cắt thận [26].

Biến thể giải phẫu ĐM thận được chia làm 2 loại, thứ nhất là biến đổi về số lượng ĐM thận (2 ĐM thận trở lên, thậm chí đến 5 ĐM thận), thứ hai là dạng biến đổi về nguyên ủy và vị trí vào thận của ĐM thận (ĐM thận không xuất phát từ ĐM chủ, mà từ ĐM thân tạng, ĐM mạc treo tràng trên, ĐM chậu… hay ĐM thận đi vào thận ở nhu mô mặt trước, mặt sau, cực trên, cực dưới mà không đi vào rốn…) [26]. Biến thể nhiều ĐM thận thường gặp ở bên phải hơn bên trái, nhiều thống kê cho thấy khoảng 30% số trường hợp có nhiều hơn một ĐM thận được phát hiện, biến thể nhiều ĐM thận xảy ra cùng lúc cả hai bên ít gặp hơn, chiếm tỷ lệ 10% các trường hợp [84, 148]. Mehmet Sarier nghiên cứu 7 2144 trường hợp ĐM của người hiến thận trong đó có đến 90,6% hiến thận ở bên trái, tác giả thấy rằng có 81,1% thận hiến chỉ có 1 ĐM cung cấp máu cho thận và có 18,9% thận có nhiều hơn 1 ĐM, trong đó có 2 trường hợp có đến 4 ĐM chiếm 0,1% [147]. Sampaio cũng đã báo cáo trường hợp thận có đến 5 ĐM thận [146].

Khi thận có nhiều ĐM cùng cung cấp máu, các ĐM này có thể cùng đi vào rốn thận và lúc đó chúng có khẩu kính tương đương. Tuy vậy không phải lúc nào các ĐM thận cũng cùng đi vào rốn thận, có lúc chúng xuyên thẳng vào bề mặt nhu mô thận ngoài rốn thận, lúc đó các ĐM này có đường kính nhỏ hơn các ĐM đi qua vùng rốn và được gọi là ĐM phụ (accessory artery) [88]. Động mạch phụ (accessory artery) xảy ra trên 25% các trường hợp, ĐM phụ thường xuất phát từ ĐM chủ đi trực tiếp vào bất kỳ vị trí nào của nhu mô thận. Khi chúng vào nhu mô thận ở 2 cực được gọi là ĐM cực thận (polar artery) và thông thường thì ĐM cực trên có khẩu kính nhỏ hơn ĐM cực dưới [88].

Ngoài ra người ta còn phát hiện thấy ĐM phụ xuất phát từ ĐM chậu, ĐM mạc treo tràng trên, ĐM thân tạng… [84]. Tuy có khẩu kính nhỏ hơn ĐM chính nhưng ĐM phụ vẫn cung cấp máu để thực hiện chức năng một phần thận một cách bình thường, không phải lúc nào các ĐM phụ cũng gây nên các bệnh lý lên thận, lúc chúng gây ra các bệnh lý tại thận thì được gọi là ĐM bất thường (aberrant artery) như trường hợp ĐM cực dưới gây nên bệnh lý khúc nối bể thận niệu quản [88, 106]. Chiều dài và đường kính động mạch thận Chiều dài của ĐM thận không những phụ thuộc vào sự phân nhánh tận sớm hay muộn mà còn phụ thuộc vào nguyên uỷ và đường đi của nó. Một số tác giả trên thế giới báo cáo chiều dài ĐM thận trái dài trung bình từ 3cm đến 5cm, đường kính 4-6 mm, ĐM thận phải có đường kính tương 8 tự và dài hơn ĐM thận trái khoảng 1 cm vì có đoạn đi sau TM chủ dưới [68, 105, 142, 160].

Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Nguyễn Quang Quyền, chiều dài của động mạch thận phải (55mm) dài hơn chiều dài của động mạch thận trái (48,36mm) và đường kính của mỗi động mạch từ 4,2 - 4,3 mm [11]. Tĩnh mạch thận Nguyên ủy và phân nhánh Tĩnh mạch (TM) bắt nguồn từ vỏ thận và tủy thận. Trong vỏ thận, TM bắt nguồn từ các tiểu TM hình sao sau đó đổ vào các tiểu TM gian tiểu thùy. Ở tủy thận, TM bắt nguồn từ các tiểu TM thẳng.

Các TM ở cả 2 vùng sau đó đều đổ về các TM cung rồi tập trung về các TM gian thùy. Các TM gian thùy này sau đó hợp lại thành các nhánh lớn hơn bao quanh cổ đài thận, các nhánh lớn này sau đó đổ về TM thận, TM thận chạy trước ĐM thận rồi cuối cùng đổ về sườn bên TM chủ dưới ngang mức thân đốt sống L1-L2 [11, 17]. Các TM thận thường ít được các phẫu thuật viên quan tâm hơn ĐM thận vì khác hẳn với ĐM thận, TM thận nối tiếp nhiều với nhau và tạo nên những vòng nối của những TM trong toàn bộ thận nên việc thắt nhánh TM thận không ảnh hưởng nhiều đến hồi lưu TM. Tuy vậy khi số lượng các trường hợp ghép thận ngày càng tăng và việc phẫu thuật lấy thận ghép diễn ra thường xuyên hơn, các PTV bắt đầu quan tâm và nghiên cứu về các bất thường của TM thận để việc lấy thận ghép được an toàn và chất lượng thận ghép được đảm bảo [17, 75].

Tĩnh mạch thận phải TM thận P có chiều dài khoảng 2 đến 2,5 cm và chạy theo hướng lên trên và ra trước để đến TM chủ dưới, nằm ngay sau đoạn II tá tràng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi một cổng cắt thận mất chức năng do bệnh lý lành tính là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc áp dụng kỹ thuật phẫu thuật nội soi một cổng để cắt bỏ thận mất chức năng do các bệnh lý lành tính. Nghiên cứu này không chỉ làm nổi bật tính hiệu quả và an toàn của phương pháp mà còn cung cấp các dữ liệu lâm sàng quan trọng, giúp các bác sĩ và nhà nghiên cứu có cái nhìn toàn diện hơn về quy trình và kết quả điều trị. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực phẫu thuật nội soi tiết niệu.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp phẫu thuật nội soi khác, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu giá trị chẩn đoán của chụp cắt lớp vi tính 64 dãy và đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi sau phúc mạc điều trị hội chứng hẹp khúc nối bể thận niệu quản, hoặc tìm hiểu thêm về ứng dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị ung thư qua Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi lồng ngực và ổ bụng điều trị ung thư thực quản ngực. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ đánh giá kết quả điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ bằng phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi và nạo hạch cũng là một tài liệu đáng chú ý để khám phá thêm về hiệu quả của phẫu thuật nội soi trong các bệnh lý phức tạp.