Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật kiểm soát cuống glisson theo takasaki trong cắt gan điều trị ung thư biểu mô tế bào gan tại bệnh viện trung ương quân đội 108

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson theo Takasaki trong cắt gan điều trị ung thư biểu mô tế bào gan tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Trường đại học

Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

Chuyên ngành

Ngoại tiêu hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2018

154
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Phân chia gan và ứng dụng

1.2. Giải phẫu cuống gan và ứng dụng

1.3. Cắt gan trong ung thư biểu mô tế bào gan

1.3.1. Điều trị sau mổ

1.4. Cắt gan bằng kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson theo Takasaki

1.4.1. Ưu và nhược điểm

1.5. Nghiên cứu kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson theo Takasaki trong cắt gan điều trị ung thư biểu mô tế bào gan

1.6. Nghiên cứu kết quả cắt gan điều trị ung thư biểu mô tế bào gan bằng kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson theo Takasaki

2. CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương tiện

2.4.2. Quy trình phẫu thuật

2.4.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.4.4. Xử lý số liệu

2.4.5. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG III: ĐẶC ĐIỂM CHUNG

3.1. Tuổi và giới

3.2. Các yếu tố nguy cơ

3.3. Lâm sàng và cận lâm sàng

3.3.1. Cận lâm sàng

3.3.2. Đường mở bụng

3.3.3. Đánh giá ổ bụng

3.3.4. Giải phóng gan

3.3.5. Kiểm soát cuống Glisson

3.3.6. Cắt nhu mô gan

3.3.7. Kiểm tra cầm máu, rò mật, che phủ diện cắt

3.3.8. Đặt dẫn lưu, đóng bụng

3.3.9. Kết quả gần

3.3.10. Kết quả xa

4. CHƯƠNG IV: ĐẶC ĐIỂM CHUNG

4.1. Tuổi và giới

4.2. Các yếu tố nguy cơ

4.3. Lâm sàng và cận lâm sàng

4.3.1. Cận lâm sàng

4.3.2. Đường mở bụng

4.3.3. Đánh giá ổ bụng

4.3.4. Giải phóng gan

4.3.5. Kiểm soát cuống Glisson

4.3.6. Cắt nhu mô gan

4.3.7. Kiểm tra cầm máu, rò mật, che phủ diện cắt

4.3.8. Đặt dẫn lưu, đóng bụng

4.3.9. Kết quả gần

4.3.10. Kết quả xa

KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson theo Takasaki

Kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson theo Takasaki là một phương pháp phẫu thuật tiên tiến được áp dụng trong cắt gan để điều trị ung thư gan. Phương pháp này tập trung vào việc kiểm soát các cuống Glisson, bao gồm động mạch gan, tĩnh mạch cửa và đường mật, nhằm giảm thiểu nguy cơ chảy máu và tổn thương mô gan trong quá trình phẫu thuật. Takasaki đã phát triển kỹ thuật này dựa trên nguyên lý giải phẫu gan, giúp phẫu thuật viên dễ dàng xác định và kiểm soát các cuống Glisson một cách chính xác. Kỹ thuật này đã được ứng dụng rộng rãi tại BV Trung ương Quân đội 108 và mang lại kết quả khả quan trong điều trị ung thư biểu mô tế bào gan.

1.1. Ưu điểm của kỹ thuật

Kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson theo Takasaki mang lại nhiều ưu điểm trong phẫu thuật gan. Đầu tiên, kỹ thuật này giúp giảm thiểu lượng máu mất trong quá trình phẫu thuật nhờ việc kiểm soát chặt chẽ các cuống Glisson. Thứ hai, nó cho phép phẫu thuật viên thực hiện cắt gan một cách chính xác và an toàn, đặc biệt trong các trường hợp ung thư gan phức tạp. Cuối cùng, kỹ thuật này còn giúp giảm thiểu nguy cơ biến chứng sau mổ, đặc biệt là suy gan và rò mật.

1.2. Nhược điểm và thách thức

Mặc dù có nhiều ưu điểm, kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson theo Takasaki cũng đối mặt với một số thách thức. Đầu tiên, kỹ thuật này đòi hỏi phẫu thuật viên phải có trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm dày dặn trong phẫu thuật gan. Thứ hai, việc kiểm soát các cuống Glisson đòi hỏi thời gian phẫu thuật kéo dài, có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng và các biến chứng khác. Cuối cùng, kỹ thuật này có thể không phù hợp với tất cả bệnh nhân, đặc biệt là những người có cấu trúc gan bất thường hoặc bệnh lý nền phức tạp.

II. Ứng dụng kỹ thuật trong điều trị ung thư gan

Ứng dụng kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson theo Takasaki trong cắt gan đã mang lại nhiều kết quả tích cực trong điều trị ung thư gan tại BV Trung ương Quân đội 108. Kỹ thuật này không chỉ giúp loại bỏ khối u một cách triệt để mà còn bảo tồn tối đa chức năng gan, giảm thiểu nguy cơ tái phát và nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân. Nghiên cứu tại bệnh viện đã chỉ ra rằng, tỷ lệ sống sót sau 5 năm của bệnh nhân được điều trị bằng kỹ thuật này cao hơn đáng kể so với các phương pháp truyền thống.

2.1. Kết quả lâm sàng

Các kết quả lâm sàng từ BV Trung ương Quân đội 108 cho thấy, kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson theo Takasaki đã giúp giảm đáng kể tỷ lệ biến chứng sau mổ, bao gồm chảy máu, rò mật và suy gan. Bên cạnh đó, kỹ thuật này cũng giúp rút ngắn thời gian hồi phục và giảm thời gian nằm viện cho bệnh nhân. Điều này không chỉ mang lại lợi ích cho bệnh nhân mà còn giảm gánh nặng chi phí cho hệ thống y tế.

2.2. So sánh với các phương pháp khác

So với các phương pháp cắt gan truyền thống, kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson theo Takasaki cho thấy nhiều ưu điểm vượt trội. Đặc biệt, kỹ thuật này giúp giảm thiểu nguy cơ tổn thương mô gan lành và bảo tồn tối đa chức năng gan. Ngoài ra, kỹ thuật này cũng được đánh giá cao về tính an toàn và hiệu quả trong điều trị ung thư gan, đặc biệt là các trường hợp khối u lớn hoặc vị trí khó tiếp cận.

III. Giải phẫu và phân chia gan

Giải phẫu và phân chia gan là yếu tố then chốt trong việc áp dụng thành công kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson theo Takasaki. Theo nguyên lý của Takasaki, gan được chia thành các phân thùy và hạ phân thùy dựa trên sự phân bố của các cuống Glisson. Việc hiểu rõ cấu trúc giải phẫu gan giúp phẫu thuật viên xác định chính xác vị trí cần cắt bỏ, đồng thời bảo tồn tối đa các mô gan lành. Điều này đặc biệt quan trọng trong điều trị ung thư gan, nơi việc loại bỏ triệt để khối u là yếu tố quyết định đến tiên lượng bệnh.

3.1. Phân chia gan theo Couinaud

Phân chia gan theo Couinaud là một trong những phương pháp phổ biến nhất được sử dụng trong phẫu thuật gan. Theo phương pháp này, gan được chia thành 8 phân thùy dựa trên sự phân bố của tĩnh mạch cửa. Mỗi phân thùy được chi phối bởi một cuống Glisson riêng biệt, giúp phẫu thuật viên dễ dàng xác định và kiểm soát các vùng gan cần cắt bỏ. Phương pháp này đã được áp dụng rộng rãi tại BV Trung ương Quân đội 108 và mang lại hiệu quả cao trong điều trị ung thư gan.

3.2. Phân chia gan theo Tôn Thất Tùng

Phân chia gan theo Tôn Thất Tùng là một phương pháp khác được sử dụng phổ biến tại Việt Nam. Theo phương pháp này, gan được chia thành các phân thùy và hạ phân thùy dựa trên sự phân bố của đường mật. Phương pháp này không chỉ giúp phẫu thuật viên dễ dàng xác định vị trí khối u mà còn giúp bảo tồn tối đa chức năng gan trong quá trình cắt gan. Điều này đặc biệt quan trọng trong điều trị ung thư gan, nơi việc bảo tồn mô gan lành là yếu tố quyết định đến tiên lượng bệnh.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật kiểm soát cuống glisson theo takasaki trong cắt gan điều trị ung thư biểu mô tế bào gan tại bệnh viện trung ương quân đội 108

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư biểu mô tế bào gan (UBTG) là bệnh lý thường gặp, hàng năm ước tính có 500.000 trường hợp mới mắc và 800.000 bệnh nhân tử vong. Việt Nam nằm trong vùng dịch tễ có tỉ lệ mắc bệnh cao nhất liên quan chặt chẽ tới tình trạng nhiễm virus viêm gan B, theo GLOBOCAN (2012), khoảng 22.000 người mới mắc và 21.000 người tử vong/năm [1], [2], [3]. Tỉ lệ tử vong gần bằng tỉ lệ mới mắc cho thấy việc kiểm soát, điều trị và tiên lượng căn bệnh này còn hết sức khó khăn. Hiện nay, có nhiều phương pháp điều trị ung thư biểu mô tế bào gan: tiêm cồn, nút mạch hóa chất, đốt nhiệt cao tần, tắc mạch với hạt vi cầu tải hóa chất, tắc mạch xạ trị, ghép gan.

Tuy nhiên, phẫu thuật cắt gan là phương pháp điều trị cơ bản và hiệu quả nhất. Nhờ sự phát triển của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh, khả năng đánh giá chức năng gan trước mổ, dụng cụ phẫu thuật, kỹ thuật mổ và hồi sức, phẫu thuật cắt gan ngày càng thu được kết quả tốt hơn với tỉ lệ tai biến, biến chứng và tử vong đã giảm một cách đáng kể [4], [5], [6], [7]. Năm 1888, Lagenbach lần đầu tiên thực hiện thành công phẫu thuật cắt gan điều trị cho một bệnh nhân u gan [8], [9]. Năm 1939, từ nền tảng luận văn “Sự phân bố các tĩnh mạch của gan và những áp dụng để cắt gan”, Tôn Thất Tùng đã đưa ra phương pháp cắt gan có kế hoạch gọi là “Kỹ thuật cắt gan bằng cách thắt các cuống Glisson trong nhu mô gan”.

Sau đó, phương pháp cắt gan Tôn Thất Tùng nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam cũng như trên thế giới [10], [11], [12]. Năm 1952, tại Hội nghị Ngoại khoa Quốc tế tổ chức ở Copenhague, Lortat – Jacob trình bày phương pháp cắt gan phải có kế hoạch bằng cách thắt động mạch, đường mật, tĩnh mạch cửa riêng biệt ở rốn gan trước khi cắt gan [8]. Năm 1982, Bismuth đưa ra kỹ thuật cắt gan phối hợp phương pháp Tôn Thất Tùng và Lortat – Jacob [13]. Trên thế giới, đã có các nghiên cứu về cắt gan theo Takasaki điều trị ung thư biểu mô tế bào gan, nhưng vẫn còn những ý kiến khác nhau về đặc điểm kỹ thuật cũng như kết quả của phẫu thuật [18], [19], [20], [21], [22], [24], [25]…Tại Việt Nam, các thống kê tập trung chủ yếu vào kết quả các phương pháp điều trị ung thư biểu mô tế bào gan, chưa có nghiên cứu cơ bản nào trình bày ứng dụng kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson theo Takasaki trong phẫu thuật cắt gan điều trị ung thư biểu mô tế bào gan.

Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “ Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson theo Takasaki trong cắt gan điều trị ung thư biểu m ô tế bào gan tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108”, nhằm 2 mục tiêu: 1- Nghiên cứu kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson theo Takasaki trong cắt gan điều trị ung thư biểu m ô tế bào gan. 2- Đánh giá kết quả cắt gan điều trị ung thư biểu m ô tế bào gan bằng kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson theo Takasaki. PHÂN CHIA GAN, GIẢI PHẪU CUỐNG GAN VÀ ỨNG DỤNG 1. Phân chia gan và ứng dụng Phân chia gan dựa trên cơ sở các thành phần trong bao Glisson (động mạch gan, tĩnh mạch cửa và đường mật), được các nhà ngoại khoa ủng hộ và đến nay vẫn có ý nghĩa thực tiễn tốt.

Năm 1654, Glisson trình bày sự phân chia của tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch gan. Tác giả giới thiệu sơ đồ của ba tĩnh mạch gan, trong đó tĩnh mạch gan giữa và tĩnh mạch gan trái có thân chung. Ngoài ra, tác giả còn đưa ra khái niệm bao xơ chung (còn gọi là bao Glisson), với các thành phần nằm bên trong gồm tĩnh mạch cửa, động mạch gan và đường mật [26]. Năm 1888, Rex là người đầu tiên đề cập đến khái niệm phân chia: gan phải và gan trái về mặt kích thước và chức năng.

Tiếp đến, Cantlie (1898) và Bradley (1909) khẳng định và mô tả chính xác hơn ranh giới phân chia gan phải và trái: là mặt phẳng qua gan từ giường túi mật đến khuyết tĩnh mạch chủ duới và chứa tĩnh mạch trên gan giữa [26]. Trường phái của Anh – Mỹ: đại diện là Healey & Schroy (1953), phân chia gan theo hệ thống đường mật. Sau Healey & Schroy là Goldsmith và Woodburn phân chia gan rõ ràng hơn [27]. Trường phái của Pháp: đại diện là C.

Trường phái Viêt Nam: + Tôn Thất Tùng (1962), phân chia gan theo hệ thống đường mật và đưa ra một đề nghị nhằm thống nhất danh pháp giải phẫu phân thuỳ gan giữa các tác giả Pháp và Anh, Mỹ [12], [26]. + Trịnh Văn Minh (1972), nhất trí với phân chia gan của Tôn Thất Tùng nhưng có bổ sung: Cơ sở giải phẫu của phân thùy gan: tác giả không chỉ dựa theo sự phân chia hệ tĩnh mạch cửa của Couinaud hay của đường mật như Healey & Schroy và Tôn Thất Tùng, mà theo cả bộ ba cửa bọc trong bao Glisson; hay 3 nói một cách khác là phân chia phân thùy gan theo cả hệ thống cuống Glisson (Glisson Pedicle), trong mối liên hệ với tĩnh mạch gan. Các phân thùy: nửa gan trái không được chia thành 2 bởi một khe rốn như các tác giải Anh – Mỹ, Tôn Thất Tùng hay bởi một khe như Couinaud mà thành ba phân thùy: 2, 3, 4 bởi sự có mặt bởi cả 2 khe nói trên. Các hạ phân thùy: phân thùy trước không phải chỉ được chia thành 2 diện trên - dưới, hay hai hạ phân thùy 5, 8 mà thành ba hạ phân thùy: 5, 8 trong, 8 ngoài cho phép hình dung nhiều kiểu cắt gan khu trú và tiết kiệm khác nhau [26].

Gần đây, nhiều Hội nghị Quốc tế được tổ chức để thống nhất cách phân chia và gọi tên các đơn vị gan chức năng như Hội nghị Terminologia anatomica (1997) tại São Paulo, Hội nghị tại Brisbane (2000) [26], [29]. Couinaud Couinaud dựa theo tĩnh mạch cửa để phân chia gan. Tác giả vẫn lấy khe giữa (khe cửa chính) để chia gan thành hai phần và vẫn gọi tên như các tác giả Mỹ là nửa gan phải và nửa gan trái. Sau đó, mỗi nửa gan được chia thành hai phần, mỗi phần được gọi tên là khu vực.

Như vậy, Couinaud chia gan thành 4 khu: khu bên trái, khu cạnh giữa trái, khu cạnh giữa phải, khu bên phải. Các khu lại được chia thành các phân thùy được đánh số từ 1 đến 9 theo chiều kim đồng hồ nhìn từ mặt trên gan [28]. Gan phải và gan trái tách biệt nhau bởi rãnh chính, rãnh theo trục tĩnh mạch gan giữa. Gan phải bao gồm phân thùy 5, 6, 7, 8.

Phân thùy 5, 8 hợp thành khu cạnh giữa phải. Phân thùy 6, 7 hợp thành khu bên phải. Gan trái gồm các phân thùy 2, 3, 4. Phân thùy 2 là khu bên trái.

Phân thùy 3, 4 hợp thành khu cạnh giữa trái. Phân thùy 1 còn gọi là thùy Spiegel, thùy đuôi tương ứng với phần gan phía trước tĩnh mạch chủ. Thùy đuôi có những tĩnh mạch trên gan độc lập, các tĩnh mạch này đổ trực tiếp vào tĩnh mạch chủ. Năm 1998, Couinaud chia nhỏ thùy đuôi dựa vào phân bố tĩnh mạch cửa, đường mật và tĩnh mạch gan giữa thành 2 phần: phần bên trái là phân thuỳ 1 (thùy Spiegel), phần bên phải là phân thuỳ 9, lấy đường đi của tĩnh mạch gan giữa làm đường phân chia [28].

Phân chia gan theo Couinaud Nguồn: C. Tôn Thất Tùng Theo Tôn Thất Tùng (1963), danh từ thuỳ gan chỉ nên dùng để gọi các thuỳ cổ điển theo hình thể ngoài của gan: thuỳ phải và thuỳ trái ngăn cách nhau bởi khe dây chằng tròn hay khe rốn, còn lại gan được phân chia theo sự phân bố của đường mật [12], [26]. Hai nửa gan phải và trái ngăn cách nhau bởi khe chính hay khe dọc giữa, nửa gan phải được chia thành phân thùy trước và phân thùy sau ngăn cách nhau bởi khe bên phải; nửa gan trái được chia thành 2 phân thùy giữa và phân thùy bên ngăn cách nhau bởi khe dây chằng tròn (khe rốn). Riêng thuỳ đuôi được gọi là phân thùy lưng.

Các phân thùy lại được chia thành các hạ phân thùy và được đánh số giống các phân thùy của Couinaud từ 1 đến 8. Như vậy, Tôn Thất Tùng phân chia: 8 hạ phân thùy dựa theo Couinaud, còn 5 phân thùy thì theo các tác giả Anh – Mỹ. Đề nghị mới của Tôn Thất Tùng chủ yếu về danh pháp, hệ thống hoá lại các đơn vị phân chia theo cách sắp xếp của Việt Nam. Cách gọi tên và hệ thống hoá như vậy rất thuận tiện cho các nhà phẫu thuật khi gọi tên các phẫu thuật tương ứng, đồng thời dễ dàng trao đổi thông tin, tránh sự nhầm lẫn [26].

Như vậy, Tôn Thất Tùng chia gan làm 2: gan phải và gan trái, ngăn cách nhau bởi khe cửa chính. Gan phải bao gồm củ đuôi, phân thùy sau (hạ phân thùy 6, 7), phân thùy trước (hạ phân thùy 5, 8). Gan trái bao gồm phân thùy lưng, phân thùy bên hay thuỳ gan trái (hạ phân thùy 2, 3), phân thùy giữa (phân thùy 4). Phân thuỳ giữa ngăn cách với phân thùy bên bởi khe cửa rốn (dọc chỗ bám dây chằng tròn), hạ phân thùy 2 và 3, ngăn cách nhau bởi 5 khe cửa trái.

Như vậy, Tôn Thất Tùng đã thống nhất cách phân chia của tác giả Anh - Mỹ chia gan thành 4 phân thùy (phân thùy sau, phân thùy trước, phân thùy giữa, phân thùy bên). Thuỳ Spiegel còn gọi là phân thùy lưng. Tôn Thất Tùng cũng đề nghị cách phân chia giống của Couinaud nhưng đổi các phân thùy thành các hạ phân thùy. Phân chia gan theo Tôn Thất Tùng Nguồn: Tôn Thất Tùng [12] 1.

Takasaki Tại cuống gan: đường mật, động mạch gan, tĩnh mạch cửa là ba thành phần riêng biệt khi đến rốn gan thì được bao Glisson bao bọc cả ba thành phần này tạo thành cuống Glisson đi vào nhu mô gan. Như vậy, cách chia này chỉ khác về gọi tên các phân thuỳ, còn hạ phân thuỳ tương tự Tôn Thất Tùng. Cuống Glisson Nguồn: Takasaki [17] 6 1. Thuật ngữ giải phẫu gan và cắt gan Brisbane 2000 Ủy ban Thuật ngữ của Hội Gan - Mật - Tuỵ Quốc tế họp tại Brisbane, năm 2000, đưa ra một bản thuật ngữ riêng, nhằm thống nhất tên gọi các kiểu cắt gan khác nhau [29].

Phân chia gan tại Brisbane 2000 cũng tương tự như các tác giả đã trình bày, tuy nhiên về thuật ngữ có sự thay đổi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson theo Takasaki trong cắt gan điều trị ung thư gan tại BV Trung ương Quân đội 108" trình bày một nghiên cứu quan trọng về việc áp dụng kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson trong phẫu thuật cắt gan, nhằm nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân ung thư gan. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình phẫu thuật mà còn nhấn mạnh những lợi ích của việc kiểm soát cuống Glisson, giúp giảm thiểu biến chứng và cải thiện kết quả điều trị.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp điều trị ung thư và các kỹ thuật phẫu thuật liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật kiểm soát chọn lọc cuống glisson trong cắt gan điều trị ung thư tế bào gan, nơi cung cấp thông tin chi tiết về ứng dụng của kỹ thuật này trong điều trị ung thư gan. Ngoài ra, tài liệu Luận án đánh giá kết quả phẫu thuật cắt đoạn và nối máy trong điều trị ung thư trực tràng giữa và thấp cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp phẫu thuật trong điều trị ung thư. Cuối cùng, tài liệu Luận án nghiên cứu đáp ứng xơ hóa gan ở bệnh nhân viêm gan virus c mạn kiểu gen 1 6 điều trị bằng sofosbuvir phối hợp ledipasvir sẽ cung cấp thêm thông tin về các nghiên cứu liên quan đến bệnh gan, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các vấn đề liên quan đến gan và ung thư.