Tổng quan nghiên cứu

Tăng huyết áp được mệnh danh là kẻ giết người thầm lặng với tỷ lệ mắc ở người trưởng thành ước tính khoảng 47,3%, trong đó có tới 69% người bệnh chưa kiểm soát tốt huyết áp mục tiêu. Trên phạm vi toàn cầu, căn bệnh này đứng thứ 3 trong 10 yếu tố nguy cơ hàng đầu gây ra 7,1 triệu ca tử vong mỗi năm, chiếm 4,5% tổng gánh nặng bệnh tật. Tại Việt Nam, thống kê y tế ghi nhận 91.560 ca tử vong do tăng huyết áp, chiếm 20,8% tổng số ca tử vong và 7,2% gánh nặng bệnh tật toàn quốc. Mặc dù công tác chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp ở tuyến cơ sở tương đối thuận tiện, tỷ lệ người bệnh được quản lý chính thức tại trạm y tế chỉ đạt mức khiêm tốn 13,6%.

Tại tỉnh Vĩnh Long, một khảo sát dịch tễ học trước đây của tác giả Văn Công Minh xác định tỷ lệ tăng huyết áp trong cộng đồng là 33,7%. Để đánh giá thực trạng can thiệp tại y tế cơ sở, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Y học dự phòng của tác giả Lê Trung Hiếu tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ đã tập trung giải quyết hai mục tiêu chính: xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị toàn diện và phân tích một số yếu tố liên quan đến việc không tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp.

Nghiên cứu được triển khai trên cỡ mẫu 720 bệnh nhân đang được quản lý điều trị ngoại trú tại các trạm y tế xã, phường thuộc tỉnh Vĩnh Long trong giai đoạn từ tháng 6/2020 đến tháng 6/2021. Kết quả từ đề tài cung cấp các chỉ số dịch tễ học then chốt, ghi nhận tỷ lệ tuân thủ điều trị chung đạt 43,2% và tuân thủ dùng thuốc đạt 74,0%, đóng vai trò là cơ sở khoa học quan trọng giúp ngành y tế địa phương hoàn thiện chiến lược quản lý bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2020-2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng định nghĩa lâm sàng của Tổ chức Y tế Thế giới và Hội Tim mạch học Quốc tế, xác định một cá nhân mắc tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu từ 140 mmHg trở lên và hoặc huyết áp tâm trương từ 90 mmHg trở lên, hoặc đang duy trì thuốc hạ áp đều đặn mỗi ngày. Khung lý thuyết của đề tài dựa trên mô hình hành vi tuân thủ điều trị của Ranial và Morisky kết hợp định nghĩa đa chiều của Tổ chức Y tế Thế giới, xem tuân thủ điều trị là mức độ phối hợp chặt chẽ giữa hành vi người bệnh với chỉ định chuyên môn của nhân viên y tế.

Về phương diện dùng thuốc, nghiên cứu áp dụng thang đo chuẩn hóa Morisky 8 mục (MAQ-8) với hệ số tin cậy nội tại Cronbach alpha đạt 0,823. Điểm cắt được phân định rõ: người bệnh đạt từ 0 đến 2 điểm được phân loại là tuân thủ dùng thuốc tốt, trong khi trên 2 điểm được xem là không tuân thủ.

Đối với chế độ can thiệp phi dược lý, nghiên cứu căn cứ vào mô hình dinh dưỡng phòng ngừa tăng huyết áp DASH kết hợp khuyến cáo của Bộ Y tế Việt Nam. Các tiêu chí chuẩn hóa bao gồm: duy trì chế độ ăn ít nhất 400 gam hoặc từ 5 suất rau củ và trái cây mỗi ngày; hạn chế muối dưới 5 gam một ngày; tuyệt đối không hút thuốc lá; tiết chế rượu bia dưới 3 đơn vị cồn mỗi ngày ở nam và dưới 2 đơn vị cồn ở nữ; duy trì hoạt động thể lực cường độ trung bình ít nhất 150 phút mỗi tuần; và tuân thủ lịch tái khám định kỳ theo hẹn của trạm y tế.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích dịch tễ học. Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95%, mức sai số tuyệt đối 0,05, tỷ lệ tham chiếu tuân thủ 45,6% từ nghiên cứu của tác giả Nguyễn Bá Nam, kết hợp hệ số thiết kế mẫu cụm là 1,8. Tổng số đối tượng thu thập thực tế là 720 bệnh nhân tăng huyết áp từ 18 tuổi trở lên, sinh sống tối thiểu 6 tháng tại địa phương và không mắc các biến chứng tim mạch cấp tính hay rối loạn nhận thức.

Quy trình chọn mẫu cụm hai giai đoạn được thực hiện bài bản. Giai đoạn 1 tiến hành chọn ngẫu nhiên 4 trên tổng số 8 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Vĩnh Long gồm: Thị xã Bình Minh, Huyện Bình Tân, Huyện Mang Thít và Thành phố Vĩnh Long, lấy toàn bộ các xã đang triển khai chương trình quản lý tăng huyết áp. Giai đoạn 2 tiến hành lập danh sách bệnh nhân quản lý tại từng trạm y tế xã và áp dụng kỹ thuật chọn mẫu hệ thống để chọn ra 30 đến 40 bệnh nhân cho mỗi cụm.

Dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi cấu trúc kết hợp quan sát thực tế sổ theo dõi và bao bì thuốc. Toàn bộ số liệu được làm sạch, mã hóa và phân tích trên phần mềm SPSS 18.0. Lý do lựa chọn mô hình hồi quy logistic đa biến là nhằm kiểm soát triệt để các biến số gây nhiễu, từ đó xác định chính xác tỷ số chênh hiệu chỉnh (Adjusted Odds Ratio) và khoảng tin cậy 95% của các yếu tố nguy cơ dẫn đến tình trạng không tuân thủ điều trị.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 720 bệnh nhân tăng huyết áp với độ tuổi trung bình 66,34 tuổi ghi nhận những phát hiện định lượng nổi bật:

Thứ nhất, tỷ lệ tuân thủ điều trị chung đạt 43,2%, trong khi nhóm không tuân thủ chiếm tỷ lệ 56,8%. Tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc đơn thuần theo thang đo Morisky đạt mức tương đối khả quan là 74,0%, cao hơn rõ rệt so với tỷ lệ tuân thủ chế độ không dùng thuốc là 55,7%.

Thứ hai, có sự chênh lệch lớn giữa các hành vi thay đổi lối sống. Bệnh nhân có tỷ lệ tuân thủ rất cao ở các khía cạnh: hạn chế uống rượu bia đạt 89,9%, không hút thuốc lá đạt 83,9% và thực hiện ăn nhạt đạt 78,8%. Ngược lại, tỷ lệ tuân thủ vận động thể lực đủ 150 phút mỗi tuần chỉ đạt 33,1%, và tỷ lệ bổ sung đủ từ 5 suất rau củ, trái cây mỗi ngày chỉ đạt mức thấp là 23,3%.

Thứ ba, về hoạt động tái khám và kiểm soát huyết áp, có 56,3% người bệnh tuân thủ tái khám đúng hẹn (trong 3 tháng gần nhất có 70,6% bệnh nhân đi tái khám, với 79,7% trong số đó đi đúng lịch hẹn). Nhờ đó, tỷ lệ người bệnh kiểm soát được huyết áp ổn định trong 2 tuần qua đạt 59,9%, tuy nhiên vẫn còn 40,1% bệnh nhân chưa đạt mục tiêu điều trị.

Thứ tư, về nhận thức và lý do gián đoạn điều trị, trong số 71 bệnh nhân không uống thuốc hạ áp mỗi ngày, có đến 64,8% đối tượng tự ý ngừng thuốc vì cảm thấy không có biểu hiện triệu chứng khó chịu, và 32,4% ngừng thuốc do thấy chỉ số huyết áp đã tạm thời trở về mức bình thường.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tỷ lệ tuân thủ điều trị chung đạt 43,2% tại Vĩnh Long phản ánh tính tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Bá Nam tại Cần Thơ (45,6%), cao hơn nghiên cứu của tác giả Ngô Vương Hoàng Giang tại An Giang (15,2%), nhưng thấp hơn nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thơm (79,6%). Mức độ tuân thủ dùng thuốc 74,0% theo thang đo Morisky trong nghiên cứu này tương đương với kết quả của tác giả Saman K Hashmi tại Pakistan (77,0%), nhưng vượt trội hơn so với khảo sát của tác giả Peter Lamptey tại Ghana (2,1%).

Khi trình bày báo cáo hoặc luận văn khoa học, dữ liệu tuân thủ có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ cột ghép so sánh tỷ lệ tuân thủ giữa dùng thuốc (74,0%) và phi dược lý (55,7%), biểu đồ tròn thể hiện phân bố tuân thủ chung (43,2% so với 56,8%), cùng các bảng phân tích hồi quy trình bày hệ số tỷ số chênh Odds Ratio.

Phân tích nguyên nhân cho thấy rào cản lớn nhất nằm ở nhận thức xem tăng huyết áp là bệnh cấp tính thay vì mạn tính suốt đời. Khi phân tích mối liên quan, giới tính nam cho thấy nguy cơ không tuân thủ chế độ phi dược lý cao gấp 2,8 lần so với nữ giới (OR = 2,8; khoảng tin cậy 95%: 2,1 - 3,8; p < 0,001). Điều này bắt nguồn từ việc nam giới có tỷ lệ hút thuốc lá (37,7% so với 0,2% ở nữ) và sử dụng rượu bia (36,1% so với 2,2% ở nữ) cao hơn hẳn. Bên cạnh đó, nhóm người cao tuổi từ 70 tuổi trở lên có tỷ lệ không tuân thủ phi dược lý lên tới 48,1%, chủ yếu do suy giảm trí nhớ và thiếu sự nhắc nhở từ gia đình khi chỉ có 17,3% bệnh nhân được người thân nhắc uống thuốc mỗi ngày.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm thu được, đề tài đề xuất 4 nhóm giải pháp can thiệp trọng tâm:

Thứ nhất, chuẩn hóa và đổi mới nội dung truyền thông giáo dục sức khỏe tại tuyến y tế cơ sở. Trạm y tế xã và Trung tâm y tế huyện cần tổ chức các buổi tư vấn trực tiếp lồng ghép vào ngày cấp phát thuốc, tập trung giải thích cơ chế tiến triển thầm lặng của bệnh. Mục tiêu hướng đến là nâng cao tỷ lệ hiểu đúng về sự cần thiết phải dùng thuốc liên tục từ 35,2% lên trên 85%, đồng thời kéo giảm tỷ lệ tự ý dừng thuốc khi hết triệu chứng từ 64,8% xuống dưới 15% trong giai đoạn 2022-2023.

Thứ hai, triển khai hệ thống quản lý số hóa và tin nhắn nhắc nhở tự động. Sở Y tế tỉnh Vĩnh Long phối hợp cùng các đơn vị viễn thông thiết lập phần mềm quản lý bệnh án điện tử và dịch vụ tin nhắn tự động nhắc lịch uống thuốc, tái khám. Giải pháp này đặt mục tiêu tăng tỷ lệ bao phủ sổ theo dõi từ 34,3% lên 90%, nâng tỷ lệ người bệnh được nhắc nhở uống thuốc từ 17,3% lên 80%, qua đó cải thiện tỷ lệ tái khám đúng hẹn từ 56,3% lên 80% trước năm 2024.

Thứ ba, thành lập mạng lưới câu lạc bộ sức khỏe người cao tuổi và nhóm hỗ trợ đồng đẳng tại khóm, ấp. Hội Người cao tuổi phối hợp chặt chẽ với trạm y tế duy trì các buổi sinh hoạt thể dục dưỡng sinh định kỳ nhằm nâng tỷ lệ vận động thể lực đạt chuẩn từ 33,1% lên 60%, đồng thời hướng dẫn xây dựng thực đơn ăn đủ 5 suất rau quả mỗi ngày, phấn đấu tăng tỷ lệ tuân thủ dinh dưỡng từ 23,3% lên 50% bắt đầu từ quý 2/2022.

Thứ tư, tái đào tạo và nâng cao năng lực quản lý ca bệnh cho đội ngũ y tế thôn bản và cộng tác viên dân số. Trường Đại học Y Dược Cần Thơ phối hợp cùng Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Vĩnh Long tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng tư vấn thay đổi hành vi theo thang đo Morisky và phác đồ DASH, duy trì định kỳ 6 tháng một lần, hướng tới mục tiêu đưa tỷ lệ kiểm soát huyết áp toàn tỉnh từ 59,9% lên trên 75% vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn thạc sĩ này là nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm 1: Cán bộ quản lý y tế và các nhà hoạch định chính sách y tế công cộng tại Sở Y tế, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh. Họ có thể sử dụng bộ số liệu thực địa từ 720 bệnh nhân để đánh giá hiệu quả chương trình mục tiêu y tế dân số, từ đó xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn lực và thuốc hạ áp tại trạm y tế phù hợp cho giai đoạn 2022-2025.

Nhóm 2: Bác sĩ, y sĩ và điều dưỡng trực tiếp công tác tại các trạm y tế xã, phường, thị trấn. Nhân viên y tế cơ sở có thể áp dụng ngay quy trình đánh giá 8 câu hỏi Morisky và bộ tiêu chí lối sống DASH để chuẩn hóa hoạt động tư vấn cá thể hóa, giúp nhận diện sớm nhóm bệnh nhân có nguy cơ bỏ trị cao.

Nhóm 3: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng và Dược lâm sàng. Đề tài cung cấp khung phương pháp luận mẫu mực về kỹ thuật chọn mẫu cụm hai giai đoạn, cách tính toán hệ số thiết kế DE = 1,8 và mô hình phân tích hồi quy logistic đa biến để xử lý dữ liệu hành vi sức khỏe.

Nhóm 4: Bệnh nhân tăng huyết áp, người chăm sóc và các hội đoàn cộng đồng. Tài liệu giúp người bệnh hiểu rõ tầm quan trọng của việc duy trì thuốc hàng ngày thay vì chỉ uống thuốc ngắt quãng khi xuất hiện triệu chứng, đồng thời nắm vững 6 nguyên tắc điều trị không dùng thuốc để tự quản lý huyết áp hiệu quả tại nhà.

Câu hỏi thường gặp

Thang đo Morisky được áp dụng như thế nào trong đánh giá tuân thủ dùng thuốc? Thang đo Morisky gồm 8 câu hỏi chuẩn hóa (MAQ-8) với độ tin cậy Cronbach alpha đạt 0,823 trong nghiên cứu. Bệnh nhân đạt từ 0 đến 2 điểm được xếp vào nhóm tuân thủ tốt. Kết quả tại Vĩnh Long cho thấy 74,0% bệnh nhân tuân thủ dùng thuốc, phản ánh công cụ này rất nhạy và phù hợp để đánh giá nhanh hành vi dùng thuốc tại trạm y tế.

Vì sao tỷ lệ tuân thủ điều trị toàn diện lại thấp hơn đáng kể so với tuân thủ dùng thuốc? Tỷ lệ tuân thủ chung chỉ đạt 43,2% vì đòi hỏi bệnh nhân phải đồng thời uống thuốc đúng chỉ định (đạt 74,0%) và thực hiện tốt ít nhất 4 trên 6 chế độ phi dược lý. Thực tế có đến 76,7% bệnh nhân chưa ăn đủ 5 suất rau quả mỗi ngày và 66,9% chưa vận động thể lực đủ 150 phút mỗi tuần, làm kéo giảm mức tuân thủ toàn diện.

Yếu tố giới tính tác động thế nào đến hành vi không tuân thủ lối sống ở bệnh nhân? Nghiên cứu chỉ ra nam giới có nguy cơ không tuân thủ lối sống cao gấp 2,8 lần nữ giới (OR = 2,8; khoảng tin cậy 95%: 2,1 - 3,8; p < 0,001). Nguyên nhân do nam giới có tỷ lệ hút thuốc lá (37,7% so với 0,2% ở nữ) và uống rượu bia (36,1% so với 2,2% ở nữ) cao hơn rõ rệt, gây cản trở việc duy trì hành vi có lợi cho tim mạch.

Đâu là nguyên nhân phổ biến nhất khiến người bệnh tự ý gián đoạn dùng thuốc? Khảo sát trên nhóm bệnh nhân không uống thuốc đều ghi nhận 64,8% ngưng thuốc do cảm thấy cơ thể bình thường không có triệu chứng khó chịu, và 32,4% tự ngừng khi thấy huyết áp đã ổn định. Điều này cho thấy người bệnh còn ngộ nhận tăng huyết áp là bệnh cấp tính, chỉ điều trị khi có triệu chứng đau đầu, chóng mặt.

Sổ theo dõi huyết áp mang lại lợi ích gì và thực trạng sử dụng hiện nay ra sao? Sổ theo dõi giúp người bệnh ghi nhận chỉ số huyết áp và lịch hẹn tái khám định kỳ. Tuy nhiên, nghiên cứu tại Vĩnh Long ghi nhận chỉ 34,3% bệnh nhân có sổ theo dõi (trong đó 57,1% có thông tin đầy đủ). Việc thiếu công cụ ghi chép trực quan là một trong những nguyên nhân khiến 43,8% bệnh nhân không tuân thủ tái khám đúng hẹn.

Kết luận

  • Tỷ lệ tuân thủ điều trị chung của bệnh nhân tăng huyết áp tại các trạm y tế tỉnh Vĩnh Long đạt 43,2%, trong đó tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc đạt 74,0% và tuân thủ chế độ phi dược lý đạt 55,7%.
  • Tỷ lệ kiểm soát huyết áp ổn định trong 2 tuần gần nhất đạt 59,9%, vẫn còn 40,1% bệnh nhân chưa đạt mục tiêu huyết áp an toàn.
  • Hành vi phi dược lý có sự phân hóa mạnh: tỷ lệ hạn chế rượu bia (89,9%) và không hút thuốc (83,9%) rất cao, nhưng tỷ lệ vận động thể lực đủ 150 phút/tuần (33,1%) và ăn đủ rau quả (23,3%) còn rất hạn chế.
  • Rào cản nhận thức lớn nhất khiến 64,8% người bệnh gián đoạn thuốc là do quan niệm không có triệu chứng thì không cần điều trị.
  • Nam giới có tỷ lệ không tuân thủ lối sống cao gấp 2,8 lần so với nữ giới do ảnh hưởng của thói quen hút thuốc lá và sử dụng rượu bia.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là cung cấp bức tranh dịch tễ học toàn diện về thực trạng quản lý bệnh không lây nhiễm tại trạm y tế xã, chỉ rõ những khoảng trống hành vi cần ưu tiên can thiệp. Trong giai đoạn 2022-2025, ngành y tế cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và truyền thông thay đổi hành vi tại cộng đồng. Các nhà khoa học, bác sĩ lâm sàng và nhà quản lý y tế hãy tích cực tham khảo, trích dẫn và ứng dụng kết quả nghiên cứu này để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe tim mạch cho nhân dân.