CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về cây Rau ngót (Breynia androgyna (L. Vị trí phân loại Cây Rau ngót còn có tên gọi khác là bồ ngót, bù ngót, hắc diện thần (Trung Quốc) [4]. Theo Hệ thống phân loại của A.
Takhtajan [9], Breynia androgyna (L. & NPBalakr có vị trí phân loại như sau: Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Phân lớp: Dilleniidae Bộ: Euphorbiales Họ: Phyllanthaceae Chi: Breynia Loài: Breynia androgyna (L. & NPBalakr Tên đồng danh: Sauropus androgynus (L. Đặc điểm thực vật, phân bố, sinh thái 1.
Đặc điểm thực vật Cây nhỏ, nhẵn, có thể cao tới 1,5 – 2m. Có nhiều cành mọc thẳng. Cây trồng thường chỉ cao 0,9 – 1m. Vỏ thân cây màu xanh lục, sau màu nâu nhạt.
Lá mọc so le, dài 4 - 6cm, rộng 15 - 30mm, cuống rất ngắn 1- 2mm có 2 lá kèm nhỏ, phiến lá nguyên hình trứng dài hoặc bầu dục, mép nguyên. Hoa đực ở mọi kẽ lá thành xim đơn ở phía dưới, hoa cái ở trên. Quả nang hình cầu, hạt có vân nhỏ [4]. Phân bố, sinh thái Loài rau ngót hiện chưa biết chính xác về nguồn gốc, song, cây mọc hoang dại ở Srilanca; vùng Sikkim, Kabasi và Abor của Ấn Độ.
Rau ngót được trồng rộng rãi ở một số nước Ấn Độ, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á khác [6]. Ở Việt Nam, rau ngót là loại cây trồng từ lâu đời, ở tất cả các vùng đồng bằng, trung du và vùng núi thấp để lấy lá làm rau ăn. Cây sinh trưởng tốt trên nhiều loại đất, thích nghi với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm, với nhiệt độ trung bình 20 – 24 độ C. Rau ngót thuộc loại cây ưa ẩm, ưa sáng và cũng có thể chịu hơi bóng, ra hoa quả hàng năm.
Tuy nhiên, chỉ có những cây không bị bẻ cành, hái lá thường xuyên mới có 2 khả năng ra hoa quả. Đối với những cây mọc hoang dại ở Ấn Độ, hình thức tái sinh tự nhiên chủ yếu là từ hạt [6]. Cây còn có khả năng sinh chồi khỏe từ những thân cành bị cắt [6]. Thành phần hóa học Theo nghiên cứu, trong dịch chiết Rau ngót có chứa các hợp chất alkaloid, triterpenoid, saponin, tannin, polyphenol, glycoside, flavonoid và nhiều các hợp chất khác [4], [15], [21], [35], [37]… 1.
Một số hợp chất flavonoid được phân lập từ Rau ngót STT Tên hợp chất Cấu trúc hóa học TLTK 1 Quercetin [21] 2 Kaempferol [21] 3 3-O-β-D-Glucosyl-7-O-α-L- [22] rhamnosyl-kaempferol R= α-L-rha R’= β-D-glc 3 STT Tên hợp chất Cấu trúc hóa học TLTK 4 3-O-β-D-Glucosyl-(16)-β- [22], [26] D-glucosyl-kaempferol R= H R’= β-D-glc-(16)-β-D-glc 5 3-O- β-D-Glucosyl-(16)-β- [22] D-glucosyl -7-O-α-L- rhamnosyl-kaempferol R= α-L-rha R’= β-D-glc-(16)-β-D-glc 4 Luteolin [21] 5 Apigenin [21] 6 Myricetin [21] 4 Hình 1. Công thức hóa học của Glc và Rha 1. Glycosid Từ cây Rau ngót người ta đã phân lập được các hợp chất sau [10], [31]: - 1 lignan diglycosid là (-)-isolariciresinol 3α-O-β-apiofuranosyl-(12)-O-β- glucopyranosid. - 3 lignan glycosid là (+)-isolariciresinol 3α-O-β-glucopyranosi, (-) isolariciresinol 3α-O-β-glucopyranosi và (+)-syringaresinol di-O-β-glucopyranosi.
- 2 megastigman glycosid là Sauroposid và Corchoionosid C. - 4 nucleosid là Guanosin, Adenosin, 5′-deoxy-5′-methylsulphinyl-adenosin và Uridin. Steroid Có 2 hợp chất steroid đã được phân lập từ cây Rau ngót là 5-en-3β, 20β-diol- stigmast, 5,24 (28)-dien-3β,20β-diol-stigmasta [10]. Các hợp chất khác Trong 100g phần ăn được của Rau ngót chứa nước 86,4g, protein toàn phần 5,3g, carbohydrat 3,4g, natri 28mg, kali 503mg, canxi 169mg, phốt pho 64.5mg, sắt 2,7mg, vitamin A 1037mcg, β-caroten 6220mcg, vitamin B1 0,07mg, vitamin B2 0,39mg, vitamin PP 2,2mg, vitamin C 185mg, lysin 160mg, methionin 130mg, tryptophan 50mg, phenylalanin 260mg, threonin 340mg, valin 170mg, leucin 240mg, isoleucin 170mg [5].
Lá rau ngót chứa hầu hết các khoáng chất thiết yếu, bao gồm natri, kali, canxi, phốt pho, sắt, magie, đồng, kẽm, mangan và coban [15]. Một số hoạt tính sinh học của các chất có trong rau ngót Nhiều nghiên cứu đã chứng minh các chất trong rau ngót có nhiều hoạt tính sinh học như hoạt tính chống oxy hóa [17], [20], [21], [27], [38], kháng khuẩn [17], [32], tăng tiết sữa mẹ trong thời kỳ cho con bú [28], [29], chống đái tháo đường (chiết xuất từ lá Rau ngót ở liều uống làm giảm đáng kể mức đường huyết ở chuột mắc bệnh tiểu đường do alloxan gây ra) [24], giảm đau, hạ sốt, chống viêm [13], [25]. 5 Ngoài ra, trong một nghiên cứu chỉ ra rằng dịch chiết ethanol 96% của cây rau ngót có hoạt tính chống sốt rét mạnh. Kết quả cũng xác nhận rằng cây có tác dụng ức chế và phòng ngừa sự phát triển của ký sinh trùng.
Chiết xuất ethanol cũng được phát hiện là có tác dụng ức chế quá trình giải độc heme [33]. Tác dụng chống oxy hóa Hoạt tính chống oxy hóa được đo lường dựa trên khả năng của chất chiết xuất làm giảm các gốc tự do DPPH. Phương pháp DPPH nhanh, đơn giản và tương đối rẻ tiền. Theo một nghiên cứu, dịch chiết rau ngót có giá trị IC50 chống lại gốc DPPH trong khoảng 85,71-93,91 ppm [20].
Tác dụng kháng khuẩn Kết quả của nghiên cứu cho thấy dịch chiết từ thân cây rau ngót có hoạt tính kháng khuẩn cao. Giá trị nồng độ ức chế tối thiểu dao động từ 7,81 đến 62,5 mg/l trong đó có tác dụng ức chế sự phát triển của Edwardsiella tarda, Escherichia coli, Flavobacter sp., Pseudomonas aeruginosa và Vibrio cholerae ở mức 7,81 mg/l, Klebsiella sp., Aeromonas hydrophila và Vibrio alginolyticus ở mức 15,6 mg/l và có khả năng kiểm soát sự phát triển của Salmonella sp. và Vibrio parahaemolyticus ở mức 62,5 mg/l [17]. Hoạt tính kháng khuẩn của dịch chiết lá rau ngót trong methanol, ethanol và nước được thực hiện riêng biệt.
Dịch chiết methanol cho thấy tác dụng ức chế đối với cả vi khuẩn gram dương (Bacillus cereus, Bacillus subtilis, Staphylococcus aureus) và âm (Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae, Salmonella typhimurium) nhiều hơn so với etanol và nước. Hoạt tính kháng khuẩn của dịch chiết lá rau ngót là do sự hiện diện của nhiều loại vitamin, peptid, glycosid, alkaloid, saponin, terpenoid và flavonoid [32]. Công dụng của Rau ngót trong y học cổ truyền Ở Việt Nam, theo kinh nghiệm lưu truyền trong dân gian, lá Rau ngót có mặt trong những bài thuốc: Chữa sót rau: Lá Rau ngót tươi 40g, rửa sạch, giã nát, thêm nước đun sôi để nguội, gạn lấy 100ml nước chia làm 2 lần, uống cách nhau 10p. Sau khoảng 15-30p phần rau còn lại sẽ bị tống ra.
Cũng có thể dùng lá tươi giã nát đắp vào 2 gan bàn chân [6]. Chữa tưa lưỡi: Lá Rau ngót tươi 5-10g, giã nát vắt lấy nước, thấm vào bông hay vải gạc đánh lên lưỡi, lợi và vòm miệng. Chỉ sau 2 lần trẻ bú lại được [6]. Chữa đái dầm: Lá Rau ngót tươi 50g, rửa sạch, vò vào nước đã đun sôi để nguội, mỗi lần uống 1 bát.
Uống vài lần sẽ có kết quả [6]. Chữa hóc: Giã cây tươi, vắt lấy nước ngậm [4]. 6 Ngoài ra, Rau ngót 30g, phối hợp với nõn cây dứa ăn quả 20g, rệp 7 -9 con, giã nát, thêm nước gạn uống, bã đắp chữa rắn độc cắn [6]. Ở Ấn Độ, nước sắc rễ rau ngót chữa sốt, tiểu tiện khó, chẹt bàng quang, lá và rễ tương giã nát đắp ngoài chứa chứng viêm loét mũi [6].
Các phương pháp định lượng Flavonoid trong Rau ngót Trong các nghiên cứu trước đó, flavonoid trong Rau ngót được định lượng bằng phương pháp đo quang phổ hấp thụ UV-Vis. Cách tiến hành như sau: Phương pháp 1 [19]: Việc chiết xuất bột lá Rau ngót khô (150,0 g) được thực hiện bằng phương pháp ngâm lạnh. Dung môi được sử dụng là ethanol với các nồng độ khác nhau là 50%, 70% và 96%. Mỗi quá trình chiết được thực hiện trong 24 giờ.
Dịch lọc được tách ra khỏi cặn bằng giấy lọc. Phần cặn còn lại được xử lý lại 3 lần. Dịch lọc từ mỗi dung môi được thu thập, làm bay hơi bằng máy cô quay ở 50°C và sử dụng nồi cách thủy ở 50°C cho đến khi thu được dịch chiết đặc. Việc xác định Tổng hàm lượng flavonoid toàn phần (TFC) tuân theo quy trình của Chang và cộng sự (2002) với những sửa đổi.
Chất chuẩn được sử dụng là quercetin. Dung dịch Quercetin có khoảng nồng độ 33-129 ppm được sử dụng để tạo đường chuẩn. Mối quan hệ giữa nồng độ quercetin (x) và độ hấp thụ của nó (y) tuân theo phương trình đường tuyến tính (y = bx ± a). Mỗi cao chiết ethanol của lá Rau ngót được pha với nồng độ 7500 ppm trong methanol được hút bằng pipet 0,5 mL.
Sau đó thêm 1,5 mL methanol và 0,1 mL AlCl3 10%. 0,1 mL natri axetat 1M được bổ sung và pha vừa đủ với lượng nước tối đa là 5 mL. Dung dịch được ủ trong 60 phút ở nhiệt độ phòng. Độ hấp thụ của dung dịch chiết được đo bằng máy quang phổ UV-Vis ở bước sóng 434 nm.
Độ hấp thụ thu được được vẽ thành phương trình đường tuyến tính và sau đó TFC được tính theo công thức: Hàm lượng flavonoid trong dung dịch (µg/mL) nhân với hệ số pha loãng và thể tích dung dịch (mL) rồi chia cho khối lượng dịch chiết (g). TFC được biểu thị bằng mg tương đương với quercetin trên mỗi gam chiết xuất. Mỗi chiết xuất được thử nghiệm với 5 lần lặp lại và được báo cáo là trung bình ± SD. Hàm lượng Flavonoid toàn phần thu được ở dịch chiết lá Rau ngót với dung môi ethanol 50% cao nhất là 11,18 ± 0,38 mgQE/g.
Phương pháp 2 [36]: Bột lá Rau ngót (100,0 g) được chiết lạnh bằng dung môi ethanol 70% (v/v). Quá trình ngâm nguyên liệu kéo dài 24 giờ, thỉnh thoảng khuấy đều. Dịch lọc được lọc bằng 7 giấy lọc. Phần cặn được ngâm lại với cùng dung môi mới.
Quá trình thu hồi kết thúc cho đến khi lần lọc cuối cùng cho kết quả âm tính về sự hiện diện của flavonoid bằng cách xác định bằng xét nghiệm Shinoda. Dịch lọc thu được sau đó được làm bay hơi bằng thiết bị bay hơi quay chân không và tiếp tục sử dụng nồi cách thủy ở nhiệt độ 60°C cho đến khi thu được dịch chiết đặc. Dung dịch gốc Quercetin được pha ở nồng độ 1000 ppm trong ethanol 95%. Dung dịch Quercetin (6 ppm) dùng để xác định bước sóng cực đại (trong khoảng 400-800 nm và thời gian hoạt động (0-60 phút), dung dịch Quercetin với các nồng độ khác nhau, cụ thể là 4-8 ppm được dùng để xác định đường chuẩn quercetin.
Chiết xuất của lá Rau ngót (500 ppm) trong ethanol 95% được sử dụng làm dung dịch thử nghiệm để xác định hàm lượng flavonoid. Thử nghiệm này được thực hiện bằng cách trộn dung dịch thử với 3 mL ethanol 96%, 0,2 mL AlCl3 10%, 0,2 mL natri axetat 1 M và nước cất đến thể tích 10 mL, sau đó lắc và ủ trong 40 phút. Độ hấp thụ của dung dịch được đọc ở bước sóng 434,50nm bằng máy quang phổ UV-Vis.