Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về bệnh động mạch vành mạn 1. Định nghĩa bệnh động mạch vành mạn Bệnh động mạch vành do xơ vữa bao gồm 2 hội chứng trên lâm sàng: hội chứng động mạch vành mạn và hội chứng động mạch vành cấp - Hội chứng động mạch vành mạn gọi tắt là hội chứng mạch vành mạn (HCMVM), là thuật ngữ mới được đưa ra tại Hội Tim Mạch Châu Âu (ESC) 2019, thay cho tên gọi trước đây là đau thắt ngực ổn định, bệnh động mạch vành (ĐMV) mạn, bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ mạn tính hoặc suy vành. Sinh lý bệnh xơ vữa và động mạch vành Xơ vữa động mạch là bệnh lý đặc trưng bởi tình trạng lắng đọng dần các mảng lipid ở thành mạch gây hẹp dần lòng mạch, giảm tưới máu mô ở phía xa.1 Quá trình hình thành mảng xơ vữa được đặc trưng bởi - Suy giảm chức năng nội mạc: Quá trình này được kích hoạt bởi sự tổn thương lớp nội mạc mạch máu do tiếp xúc với các yếu tố kích thích như: Chất độc trong thuốc lá, LDL-C oxy hóa… + Tổn thương tế bào nội mạc.
+ Sự phát triển của mảng xơ vữa. - Rối loạn chức năng nội mạc tạo thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của mảng xơ vữa. - Sự lắng đọng dần dần của các hạt LDL qua lớp nội mạc mạch máu (khi bị tổn thương, suy giảm chức năng) vào thành mạch. - Mảng xơ vữa tích luỹ ngày càng nhiều và hậu quả là hẹp dần lòng mạch, cuối cùng có thể gây tắc mạch.
- Tổn thương hình thành và phát triển 4 - Khi lòng ĐMV bị hẹp đáng kể (thường là trên 70%), dòng chảy tưới máu cơ tim phía sau bị giảm đáng kể trong khi nhu cầu oxy của cơ tim vẫn cần, đặc biệt khi gắng sức. - Sự nứt vỡ mảng xơ vữa + Khi mảng xơ vữa động mạch bị nứt, loét, vỡ ra làm cho dòng máu đang lưu thông tiếp xúc với các thành phần bên trong của mảng xơ vữa-chủ yếu là lõi lipid làm khởi phát quá trình đông máu, hình thành cục máu đông lấp kín lòng mạch dẫn đến thiếu máu, hoại tử cơ tim. + Điều trị tích cực để hạ LDL-C làm thay đổi thành phần lõi lipid của các mảng xơ vữa khác ngoài tổn thương thủ phạm và cũng có tác dụng làm giảm nguy cơ các biến cố tim mạch. Khả năng biến cố động mạch vành cấp liên quan nhiều với sự mất ổn định của những mảng xơ vữa hơn là mức độ hẹp lòng mạch [4], [11].
Nguyên nhân gây bệnh động mạch vành, các yếu tố nguy cơ tim mạch 1. Nguyên nhân gây bệnh động mạch vành Nguyên nhân gây bệnh động mạch vành có thể được phân chia các nhóm như sau: - Bệnh động mạch vành do xơ vữa: Đây là nguyên nhân chính gây ra các bệnh động mạch vành. - Bệnh động mạch vành không do xơ vữa [4]. Yếu tố nguy cơ tim mạch Yếu tố nguy cơ (YTNC) gây bệnh tim mạch là các yếu tố đã được chứng minh có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do bệnh tim mạch.
Các yếu tố nguy cơ chính: Tuổi cao, THA, rối loạn lipid máu, béo phì, hút thuốc lá, lối sống ít vận động [11]. 5 - Tuổi: Tuổi càng cao nguy cơ càng tăng lên. Ở tuổi 70 trở đi, có đến 15% nam giới và 9% nữ giới có bệnh ĐMV có triệu chứng và tăng lên 20% ở tuổi 80 [60]. - Giới và tình trạng mãn kinh: Bệnh ĐMV thường phổ biến và khởi phát sớm hơn ở nam giới.
Tỷ lệ mắc bệnh ĐMV ở nữ tăng nhanh sau tuổi mãn kinh và ngang bằng với nam giới sau 65 tuổi do vai trò của hormone sinh dục [58]. - Hút thuốc lá: Hút thuốc lá tăng nguy cơ bệnh ĐMV xấp xỉ 50%. Hút thuốc lá thụ động có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh ĐMV lên khoảng 25% [34]. - Béo phì: Chỉ số khối cơ thể (BMI) cao đóng góp vào 25 - 49% bệnh ĐMV ở các nước phát triển [34].
- Lối sống ít vận động: Những người hoạt động thể chất có nguy cơ mắc bệnh động mạch vành thấp hơn [34]. - Tăng huyết áp: Tăng huyết áp (THA) là yếu tố nguy cơ độc lập của bệnh động mạch vành, bệnh động mạch ngoại biên và bệnh thận mạn tính [34]. - Rối loạn lipid máu: Có một mối liên quan liên tục, bền vững, độc lập giữa cholesterol toàn phần (TC) hoặc cholesterol trọng lượng phân tử thấp (LDL-C) với các biến cố tim mạch do xơ vữa [34]. - Đái tháo đường típ 2: Đái tháo đường là một trong các yếu tố nguy cơ tim mạch chính của bệnh lý tim mạch do xơ vữa.
Đái tháo đường làm tăng 2 lần biến cố tim mạch [34]. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng hội chứng mạch vành mạn 1. Triệu chứng cơ năng Cơn đau thắt ngực là triệu chứng lâm sàng quan trọng nhất (xác định bệnh nhân đau ngực kiểu động mạch vành) - Vị trí cơn đau thắt ngực: Thường ở sau xương ức và là một vùng, đau có thể lan lên cổ, vai, tay, hàm, thượng vị, sau lưng. Hay gặp lan lên vai trái rồi lan xuống mặt trong tay trái, có khi xuống tận các ngón tay 4, 5.
6 - Hoàn cảnh xuất hiện: Cơn đau có thể xuất hiện tự nhiên, khi gắng sức, xúc cảm mạnh, giảm hoặc biến mất trong vòng vài phút khi các yếu tố trên giảm đi. - Tính chất: Hầu hết các bệnh nhân mô tả cơn đau thắt ngực như thắt lại, bó nghẹt, hoặc bị đè nặng trước ngực và đôi khi cảm giác buốt, bỏng rát. - Thời gian: Thường kéo dài khoảng vài phút (3 - 5 phút), có thể dài hơn nhưng thường không quá 20 phút [11]. Khám lâm sàng Không có dấu hiệu thực tổn nào đặc hiệu trong HCMVM.
Đếm mạch, nhịp tim, đo huyết áp, khám tim và các cơ quan. Tìm kiếm các dấu hiệu suy tim, tìm kiếm các dấu hiệu của bệnh động mạch ngoại vi. Tìm các dấu hiệu của tăng cholesterol [4]. Các thăm dò cận lâm sàng Các xét nghiệm sinh hóa cơ bản, bilan lipid máu (LDL-C, cholesterol toàn phần, HDL-C; Triglycerid).
Điện tâm đồ lúc nghỉ: Chỉ định cho tất cả bệnh nhân HCMVM Có tới > 60% số bệnh nhân đau thắt ngực ổn định có điện tâm đồ bình thường lúc nghỉ. Một số bệnh nhân có sóng Q (chứng tỏ có NMCT cũ). Một số bệnh nhân khác có ST chênh xuống, cứng, thẳng đuỗn ở 2 chuyển đạo liên tiếp. Điện tâm đồ trong cơn đau: Có thể thấy sự thay đổi sóng T và đoạn ST (ST chênh xuống, sóng T âm).
Siêu âm tim: Đánh giá vùng thiếu máu cơ tim (giảm vận động vùng) khi siêu âm tim, có thể tiến hành trong cơn đau ngực hoặc sau cơn đau ngực [4]. Các bệnh cảnh lâm sàng của HCMVM Theo ESC 2019, hội chứng vành mạn tính có 6 bệnh cảnh lâm sàng - Bệnh nhân nghi ngờ có bệnh ĐMV với triệu chứng đau thắt ngực ổn định và/hoặc khó thở. 7 - Bệnh nhân mới khởi phát triệu chứng suy tim/giảm chức năng thất trái và nghi ngờ có bệnh lý bệnh ĐMV. - Bệnh nhân có tiền sử hội chứng động mạch vành cấp hoặc đựợc tái thông ĐMV trong vòng 1 năm, có hoặc không có triệu chứng.
- Bệnh nhân sau hội chứng động mạch vành cấp hoặc được tái thông ĐMV trên 1 năm. - Bệnh nhân đau thắt ngực nghi ngờ do bệnh lý vi mạch hoặc co thắt ĐMV. - Bệnh nhân không triệu chứng, khám sàng lọc phát hiện ra bệnh ĐMV 1. Nồng độ LDL-C huyết thanh và một số yếu tố liên quan với nồng độ LDL-C ở bệnh nhân hội chứng mạch vành mạn 1.
Định nghĩa về rối loạn LDL-C huyết thanh LDL-C (hay còn gọi là lipoprotein phân tử lượng thấp) là một trong bốn xét nghiệm của bilan lipid máu. Rối loạn tăng LDL-C làm tăng quá trình xơ vữa động mạch [13]. Phương pháp định lượng LDL-C huyết thanh Chẩn đoán rối loạn LDL-C được xác định gián tiếp thông qua xét nghiệm các thành phần lipid máu: cholesterol toàn phần, triglycerid (TG), HDL-C [13]. LDL-C được tính theo công thức Friedewald như sau: Khi chỉ số TG <4,5mmol/L hay <397 mg/dL thì LDL-C (mmol/L) = CT – HDL-C – TG/2,2 hoặc: LDL-C (mg/dL) = CT – HDL-C – TG/5.
Nếu nồng độ TG > 4,5 mmol/L (>397mg/dL), phải định lượng LDL-C bằng phương pháp siêu ly tâm hoặc kỹ thuật kết tủa miễn dịch [13],[21]. Mức độ rối loạn LDL-C Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phân loại mức độ rối loạn lipid máu, NCEP – ATP III của Hoa Kỳ năm 2004 [33]. Phân loại mức độ rối loạn LDL-C [33]. Lipid máu Giá trị Phân loại mmol/L mg/dL < 2,59 < 100 Tối ưu 2,59 – 3,35 100 – 129 Gần mức bình thường LDL-C 3,36 – 4, 14 130 – 159 Tăng cao giới hạn 4,15 – 4, 88 160 – 189 Tăng cao ≥ 4,89 ≥ 190 Tăng rất cao 1.
Kiểm soát nồng độ LDL-C huyết thanh trên hội chứng mạch vành mạn Rối loạn LDL-C là một trong những yếu tố khởi đầu cho quá trình hình thành và phát triển của xơ vữa động mạch ở bệnh nhân bệnh mạch vành. Tích tụ lipid trong thành của động mạch, dẫn đến xơ vữa động mạch, hẹp lòng động mạch, gây thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim [50]. TB bọt Vệt mỡ Tổn Xơ vữa Mảng xơ Tổn thương thương vữa vữa vỏ xơ phức tạp/ nứt vỡ Từ thập niên đầu Từ thập niên thứ ba Từ thập niên thứ tư Phát triển chủ yếu do lắng đọng lipid Cơ trơn và Huyết khối, collagen Tụ máu Hình 1. Quá trình diễn tiến của mảng xơ vữa (Nguồn: Herbert C.
Stary 1995) 9 Khi có tăng LDL-C là điều kiện dễ hình thành các phản ứng viêm, nhất là các LDL dạng có kích thước nhỏ và đậm đặc, thì LDL có cơ hội chui vào lớp dưới nội mạch của thành mạch [11], [13]. Người ta cũng đã nhận thấy rằng tình trạng tăng LDL-C làm cho mảng xơ vữa dễ gây biến chứng hơn (nứt bóc tách, loét, tạo tắc nghẽn lòng mạch do huyết khối) [32]. Theo ESC 2019 về kiểm soát LDL-C huyết thanh trên bệnh nhân hội chứng vành mạn thuộc nhóm nguy cơ tim mạch rất cao. Thì statin đựợc chỉ định cho tất cả bệnh nhân hội chứng mạch vành mạn tính với mục tiêu giảm LDL-C ≥ 50% so với mức ban đầu và đích LDL-C < 1,4 mmol/L (<55mg/dL).
Nếu mục tiêu không đạt được với liều tối đa dung nạp được của statin, khuyến cáo phối hợp thêm ezetimibe [39].5 Một số yếu tố liên quan đến không đạt mục tiêu nồng độ LDL-C trên bệnh nhân hội chứng mạch vành mạn 1. Tuổi Ở người dưới 55 tuổi tần suất mắc ĐMV ở nam nhiều gấp 3-4 lần so với nữ.