ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh nội tiết ma ̣n tính , biểu hiện của bệnh là tình trạng tăng Glucose máu thường xuyên , bệnh gây tổn thương nhiều cơ quan làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người bệnh do các biến chứng cấ p và mạn tính , nhất là khi phát hiện và điều trị muộn. Về phương diện xã hội, bệnh ĐTĐ là một gánh nặng cho xã hội, sự điều trị và chăm sóc khá phức tạp và tốn kém. Mỗi năm thế giới phải chi số tiền khổng lồ từ 232 tỷ đến 430 tỷ USD cho việc phòng chống và điều trị [6]. Hiện nay, ĐTĐ là bệnh không lây nhiễm được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) quan tâm hàng đầu trong chiến lược chăm sóc sức khoẻ cộng đồng trong thế kỉ 21 [5], [6].
Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 240 triệu người mắc bệnh đái tháo đường và số này tiếp tục tăng lên. ¦íc tÝnh ®Õn năm 2005 sẽ lên tới 330 triệu người [5]. Tại Hoa Kỳ, số người bị đái tháo đường tăng từ 5,3% năm 1997 lên 6,5% năm 2003 và tiếp tục tăng rất nhanh. Người tuổi trên 65 bị đái tháo đường gấp hai lần người tuổi 45–54.
Tỷ lệ bệnh tăng lên ở các nước phát triển là 42%, nhưng ở các nước đang phát triển sẽ là 170% [8]. Tại Việt Nam, theo kÕt qu¶ nghiªn cøu míi nhÊt tû lÖ m¾c bÖnh §¸i th¸o ®-êng ë ViÖt Nam ®ang t¨ng m¹nh tõ 2,7% (n¨m 2001) lªn tíi 5,7% (n¨m 2008) vµ lµ n-íc cã tèc ®é ph¸t triÓn cña BÖnh đái tháo đường t¨ng nhanh [9]. Các quốc gia hàng năm thường phải dành một phần ngân sách đáng kể của ngành y tế để quản lý bệnh đái tháo đường, trong đó chủ yếu bao gồm những chi phí cho điều trị các biến chứng của bệnh. Bệnh đái tháo đường thường gặp ở những đối tượng đang ở tuổi lao động, điều này cho thấy bệnh đái tháo đường không những làm tăng gánh nặng cho mỗi cá nhân, gia đình mà còn làm tăng gánh nặng cho toàn bộ nền kinh tế xã hội.
2 Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh bệnh đái tháo đường và các biến chứng của nó có thể phòng ngừa được. Việc phát hiện sớm bệnh và các yếu tố nguy cơ gây bệnh, ®Æc biÖt ph¸t hiÖn sím nh÷ng ng-êi bÞ tiÒn đái tháo đường có giá trị rất lớn trong công tác phòng bệnh giảm tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường, làm giảm hoặc chậm các biến chứng, di chứng dẫn đến hạn chế dùng thuốc điều trị, nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh, làm giảm chi phí của xã hội, đồng thời giúp cho công tác quản lý và chăm sóc bệnh nhân đái tháo đường có hiệu quả [5], [6]. Yªn S¬n lµ mét huyÖn n»m ë phÝa nam cña tØnh Tuyªn Quang, n»m bao bäc xung quanh thµnh phè Tuyªn Quang cã diÖn tÝch lµ 1130 km2, d©n sè 159.608 ng-êi, cã 22 d©n téc sinh sèng, cã 30 x· vµ 1 thÞ trÊn. Trong những năm qua, bệnh nhân đái tháo đường phải đi Hà Nội khám và điều trị cã chiÒu h-íng gia t¨ng m¹nh vµ th-êng ph¸t hiÖn ë giai ®o¹n muén ®· cã biÕn chøng, việc đi lại khó khăn tốn kém trong khi kinh tế của người dân còn nghèo.
Hiện nay, số người mắc đái tháo đường trong huyÖn có dấu hiệu ngày càng gia tăng. Việc phát hiện sớm bệnh đái tháo đường vµ nh÷ng ng-êi tiÒn đái tháo đường tại cộng đồng, cũng như việc tư vấn, quản lý điều trị, phßng bệnh là v« cïng rất cần thiết. Tuy nhiên, hiện nay chưa có đề tài nào đánh giá thực trạng cũng như về kết quả công tác quản lý bệnh đái tháo đường tại cộng đồng dân cư trên địa bàn huyÖn. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiªn cøu thùc tr¹ng bệnh đái tháo đường và đánh giá kết quả quản lý chương trình phòng chống bệnh đái tháo đường ở người 30-69 tuổi tại huyện Yên Sơn tØnh Tuyªn Quang” với 2 mục tiêu: 1.
Mô tả thực trạng bệnh đái tháo đường tại huyÖn Yªn S¬n tØnh Tuyªn Quang n¨m 2010. Đánh giá kÕt quả qu¶n lý chương trình phòng chống BÖnh đái tháo ®-êng tại huyÖn Yªn S¬n tØnh Tuyªn Quang. 3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm dịch tễ bệnh đái tháo đƣờng 1.
Định nghĩa bệnh đái tháo đường Đái tháo đường là một nhóm các bệnh chuyển hoá có đặc điểm là tăng glucose máu, hậu quả của sự thiếu hụt bài tiết insulin; khiếm khuyết trong trong hoạt động của insulin hoặc cả hai. Tăng glucose máu mạn tính thường kết hợp với sự hủy hoại, sự rối loạn chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu [9]. Thực trạng bệnh đái tháo đường ở người trưởng thành 1. Tình hình bệnh đái tháo đường trên Thế giới Bệnh ĐTĐ là một trong những bệnh không lây phổ biến nhất, theo Liên đoàn đái tháo đường thế giới (IDF), năm 2000 có khoảng 151 triệu người tuổi 20 - 79 mắc bệnh ĐTĐ, chiếm tỷ lệ 4,6%.
Nơi có tỷ lệ ĐTĐ cao nhất là khu vực Bắc Mỹ, Địa Trung Hải và Trung Đông, với tỷ lệ tương ứng là 7,8% và 7,7%, tiếp đến là khu vực Đông Nam Á: 5,3%, Châu Âu: 4,9%, Trung Mỹ: 3,7%, Tây Thái Bình Dương: 3,6%, Châu Phi 1,2% [8], [9], [14]. Hiện nay, khu vực Tây Thái Bình Dương và khu vực Đông Nam Á là hai khu vực có số người mắc bệnh ĐTĐ đông nhất tương ứng là 44 triệu người và 35 triệu người. Những báo cáo mới đây của IDF cũng khẳng định, tỷ lệ bệnh ĐTĐ týp 2 chiếm 85% - 95% tổng số bệnh nhân ĐTĐ ở các nước phát triển và tỷ lệ này thậm chí cũng cao hơn ở các nước đang phát triển [8]. Bệnh ĐTĐ là bệnh nguy hiểm đe dọa đến tính mạng và gây ra nhiều biến chứng.
Theo IDF, bệnh ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư hoặc thứ năm ở các nước phát triển và đang được coi là một dịch bệnh ở nhiều nước đang phát triển, những nước mới công nghiệp hoá. Những biến 4 chứng của bệnh ĐTĐ rất phổ biến (khoảng 50% bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ có các biến chứng) như: bệnh mạch vành, mạch máu não, bệnh mạch máu ngoại vi, bệnh lý thần kinh , cắt cụt chi, suy thận, tổn thương mắt. Các biến chứng này thường dẫn đến tàn tật và giảm tuổi thọ [5], [48], [53]. Bệnh ĐTĐ đang là vấn đề y tế nan giải, là gánh nặng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, với sự phổ biến của bệnh và các hậu quả nặng nề của bệnh do được phát hiện và điều trị muộn.
Một nghiên cứu về chi phí trực tiếp cho bệnh ĐTĐ tại 8 nước thuộc Châu Âu đó cho thấy: chi phí trực tiếp cho 10 triệu người bị bệnh ĐTĐ trong năm 1998 đó tiêu tốn 26,97 tỷ USD và chi phí trực tiếp cho điều trị bệnh ĐTĐ chiếm 3 - 6% ngân sách dành cho toàn ngành y tế. Năm 1997, cả thế giới đã chi ra 1030 tỷ USD cho điều trị bệnh ĐTĐ. Trong đó, hầu hết các chi phí trên là chi cho điều trị các biến chứng của bệnh [8], [33], [64], [73]. Tỷ lệ bệnh ĐTĐ týp 2 tăng nhanh theo thời gian và sự tăng trưởng kinh tế.
Đầu thế kỷ 20, tần suất mắc bệnh ĐTĐ trên thế giới còn ở mức thấp, WHO ước tính năm 1985 mới có khoảng 30 triệu người trên thế giới mắc bệnh ĐTĐ, tới 1994 là 110 triệu và 1995 đó là 135 triệu (chiếm 4% dân số toàn cầu). Dự báo: năm 2010 sẽ là 221 triệu người mắc bệnh ĐTĐ và 2025 là 330 triệu người (chiếm 5,4% dân số toàn cầu). Tỷ lệ đái tháo đường ở châu Á cũng gia tăng mạnh mẽ, đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á (5,3%) [8]. Nguyên nhân của sự gia tăng bệnh nhanh chóng do mức độ đô thị hóa nhanh, sự di dân từ khu vực nông thôn ra thành thị nhiều, sự thay đổi nhanh chóng về lối sống công nghiệp, giảm hoạt động chân tay, sự tăng trưởng kinh tế nhanh và chế độ ăn không cân đối, nhiều mỡ [8].
Phân bố bệnh đái tháo đường trên thế giới Dân số Số ngƣời mắc bệnh ĐTĐ (triệu người) Địa điểm (triệu người) Năm 1995 Năm 2000 Năm 2010 Thế giới 5697,04 118,42 151,23 220,72 Châu Phi 731,47 7,29 9,41 14,14 Châu Á 3437,79 62,78 84,51 132,29 Bắc Mỹ 296,52 12,98 14,19 17,53 Mỹ Latin 475,70 12,40 15,57 22,54 Châu Âu 727,79 22,04 26,51 32,86 Châu Úc 27,77 0,92 1,04 1,33 Nguồn:“The rising global burden of diabetes and its complications: estimates and projections to the year 2010”, Diabetic Med 11, pp. 85-9 (10) Dự kiến trong vòng 15 năm (1995 - 2010), số người mắc ĐTĐ ở Châu Á, Châu Phi sẽ tăng lên 2 tới 3 lần so với hiện nay. Cụ thể: vùng Tây Á, số người mắc sẽ tăng từ 3,6 triệu lên 11,4 triệu; Đông Á, số người mắc sẽ tăng từ 21,7 triệu lên 44 triệu; Đông Nam Á sẽ từ 8,6 lên 19,5 triệu và khu vực Bắc Á số người mắc ĐTĐ sẽ tăng từ 28,8 triệu lên 57,5 triệu. Ở Hoa Kỳ, năm 1998 có 16 triệu người bị bệnh ĐTĐ, trong đó hơn 90% là ĐTĐ týp 2, hàng năm có tới 650.000 người mới mắc bệnh.
Bệnh ĐTĐ gặp ở mọi lứa tuổi. Độ tuổi 24 là 3,56 triệu người, chiếm 8,2 % tổng số người cùng lứa tuổi, độ tuổi 64 là 6,3 triệu người, chiếm 18,4 % những người cùng độ tuổi. Số người mắc bệnh ĐTĐ ở độ tuổi dưới 24 là 123.000 người, chiếm 0,16 %. Đặc biệt, năm 2003 số người mắc bệnh ĐTĐ ở Hoa Kỳ 6 là 18,2 triệu người, sau 2 năm (năm 2005) đã là 20,8 triệu người - ước tính tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở Hoa Kỳ đã tăng 1,4% mỗi năm [64], [65].
Các nước Trung Âu và Đông Âu, (Ba Lan, Hungari, Bungari, Slovakia…) với số dân 96,6 triệu, có 4,3 triệu mắc ĐTĐ. Dự đoán năm 2010, số bệnh nhân ĐTĐ ở khu vực này sẽ là 5 triệu, trong đó 80% là ĐTĐ týp 2. Khu vực Tây Thái Bình Dương, theo ước đoán hiện nay ít nhất có 30 triệu người bị bệnh ĐTĐ, dự báo sẽ tăng gấp đôi vào năm 2025. Đặc biệt quan trọng là sự gia tăng mạnh lại rơi vào nhóm tuổi lao động.
Ở Trung Quốc, người ở độ tuổi trưởng thành mắc bệnh ĐTĐ là 38 triệu. Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở 2 nhóm nước trong khu vực Tây Thái Bình Dương .