Chương 1. Cảnh giác Dược trong sử dụng thuốc 1. Tổng quan về Cảnh giác Dược Hiện nay, bên cạnh chất lượng và hiệu quả điều trị thì tính an toàn của thuốc cũng là một vấn đề ngày càng được quan tâm. Một thực tế không thể phủ nhận là các thử nghiệm lâm sàng không thể cung cấp đầy đủ thông tin về Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu chia sẻ tại CANHGIACDUOC.VN và facebook CANHGIACDUOC tính an toàn của thuốc, đặc biệt là thông tin về các ADR hiếm, ADR muộn hoặc các tác động lâu dài của thuốc[30].
Vì thế, với mục đích phòng tránh và giảm thiểu tác hại cho bệnh nhân, đồng thời phát triển y tế công cộng thì việc xây dựng một cơ chế đánh giá và theo dõi sự an toàn của thuốc trong thực hành lâm sàng là một điều hết sức cần thiết. Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization - WHO) đã đưa ra định nghĩa Cảnh giác Dược là khoa học và các hoạt động liên quan đến việc phát hiện, đánh giá, nghiên cứu và phòng tránh các phản ứng bất lợi của thuốc (ADR) và các vấn đề liên quan đến quá trình sử dụng thuốc[25]. Có nhiều định nghĩa khác về Cảnh giác Dược nhưng đây là một định nghĩa khá rộng, phù hợp với mối quan tâm chính của Cảnh giác Dược là quản lý nguy cơ. Định nghĩa này được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực khoa học y tế nhưng mối quan tâm tới quá trình sử dụng thuốc mới phát triển gần đây.
Trọng tâm của Cảnh giác Dược được mở rộng cho các lĩnh vực: thuốc có nguồn gốc dược liệu, thuốc cổ truyền, thực phẩm chức năng, thuốc có nguồn gốc sinh học, trang thiết bị y tế và vắc xin[25]. Nhiệm vụ của hoạt động Cảnh giác Dược là bảo vệ sức khỏe cộng đồng, cải thiện sử dụng thuốc hợp lý thông qua việc thu thập, đánh giá và truyền thông có hiệu quả, kịp thời về những nguy cơ và lợi ích để giúp các cấp quản lý khác nhau trong hệ thống y tế đưa ra quyết định cần thiết[23]. Cảnh giác Dược trong Chương trình chống Lao Quốc Gia Bệnh lao là một bệnh nguy hiểm lây truyền qua đường hô hấp và có tỷ lệ tử vong cao. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế Giới (2017), Việt Nam đứng thứ 16 trong 30 nước có gánh nặng bệnh lao cao với ước tính khoảng 130 000 ca mắc lao mới và 14 000 ca tử vong mỗi năm[27].
Từ năm 1995 đến nay, công tác chống lao ở Việt Nam là 1 trong 10 Chương trình mục tiêu Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu chia sẻ tại CANHGIACDUOC.VN và facebook CANHGIACDUOC Quốc gia, chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS được Chính phủ đầu tư [10]. Một trong những khó khăn trong điều trị lao hiện nay là số lượng thuốc chống lao hạn chế trong khi phản ứng có hại của thuốc xảy ra phổ biến. Phản ứng có hại của thuốc chống lao gây gián đoạn thời gian dùng thuốc, không tuân thủ điều trị dẫn tới gia tăng tình trạng lao kháng thuốc và thất bại điều trị. Vì vậy, việc phát hiện, giám sát và xử trí kịp thời các phản ứng có hại của thuốc chống lao đóng vai trò quan trọng trong công tác sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và góp phần điều trị thành công bệnh lao [7].
Các thuốc kháng lao và phác đồ trong điều trị bệnh lao Theo WHO, thuốc điều trị lao được phân thành thuốc chống lao hàng 1 và hàng 2. Các thuốc hàng 1 bao gồm 5 loại thuốc chống lao: Hiện nay, WHO đã quy định có 5 loại thuốc kháng lao hàng 1 là isoniazid (H), rifampicin (R), pyrazinamid (Z), streptomycin (S) và ethambutol (E). Đây là các thuốc kháng lao thiết yếu, có hiệu lực cao trong điều trị bệnh lao và là thành phần quan trọng trong các chương trình điều trị lao ngắn ngày, các thuốc này lưu hành phổ biến trên toàn thế giới [3], [28]. Một số thuốc hàng 2 bao gồm: acid para - aminosalicylic (PAS), cycloserin (Cs), kanamycin (Km), capreomycin (Cm), levofloxacin (Lfx), prothionamid (Pto) [3].
Phác đồ điều trị lao chia làm 2 giai đoạn: tấn công và duy trì. Giai đoạn tấn công kéo dài 2-3 tháng bằng sự phối hợp ít nhất 3 loại thuốc diệt khuẩn 4 luan an nhanh, mạnh. Giai đoạn duy trì kéo dài ít nhất từ 4-6 tháng, với sự phối hợp của 2 thuốc trở lên [3], [28]. Các phác đồ khuyến cáo tại Việt Nam hiện nay bao gồm: Phác đồ IA: 2RHZE/4RHE chỉ định cho những bệnh nhân lao mới người lớn (hoặc đã từng điều trị lao nhưng dưới 1 tháng)[2].
- Giai đoạn tấn công: kéo dài 2 tháng, gồm 4 loại thuốc dùng hàng ngày. Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu chia sẻ tại CANHGIACDUOC.VN và facebook CANHGIACDUOC - Giai đoạn duy trì: kéo dài 4 tháng gồm 3 loại thuốc là R,H và E dùng hàng ngày. Phác đồ IB: 2RHZE/4RH chỉ định cho những bệnh nhân lao mới trẻ em (hoặc đã từng điều trị lao nhưng dưới 1 tháng)[2]. - Giai đoạn tấn công: kéo dài 2 tháng, gồm 4 loại thuốc dùng hàng ngày.
- Giai đoạn duy trì: kéo dài 4 tháng gồm 2 loại thuốc là R và H dùng hàng ngày. Phác đồ II: 2SHRZE/1HRZE/5RHE áp dụng trên thể tái phát, lao điều trị lại và các bệnh lao được phân loại “khác” mà không có điều kiện làm xét nghiệm chuẩn đoán lao đa kháng nhanh [2]. - Giai đoạn tấn công: kéo dài 3 tháng, 2 tháng đầu tiên với cả 5 loại thuốc kháng lao thiết yếu (SHRZE) dùng hàng ngày, 1 tháng tiếp theo với 4 loại thuốc (HRZE) dùng hàng ngày. - Giai đoạn duy trì: kéo dài 5 tháng với 3 loại thuốc H, R và E dùng hàng ngày.
Phác đồ IIIA: 2HRZE/10RHE chỉ định cho lao màng não và lao xương khớp người lớn [2]. - Giai đoạn tấn công: kéo dài 2 tháng, gồm 4 loại thuốc (HRZE) dùng hàng ngày. - Giai đoạn duy trì: kéo dài 10 tháng gồm 3 loại thuốc là RHE dùng hàng ngày. 5 luan an Phác đồ IIIB: 2HRZE/10RH chỉ định cho lao màng não và lao xương khớp trẻ em [2].
- Giai đoạn tấn công: kéo dài 2 tháng, gồm 4 loại thuốc (HRZE) dùng hàng ngày. - Giai đoạn duy trì: kéo dài 10 tháng gồm 2 loại thuốc là RH dùng hàng ngày. Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu chia sẻ tại CANHGIACDUOC.VN và facebook CANHGIACDUOC Phác đồ IVA: Z E Km Lfx Pto Cs (PAS) / ZE Lfx Pto (PAS). Sử dụng trong trường hợp lao đa kháng thuốc thất bại phác đồ I, II hoặc III [2].
- Giai đoạn tấn công : kéo dài ít nhất 6 tháng (4 tháng sau nuôi cấy âm tính), gồm 6 loại thuốc Z E Km Lfx Pto Cs (PAS), PAS được sử dụng hay thế cho trường hợp không dung nạp Cs, dùng hàng ngày. - Giai đoạn duy trì: Kéo dài ít nhất 14 tháng, gồm 5 loại thuốc Z E Lfx Pto Cs (PAS), PAS được sử dụng hay thế cho trường hợp không dung nạp Cs, dùng hàng ngày. Phác đồ IVB: Z E Cm Lfx Pto Cs (PAS) / ZE Lfx Pto (PAS). Sử dụng trong trường hợp lao đa kháng thuốc có nguy cơ kháng với Km (đã dùng hơn 2 phác đồ điều trị lao hoặc đã từng dùng Km) [2].
- Giai đoạn tấn công : kéo dài ít nhất 6 tháng (4 tháng sau nuôi cấy âm tính), gồm 6 loại thuốc Z E Cm Lfx Pto Cs (PAS), PAS được sử dụng hay thế cho trường hợp không dung nạp Cs, dùng hàng ngày. - Giai đoạn duy trì: Kéo dài ít nhất 14 tháng, gồm 5 loại thuốc Z E Lfx Pto Cs (PAS), PAS được sử dụng hay thế cho trường hợp không dung nạp Cs, dùng hàng ngày. Phản ứng có hại của thuốc kháng lao 1. Phản ứng có hại của thuốc 1.
Định nghĩa Theo định nghĩa của WHO vào năm 1972 “Phản ứng có hại của thuốc là một phản ứng độc hại, không định trước và xuất hiện ở liều thường dùng 6 luan an cho người để phòng bệnh, chẩn đoán hoặc chữa bệnh hoặc làm thay đổi một chức năng sinh lý”. Định nghĩa này không bao gồm những phản ứng do dùng sai thuốc, dùng sai liều, dùng liều cao có chủ định hoặc vô tình. Khái niệm phản ứng có hại của thuốc cũng được phân biệt với khái niệm tác dụng phụ của thuốc. Tác dụng phụ của thuốc được định nghĩa là tác dụng không được định trước, có thể độc hại hoặc không, của một chế phẩm Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu chia sẻ tại CANHGIACDUOC.VN và facebook CANHGIACDUOC thuốc xảy ra ở liều thông thường sử dụng ở người và có liên quan đến đặc tính dược lý của thuốc [23].
Phân loại Các cách phân loại ADR bao gồm: Theo tần suất gặp (đây là cách phân loại được sử dụng trong Dược thư Quốc gia Việt Nam): - Thường gặp: tần suất > 1/100. - Ít gặp: 1/1000 < tần suất < 1/100. - Hiếm gặp: tần suất < 1/1000 [7]. Theo mức độ nặng nhẹ: - Nhẹ: Không cần điều trị, không cần giải độc, không kéo dài thời gian nằm viện.
- Trung bình: Cần thay đổi trong điều trị, cần điều trị đặc hiệu hoặc kéo dài thời gian nằm viện ít nhất 1 ngày. - Nặng: Đe dọa tính mạng, để lại di chứng lâu dài hoặc cần sử dụng các biện pháp chăm sóc tích cực. - Tử vong: Trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến tử vong của bệnh nhân [4]. Theo typ: - ADR được chia làm 2 nhóm cơ bản là typ A (ADR liên quan đến liều) và typ B (ADR không liên quan đến liều).
Ngoài ra còn có 2 nhóm ADR: typ 7 luan an C (ADR liên quan đến liều và thời gian) và typ D (ADR xuất hiện muộn) [23]. Phản ứng có hại của các thuốc kháng lao hàng 1 1. Isoniazid Isonazid được xếp là một trong những thuốc kháng lao mạnh nhất. Isonazid được dùng theo đường uống với liều khuyến cáo trong các phác đồ là Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu chia sẻ tại CANHGIACDUOC.VN và facebook CANHGIACDUOC 5 (4-6) mg/kg với phác đồ hàng ngày; 10 (8-12) mg/kg, tức là khoảng 450- 600 mg cho bệnh nhân cân nặng 40-60 kg với phác đồ 3 lần/tuần và 15 (13- 17) mg/kg với phác đồ 2 lần/tuần [29].
Thực tế lâm sàng cho thấy, khoảng 5% tổng số người điều trị bằng isoniazid xuất hiện ADR [4]. Độc tính trên gan: Viêm gan thường xuất hiện trong 3 tháng đầu điều trị nhưng cũng có thể xuất hiện sau nhiều tháng.