MỞ ĐẦU Đã từ lâu con ngƣời biết rằng đái tháo đƣờng (ĐTĐ) là một bệnh rối loạn chuyển hóa, nhƣng những biến chứng mà nó gây ra thì gần đây mới đƣợc làm sáng tỏ. Ảnh hƣởng của bệnh đái tháo đƣờng đến các bệnh lý khác rất nặng nề. Ngày nay đái tháo đƣờng đƣợc xếp vào nhóm bệnh không lây cùng với các bệnh phổ biến khác đang đƣợc cả loài ngƣời - tất cả các quốc gia, đồng tâm hợp sức phòng chống. Bệnh đái tháo đƣờng cũng đƣợc xem là “đại dịch” ở các nƣớc đang phát triển [2].
Từ những năm 90 của thế kỷ 20, các chuyên gia y tế đã dự báo “Thế kỷ 21 là thế kỷ của các bệnh rối loạn chuyển hoá”. Theo ƣớc tính của Tổ chức Y tế thế giới WHO và Liên đoàn ĐTĐ quốc tế IDF, số bệnh nhân ĐTĐ sẽ tăng từ 150 triệu ngƣời vào năm 2009 lên 399 triệu ngƣời vào năm 2025, tăng 214% so với năm 2006. Đáng chú ý là tốc độ gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ở các nƣớc phát triển chỉ là 42% thì ở các nƣớc đang phát triển trong đó có VN là 170%. Bệnh ĐTĐ có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm và là nguyên nhân hàng đầu gây nhồi máu cơ tim, đột quỵ, suy thận giai đoạn cuối và mù lòa… làm tăng tỷ lệ tử vong lên gấp 2-4 lần so với ngƣời không bị ĐTĐ.
Trên thế giới cứ 10 giây đi qua có thêm 1 ngƣời bị chết do ĐTĐ và các biến chứng. Bệnh ĐTĐ đã thực sự trở thành một gánh nặng cho mỗi gia đình có ngƣời mắc bệnh, cho cả hệ thống y tế và cho toàn xã hội. Hiện bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất về số lƣợng các công trình nghiên cứu, tạp chí và sách báo chuyên ngành [15, 99]. Ở nƣớc ta, việc điều trị bệnh ĐTĐ còn gặp rất nhiều khó khăn do đội ngũ thầy thuốc chuyên khoa còn thiếu, chi phí điều trị tốn kém do ngƣời bệnh đƣợc phát hiện muộn và có nhiều biến chứng; công tác giáo dục cho ngƣời bệnh chƣa đƣợc tốt.
Trong những năm qua, ngành y tế đã có nhiều nỗ lực trong công tác đào tạo các thầy thuốc chuyên khoa nội tiết ĐTĐ, tăng cƣờng kinh phí và cung cấp các thuốc thiết yếu chữa bệnh ĐTĐ cho các cơ sở y tế, đẩy mạnh công tác tuyên truyền phòng chống bệnh…nhƣng chƣa đạt đƣợc kết quả mong muốn. Việc sử dụng các thực phẩm bổ sung có nguồn gốc từ thực vật cho các bệnh nhân ĐTĐ sẽ có tác dụng phối 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp với việc điều trị bằng thuốc, giúp hỗ trợ điều trị cho ngƣời bệnh một cách hiệu quả hơn [10]. Việt Nam ta rừng vàng biển bạc, sở hữu nguồn tài nguyên thực vật nói chung, tài nguyên thực vật chứa các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học nói riêng rất đa dạng, phong phú. Đây là nguồn dƣợc liệu quí, tiềm năng và triển vọng, có giá trị kinh tế và xã hội rất lớn lao.
Ngày nay, với sự phát triển của các ngành sinh học, hóa học các hợp chất tự nhiên và dƣợc học hàng chục ngàn hoạt chất có trong cây cỏ đã đƣợc phát hiện, đƣợc nghiên cứu, chế biến và làm thuốc chữa bệnh. Có thể nói nguồn hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học mà cây cỏ có khả năng sinh tổng hợp và tích lũy là vô cùng to lớn và hiểu biết của con ngƣời về chúng chỉ là một phần rất nhỏ và còn rất nhiều hạn chế. Do đó việc điều tra, nghiên cứu các cơ sở khoa học để phát hiện, khai thác, sử dụng có hiệu quả cũng nhƣ bảo tồn, phát triển bền vững nguồn tài nguyên thực vật chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học là nhiệm vụ lớn đã và đang đặt ra trƣớc chúng ta. Xuất phát từ những yêu cầu và thực tế trên đây, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Điều tra, nghiên cứu một số thực vật Việt Nam có tác dụng hỗ trợ điều hoà lượng đường trong máu để ứng dụng cho bệnh nhân đái tháo đường type 2”.
Mục đích nghiên cứu của đề tài: - Điều tra, sàng lọc một số thực vật Việt Nam có tác dụng hạ đường huyết trên chuột nhắt đái tháo đường type 2. - Xác định các cao chiết phân đoạn của một số thực vật có tác dụng hạ đường huyết tốt nhất. - Xác định thành phần hóa học của các phân đoạn có tác dụng hạ đường huyết, tinh sạch các chất và làm sáng tỏ cơ chế hạ đường huyết của chúng. - Bào chế chế phẩm có nguồn gốc từ các thực vật đã được sàng lọc, nghiên cứu khả năng và cơ chế hạ đường huyết, xác định độc tính cấp của chế phẩm.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nội dung nghiên cứu: - Thu thập 24 mẫu thực vật ở Việt Nam được tham khảo là có khả năng trong hỗ trợ điều trị bệnh ĐTĐ. Tách chiết thu cao nước nóng và cao cồn, thử nghiệm khả năng hạ đường huyết trên chuột nhắt ĐTĐ type 2. - Chiết phân đoạn cao nước nóng lá vối và lá chè đắng bằng các dung môi có độ phân cực tăng dần và nghiên cứu khả năng hạ đường huyết của các phân đoạn đó trên chuột nhắt ĐTĐ type 2. - Xác định thành phần hóa học của cao chiết phân đoạn có tác dụng hạ đường huyết tốt nhất.
- Thử nghiệm khả năng ức chế enzym α-glucosidase của cao chiết phân đoạn và các chất tinh sạch được. - Nghiên cứu bào chế chế phẩm, khả năng hạ đường huyết, xác định độ an toàn về chỉ tiêu vi sinh vật, độc tính cấp cũng như hoạt tính ức chế enzym α- glucosidase của chế phẩm sinh học. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
BỆNH ĐÁI THÁO ĐƢỜNG 1. Khái niệm và phân loại bệnh đái tháo đƣờng 1. Khái niệm Danh từ bệnh ĐTĐ (Diabetes mellitus) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp (diabetes: nƣớc chảy trong ống siphon) và tiếng La Tinh (mellitus: ngọt), do vậy danh từ y học Việt Nam đã dịch diabetes mellitus là ĐTĐ. Tuy nhiên cần phân biệt có nhiều loại đƣờng có trong nƣớc tiểu nhƣng không phải là ĐTĐ nhƣ fructose niệu, pentose niệu ngay cả khi đái ra glucose cũng có thể do ngƣỡng thận thấp hoặc do chấn thƣơng sọ não.
Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ĐTĐ là “một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng tăng glucose máu do hậu quả của việc thiếu/hoặc mất hoàn toàn insulin hoặc do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết và hoạt động của insulin” [99]. Còn theo Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ đã đƣa ra định nghĩa về ĐTĐ: “là một rối loạn mạn tính, có những thuộc tính nhƣ sau: tăng glucose máu; kết hợp với những bất thƣờng về chuyển hóa carbohydrate, lipid và protein; bệnh luôn gắn với xu hƣớng phát triển các bệnh lý về thận, đáy mắt, thần kinh và các bệnh tim mạch khác”. Các chuyên gia thuộc Ủy ban chẩn đoán và phân loại bệnh ĐTĐ Hoa Kỳ đã đƣa ra định nghĩa mới về ĐTĐ: “là một nhóm các bệnh chuyển hóa có đặc điểm là tăng glucose máu, hậu quả của sự thiếu hụt tiết insulin, khiếm khuyết trong hoạt động của insulin, hoặc cả hai”. Nói tóm lại: “ĐTĐ là một tình trạng rối loạn chuyển hóa phức tạp do nhiều nguyên nhân, đặc trƣng bởi sự tăng glucose máu, do khiếm khuyết tiết insulin, và/hoặc đề kháng insulin.
Tình trạng tăng đƣờng huyết mạn tính sẽ gây ra tổn thƣơng của nhiều cơ quan nhƣ mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu” [2, 43].1 thể hiện tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh ĐTĐ, đƣợc Hiệp hội ĐTĐ của Mỹ kiến nghị năm 1997 và đƣợc nhóm các chuyên gia về bệnh ĐTĐ của WHO công nhận vào năm 1998, tuyên bố áp dụng vào năm 1999 [15]. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh ĐTĐ Đƣờng huyết tƣơng bất kỳ ≥ 200 mg/dl (11,1 mmol/l) kèm triệu chứng tiểu nhiều, uống nhiều, sụt cân. Đƣờng huyết lúc đói ≥ 126 mg/dl (7,0 mmol/l) sau 2 lần thử.
Đƣờng huyết tƣơng 2 giờ sau uống 75 g glucose ≥ 200 mg/dl (11,1 mmol/l). Ngoài ra còn có các chỉ tiêu phấn đấu điều trị ngƣời bệnh ĐTĐ đƣợc Tổ chức ĐTĐ quốc tế cũng nhƣ WHO khuyến cáo, đƣợc thể hiện ở Bảng 1. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả xét nghiệm của ngƣời bệnh ĐTĐ theo WHO-năm 2002 Chỉ số Đơn vị Tốt Khá Kém Đƣờng huyết - Lúc đói mmol/l 4,4 – 6,1 ≤ 7,0 > 7,0 - Sau ăn 4,4 – 8,0 ≤ 10,0 > 10,0 HbA1C % < 6,5 6,5 – 7,5 > 7,5 Huyết áp mmHg < 130/80 > 130/80 – < 140/90 > 140/90 2 BMI kg/m 18,5 – 22,9 18,5 – 22,9 ≥ 23 Cholesterol mmol/l < 4,5 4,5 – 6,0 > 6,0 toàn phần HDL-c mmol/l > 1,1 1,1 – 0,9 < 0,9 Triglyceride mmol/l < 1,5 1,5 – < 2,2 ≥ 2,2 LDL-c mmol/l < 2,5 2,5 – 4,0 > 4,0 1. Phân loại Phân loại dựa vào nguyên nhân sinh bệnh: a.
ĐTĐ type 1: Tuyến tụy của bệnh nhân hầu nhƣ hoặc không có khả năng sản sinh ra insulin. Nguyên nhân là do hệ miễn dịch tự hủy hoại các tế bào β trong tuyến tụy có nhiệm vụ sản sinh ra insulin. Tác nhân kích thích để cho hệ miễn dịch tấn công tế bào β vẫn chƣa biết rõ. Bởi vậy, trƣớc đây còn gọi ĐTĐ type 1 là bệnh tự miễn.
Bệnh chiếm khoảng 10-20% các trƣờng hợp ĐTĐ. Bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ type 1 buộc phải tiêm insulin hằng ngày, có thể là vài lần trong ngày. Để hạ đƣờng máu, ngoài tiêm insulin ngƣời bệnh còn phải điều chỉnh và phối hợp thuốc theo chế độ ăn và hoạt động thể lực. Hạ đƣờng huyết là 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguy cơ tiềm ẩn đe dọa tính mạng của ngƣời bệnh ĐTĐ type 1.
Mặc dù đã đƣợc cảnh báo và ngƣời ta đã nghiên cứu tìm ra nhiều biện pháp phòng chống, bảo vệ an toàn cho ngƣời bệnh nhƣng các biến chứng xảy ra ngày càng nhiều. Do đó, chiến lƣợc dự phòng nhằm tác động vào các giai đoạn sớm nhằm ngăn chặn sự diễn tiến của bệnh đƣợc xem nhƣ là phƣơng thức tốt nhất giúp hạn chế những tổn thƣơng nặng nề về tinh thần, vật chất cho mỗi cá nhân và cho toàn xã hội [65, 70]. ĐTĐ type 2: Đặc điểm lớn nhất trong sinh lý bệnh của ĐTĐ type 2 là có sự tƣơng tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trƣờng trong cơ chế bệnh sinh. Đây là mối quan hệ phức tạp.
Bệnh nhân ĐTĐ type 2 có lƣợng insulin ban đầu đƣợc sản sinh ra hoàn toàn bình thƣờng, nhƣng các tế bào đã không hoặc kém nhạy cảm với sự có mặt của insulin. Đó là hiện tƣợng kháng insulin.