PHẦN MỞ ĐẦU 1. Nền tảng của vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nƣớc Ngữ pháp (NP) là một hệ thống âm thanh, từ ngữ, câu và nghĩa của một ngôn ngữ (Saksit, 2017). Đó là các quy tắc của ngôn ngữ được dùng để xác định câu diễn đạt đúng và diễn đạt sai. NP tiếng Anh - yếu tố quan trọng trong việc học ngôn ngữ, từ lâu đã đóng một vai trò trọng yếu trong việc thông thạo một ngôn ngữ.
Tất cả các kỹ năng ngôn ngữ như nghe, nói, đọc, viết không thể được cải thiện nếu không có kiến thức vững chắc về NP. Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy ngôn ngữ, thái độ của nhiều người đối với NP đã có nhiều thay đổi, thậm chí có người còn cho rằng khả năng giao tiếp là cứu cánh của ngôn ngữ, do đó, miễn là nó không ảnh hưởng đến giao tiếp, câu mặc dù có một số lỗi NP vẫn có thể được chấp nhận. Thậm chí, có ý kiến cho rằng việc dạy NP không những không có ích mà còn có thể gây ra những bất lợi bởi vì việc dạy NP không tương quan với việc tiếp thu NP. Vì vậy, NP đã bị đặt ở một vị trí ít quan trọng hơn, có GV thậm chí còn coi nhẹ vai trò giảng dạy NP trong việc giảng dạy ngoại ngữ trong lớp học của mình.
Không nghi ngờ rằng giao tiếp là mục đích quan trọng nhất của việc học ngôn ngữ, tuy nhiên, thái độ của người học tiếng Anh đối với việc học NP sẽ quyết định sự phát triển tổng thể của người học ngôn ngữ về mức độ thông thạo và chính xác của ngôn ngữ (Liwei, 2017). Việc đào tạo và trau dồi bốn kỹ năng ngôn ngữ chính như nghe, nói, đọc, viết rất quan trọng trong việc giảng dạy và học tập tiếng Anh ở bậc Đại học. Vì bốn kỹ năng này hỗ trợ người học trong việc truyền đạt thông tin bằng cách thể hiện một số hình thức và cấu trúc nhất định một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, vì thế thực sự có một mối quan hệ chặt chẽ giữa NP và các kỹ năng ngôn ngữ. Nếu không chú ý đến NP, người học không thể đạt được các kỹ năng ngôn ngữ và khó có khả năng thể hiện bản thân trong giao tiếp thực tế.
NP có thể giúp người dùng biểu đạt ý tưởng của họ một cách chính xác, có ý nghĩa và giao tiếp thành công (Pradeep, 2013). Phương pháp giảng dạy NP tiếng Anh là một vấn đề gây nhiều tranh cãi trong rất nhiều năm (Ellis, 2005). Nguyên nhân gây ra những bất đồng quan điểm nằm ở chỗ phương pháp dạy NP theo cách truyền thống - chỉ chú trọng việc cung cấp các cấu trúc NP và yêu cầu người học ghi nhớ đã không thể cung cấp cho người học ngôn ngữ 1 những kỹ năng họ cần để giao tiếp một cách hiệu quả. Họ nhấn mạnh rằng ngôn ngữ nên được tiếp thu một cách tự nhiên chứ không phải chỉ là việc cung cấp các cấu trúc một cách cứng nhắc.
Quan điểm này tạo nên niềm tin rằng việc giảng dạy NP theo cách chỉ cung cấp cấu trúc sẽ chỉ làm giàu kiến thức mô tả (các nhận biết về quy tắc NP) hơn là tăng cường khả năng sử dụng các cấu trúc NP một cách chính xác. Đã nhiều thập kỷ, NP bị lờ đi hoặc bị che khuất bởi tư tưởng chỉ chú trọng đến giao tiếp do bị coi là dư thừa và là hạn chế trong ngữ cảnh giao tiếp. Tuy nhiên, quan điểm cho rằng việc giảng dạy NP một cách đơn lẻ, tách biệt với bốn kỹ năng còn lại, đã bị Ellis (2005) công khai chỉ trích là “định nghĩa hẹp hòi về giảng dạy NP”. NP, vì thế mà NP không thể bị mất đi chỗ đứng trong giáo dục ngôn ngữ, và người ta coi nó là một bộ phận thiết yếu không thể tách rời trong việc học ngôn ngữ.
Nhà nghiên cứu cho rằng cốt lõi của vấn đề nằm ở câu hỏi: NP nên được giảng dạy như thế nào? Giảng dạy trực tiếp hay tích hợp với giao tiếp, hay loại bỏ NP khỏi chương trình giáo dục ngôn ngữ? Vấn đề này dẫn đến sự xuất hiện của các quan điểm, các cách tiếp cận và phương pháp khác nhau trong việc giảng dạy NP ở các nền giáo dục tại các quốc gia khác nhau. Thái độ học tập và niềm tin của người học vào phương pháp giảng dạy, cách thức học tập cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công của quá trình dạy học nói chung, tuy nhiên hiện còn rất ít nghiên cứu về vấn đề này. Schraw (2013) nhấn mạnh tầm quan trọng của niềm tin của người học, ông lập luận rằng người học ngôn ngữ không phải lúc nào cũng có ý thức về cách học của mình nhưng họ có niềm tin mạnh mẽ về cách họ nên học một ngôn ngữ nào đó. Những niềm tin này thường dựa trên cách họ được dạy một ngôn ngữ và giả định rằng có một số phương pháp cụ thể có thể phù với họ.
Thực tế, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhận thức của người học đóng một vai trò quan trọng trong việc học thành công một ngôn ngữ (Bruce & Lock, 2013). Việc người học có sẵn sàng để được sửa lỗi NP tại lớp học hay không cũng phản ánh niềm tin của họ với phương pháp giảng dạy, với GV. Để đánh giá việc dạy và học NP, Tony (2005) cũng đánh giá việc dạy và học NP đang được tiến hành theo cách thức nào khi tham chiếu với các khoá học NP nền tảng ở một trường trung học tại Na Uy. Kết luận của nghiên cứu cũng phần nào chỉ rõ phương pháp giảng dạy NP hiệu quả là không nên tách rời với các kĩ năng ngôn ngữ 2 khác, người học cần có thái độ và nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng và vị trí của NP trong mối liên hệ với các kỹ năng ngôn ngữ.
Những nghiên cứu trước đó về vấn đề này đồng thời cũng tạo cảm hứng cho Fadwa (2016) để ông tiến hành nghiên cứu việc giảng dạy và học tập NP tiếng Anh tại Đại học Tripoli diễn ra như thế nào, thái độ của người dạy và học có ảnh hưởng như thế nào tới chất lượng dạy và học. SV có quan điểm như thế nào với việc được sửa lỗi NP trực tiếp tại lớp. Với mẫu khảo sát là hơn 600 SV, 30 GV và ông cũng đi đến kết luận rằng GV và SV đã ý thức được vai trò của NP trong quá trình dạy và học và nhận thấy kiến thức NP được thể hiện ở các kỹ năng ngôn ngữ khác nhau. Đồng thời, nghiên cứu cũng làm sáng tỏ niềm tin và thái độ học tập của người học có ảnh hưởng đến chất lượng của quá trình giảng dạy.
Tính cấp thiết của đề tài Để đáp ứng xu thế toàn cầu hóa, tiếng Anh đã trở thành môn học bắt buộc ở tất cả các trường đại học, cao đẳng nhằm cung cấp cho SV một công cụ giao tiếp mới trong thế giới “không biên giới” nơi nó đã trở thành một ngôn ngữ quốc tế. Ngoài việc được sử dụng rộng rãi, tiếng Anh còn là ngôn ngữ nước ngoài được nghiên cứu nhiều nhất trên thế giới. Từ năm học 2012-2013, thông tư của Bộ GD & ĐT bắt buộc thực hiện tiêu chuẩn đầu ra bằng tiếng Anh đối với SV các trường đại học. Điều này đang phần nào giúp công tác giảng dạy và học ngoại ngữ tại nhiều nhà trường đại học, cao đẳng nâng lên một tầm cao mới, trở nên được chú trọng và thiết thực hơn bao giờ hết.
SV ý thức rõ tầm quan trọng của môn học nên đã có sự chuyển đổi thích nghi trong quá trình học ngoại ngữ với hi vọng sau này tốt nghiệp đầu ra sẽ tìm thấy nhiều cơ hội việc làm tốt đẹp hơn. Mặc dù vậy, việc học tiếng Anh của SV nhìn chung chưa có hiệu quả như mong đợi, nhiều SV tốt nghiệp đại học không có khả năng sử dụng tiếng Anh cơ bản, hoặc tiếng Anh chuyên ngành chưa thoả mãn kỳ vọng người sử dụng lao động. Trong quá trình học tập một ngoại ngữ, việc hiểu chính xác các cấu trúc ngôn ngữ và có khả năng ứng dụng nó trong các kỹ năng tiếng Anh khác là một điều vô cùng quan trọng, vì vậy giảng dạy môn NP cho người học là một yêu cầu trọng yếu và tiên quyết của việc giảng dạy ngoại ngữ. Thông qua môn học này, người học ngôn ngữ được học cách ứng dụng ngôn ngữ một cách chính xác nhất là trong quá trình thực hành các kỹ 3 năng nghe, nói, đọc, viết, đồng thời có khả năng áp dụng kiến thức NP đó vào các môn chuyên ngành trong học tập và nghề nghiệp sau này.
Với duy nhất một môn Ngữ pháp ứng dụng (NPUD) (3 tín chỉ) trong cả khung chương trình đào tạo của khoa, nếu đem đối sánh với các trường Đại học khác như Đại học Văn Lang (9 tín chỉ, bao gồm Học phần NP 1, NP 2, NP 3), trường Đại học Cần Thơ (6 tín chỉ bao gồm NP trung cấp, NP cao cấp) thì thời lượng dành cho môn NP tại khoa hiện nay đang chiếm một phần nhỏ, khối lượng kiến thức cung cấp cho người học vì thế phần nào cũng bị hạn chế, thời gian luyện tập, thực hành ít. Về cơ bản, người học tại Việt Nam thường được chú trọng cung cấp kiến thức NP từ bậc tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông nên có thể cho rằng nền tảng kiến thức NP cơ bản là khá dày so với các năng lực ngôn ngữ khác. Tuy nhiên qua giảng dạy thực tế, nhóm GV môn NP trực tiếp nhận thấy, cũng như nhận được phản ánh của các GV khác trong khoa về tình trạng SV thường xuyên mắc lỗi NP cơ bản trong các môn học chuyên ngành sau này như các môn Viết, Nói, Dịch, Giao tiếp liên văn hoá,. Điều này gây trở ngại lớn cho không những bản thân người học vì họ không đủ năng lực để thông thạo ngôn ngữ đích, mà còn có ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy của GV các môn học được đề cập đến theo hướng tiêu cực.
Hơn nữa, sự bùng nổ của Internet và các ứng dụng học tiếng Anh online khiến SV bắt đầu có tâm lý phụ thuộc vào một số phần mềm chỉnh sửa NP như Grammaly, Ginger, Hemingway Editor. Chính từ đây SV bắt đầu có tâm lý chủ quan, ít coi trọng kiến thức NP, thiếu đầu tư thời gian và công sức cho môn học khiến cho kết quả học tập chưa được thoả đáng, kiến thức nền tảng NP cơ bản và nâng cao không đáp ứng được cho các giai đoạn học tập các môn chuyên ngành sau đó.