Tổng quan luận án

Biếng ăn ở trẻ em là tình trạng trẻ không ăn đủ khẩu phần theo nhu cầu dinh dưỡng, dẫn đến chậm tăng trưởng thể chất và tiềm ẩn nhiều nguy cơ sức khỏe như thiếu hụt vi chất, suy dinh dưỡng hoặc rối loạn hành vi ăn uống. Theo tổng quan y văn, tình trạng biếng ăn ở trẻ dưới 6 tuổi dao động từ 5,6% đến 58,7% trên thế giới; một phân tích gộp năm 2017 ghi nhận tỷ lệ chung là 22%. Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây tại Bệnh viện Nhi Trung ương ghi nhận tỷ lệ biếng ăn là 44,9%, tại Thành phố Hồ Chí Minh là 20,8% đến 54,58%. Mặc dù là vấn đề dinh dưỡng và sức khỏe cộng đồng phổ biến, y văn trong và ngoài nước vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất và chưa có bộ công cụ chuẩn hóa hoàn chỉnh để đánh giá biếng ăn tại cộng đồng. Phần lớn các nghiên cứu tại Việt Nam sử dụng các câu hỏi đơn lẻ hoặc tiêu chí định tính chưa qua kiểm định giá trị và độ tin cậy thống kê. Luận án tiến sĩ y tế công cộng của tác giả Hoàng Thị Bạch Yến, thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS. Lê Thị Hương và PGS. Võ Văn Thắng tại Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế (năm 2020), giải quyết khoảng trống này bằng việc xây dựng, chuẩn hóa thang đo và ứng dụng đánh giá thực trạng biếng ăn cùng các yếu tố liên quan.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể gồm 3 mục tiêu:

  1. Xây dựng và thử nghiệm thang đo đánh giá biếng ăn ở trẻ em dưới 5 tuổi tại thành phố Huế.
  2. Xác định tỷ lệ và mô tả đặc điểm biếng ăn ở trẻ dưới 5 tuổi tại thành phố Huế năm 2017 theo thang đo đã xây dựng.
  3. Mô tả một số yếu tố liên quan đến biếng ăn ở đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu là trẻ em từ 6 đến dưới 60 tháng tuổi đã được cho ăn bổ sung, sinh sống ít nhất một năm tại thành phố Huế, không mắc dị tật vùng miệng, không mắc rối loạn phát triển bẩm sinh (hội chứng Down, chậm phát triển trí tuệ) hay bệnh lý cấp/mạn tính tại thời điểm điều tra; cùng người trực tiếp chăm sóc, chế biến và cho trẻ ăn hàng ngày (thời gian chăm sóc tối thiểu 1 tháng nếu không phải bố mẹ). Địa bàn nghiên cứu được triển khai tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (khảo sát tại 4 phường: Phú Thuận, Phú Hậu, An Tây, Vỹ Dạ). Thời gian thu thập dữ liệu thực địa thực hiện năm 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật có hệ thống các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế về hành vi ăn uống, cơ chế hình thành sở thích thực phẩm và các phương pháp lượng giá biếng ăn. Các nghiên cứu quốc tế được điểm lại cho thấy sự đa dạng và không đồng nhất về công cụ đánh giá:

  • Mascola A. và cs (2010), Carruth B. và cs (2004), Jacobi C. và cs (2003), Young Xue và cs (2015) sử dụng câu hỏi đơn lẻ dựa trên nhận định chủ quan của cha mẹ theo thang Likert hoặc phân loại mức độ.
  • Dubois L. và cs (2007) đánh giá qua 3 tiêu chuẩn hành vi ăn uống khác biệt với gia đình.
  • Jillian J. và cs (2014) sử dụng bảng kiểm hành vi lối sống (Lifestyle Behaviour Checklist).
  • Hafstad G. và cs (2013, 2015, 2016) sử dụng bảng kiểm hành vi trẻ em (Child Behaviour Checklist - CBCL).
  • Anne T. và cs (2014) và Pauline W. và cs (2012) sử dụng bộ câu hỏi hành vi ăn uống trẻ em (CEBQ) kết hợp phân tích lớp ẩn hoặc độ lệch chuẩn.
  • Goh D. và cs (2012) tại Singapore khảo sát 12 câu hỏi về thói quen ăn uống (Child Eating Habits Questionnaire).
  • Hsun-Chin Chao và cs (2017, 2018) tại Đài Loan khảo sát 4 câu hỏi hành vi biếng ăn, ghi nhận tỷ lệ biếng ăn từ 54% đến 62%.
  • Health Odyssey International Inc. (2010) phát triển công cụ IMFeD phân loại 6 dạng rối loạn nuôi ăn lâm sàng.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đó bao gồm: Nguyễn Thanh Danh và cs (1999) đánh giá biếng ăn qua mức năng lượng tiêu thụ 24 giờ trong 3 ngày liên tiếp (<100 Kcal/kg/ngày) và khảo sát mối liên quan với thiếu kẽm; Huỳnh Văn Sơn và cs (2011, 2012) phân tích 6 nhóm biểu hiện biếng ăn tâm lý ở trẻ 1–6 tuổi; Mai Thị Mỹ Thiện (2014) nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận tỷ lệ biếng ăn 20,8% dựa trên từ chối ăn, bữa ăn kéo dài trên 30 phút và liên quan suy dinh dưỡng nhẹ cân (OR=2,1); Lê Hoàng Hạnh Nghi và cs (2015, 2016) tại Viện Dinh dưỡng khảo sát tỷ lệ thiếu vi chất (thiếu máu 47%, thiếu kẽm 43,8%) và phân loại nguyên nhân biếng ăn; Nguyễn Đức Tâm và Lưu Thị Mỹ Thục (2017) tại Bệnh viện Nhi Trung ương kết hợp tiêu chuẩn định tính, định lượng và thời gian bữa ăn >30 phút kéo dài trên 30 ngày.

Tác giả & Năm Công cụ / Phương pháp xác định Đặc điểm và hạn chế y văn ghi nhận
Jillian J. và cs (2014) Bảng kiểm hành vi lối sống (Lifestyle Behaviour Checklist) Đánh giá hành vi lối sống chung, không chuyên biệt cho biếng ăn.
Anne T. và cs (2014) Bộ câu hỏi CEBQ, phân tích lớp ẩn Đánh giá 5 nhóm hành vi ăn uống, không đưa ra điểm cắt biếng ăn trực tiếp.
Goh D. và cs (2012) Bộ câu hỏi 12 mục về thói quen ăn uống Xác định biếng ăn khi trả lời "mỗi lúc" cho 1/12 câu, dễ sai số chủ quan.
IMFeD (2010) Tiêu chuẩn phân loại rối loạn nuôi ăn lâm sàng Phạm vi rộng từ biếng ăn nhẹ đến tự kỷ, không lượng hóa số dấu hiệu cụ thể.
Huỳnh Văn Sơn (2011) Bảng kiểm 6 nhóm biểu hiện tâm lý Đánh giá mức độ từng hành vi, chưa xây dựng thang đo tổng hợp có điểm cắt.
Nguyễn Đức Tâm (2017) Tiêu chuẩn định tính, định lượng, thời gian kéo dài >30 ngày Kết hợp đa tiêu chí nhưng chưa chuẩn hóa số lượng hành vi chi tiết.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Luận án khắc phục tình trạng thiếu công cụ đo lường chuẩn hóa bằng cách tích hợp các tiêu chí lâm sàng và tâm lý thành 3 nhóm dấu hiệu: (1) Thời gian bữa ăn và hoạt động lúc ăn; (2) Số bữa ăn, lượng thức ăn và sự đa dạng thực phẩm; (3) Trạng thái tinh thần và hành vi của trẻ khi ăn. Thang đo được thẩm định độ tin cậy và cấu trúc bằng các thuật toán thống kê đa biến, tạo cơ sở đánh giá dịch tễ học chính xác tại cộng đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng định nghĩa biếng ăn của Lumeng (2005) được trích dẫn trong công trình của Ekstein S. và cs (2010): "Biếng ăn là không chịu ăn những thức ăn quen thuộc hay thử thức ăn mới, trầm trọng đến mức làm ảnh hưởng đến các hoạt động thường ngày và gây ra nhiều vấn đề cho bố mẹ, trẻ và mối quan hệ giữa bố mẹ và con cái". Luận án phân định rõ ràng các khái niệm liên quan: kén ăn (selective eating), ác cảm thực phẩm (sensory food aversion), sợ thức ăn mới (food neophobia - dựa trên lý thuyết về sự do dự của động vật ăn thịt của Rozin, 1979), chán ăn tâm thần (anorexia nervosa) và rối loạn nuôi ăn (feeding difficulties theo IMFeD).

Về cơ chế hình thành hành vi ăn uống, tác giả vận dụng lý thuyết học tập qua liên kết, học tập xã hội (thuyết tương tác xã hội của Herman và cs, 2003 về 3 cơ chế tác động: thuận lợi xã hội, bắt chước và ức chế khi bị quan sát), cơ chế tiếp xúc thực phẩm sớm (Birch và cs, 1998; Wardle và Huon, 2000) và sự truyền nhận hương vị qua dịch ối, sữa mẹ (Desor và cs, 1975).

Phương pháp nghiên cứu được thiết kế theo 3 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1 (Nghiên cứu thăm dò xây dựng thang đo): Thiết kế mô tả cắt ngang trên mẫu trẻ dưới 5 tuổi để xây dựng ngân hàng biến số, phân tích độ tin cậy nội tại qua hệ số Cronbach's Alpha (loại các biến có tương quan biến - tổng Corrected item-total correlation < 0,3; thang đo đạt yêu cầu khi Cronbach's Alpha từ 0,6 đến dưới 0,95) và phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA) để kiểm định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt (sử dụng kiểm định KMO từ 0,5 đến 1,0, kiểm định Bartlett's test of Sphericity có ý nghĩa thống kê, trích nhân tố theo Eigenvalue > 1, hệ số tải Factor Loadings và phương sai trích Percentage of variance).
  • Giai đoạn 2 (Nghiên cứu mô tả cắt ngang hỗn hợp): Kết hợp phương pháp định lượng (xác định tỷ lệ biếng ăn theo thang đo và theo nhận định của người chăm sóc, kiểm định độ tương hợp bằng chỉ số Kappa, mô tả tần suất sử dụng thực phẩm trong 1 tuần qua) và phương pháp định tính (phỏng vấn sâu - PVS, thảo luận nhóm - TLN với người chăm sóc nhằm làm rõ quan niệm, thời điểm khởi phát và bối cảnh xuất hiện hành vi biếng ăn).
  • Giai đoạn 3 (Nghiên cứu bệnh - chứng): Thiết kế bệnh - chứng nhằm xác định các yếu tố nguy cơ liên quan đến biếng ăn. Tỷ lệ ghép cặp là 1 bệnh : 2 chứng (cứ 1 trẻ biếng ăn ghép với 2 trẻ không biếng ăn cùng nhóm tuổi, cùng giới tính và sống trong cùng địa bàn phường). Phân tích thống kê sử dụng mô hình hồi quy đa biến để tính tỷ suất chênh điều chỉnh (Odds Ratio - OR) và khoảng tin cậy 95% (95% CI).

Nguồn số liệu thu thập trực tiếp từ các hộ gia đình có trẻ từ 6 đến dưới 60 tháng tuổi tại 4 phường thuộc thành phố Huế (tổng thể gồm 27.328 trẻ dưới 5 tuổi của toàn thành phố theo thống kê địa phương năm 2018).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này hệ thống hóa các khái niệm, cơ sở tâm sinh lý và xã hội học của hành vi ăn uống ở trẻ từ 1 đến 6 tuổi. Tác giả phân tích các giai đoạn phát triển tâm lý: trẻ 1–3 tuổi khẳng định tính tự chủ, dễ nảy sinh hành vi từ chối hoặc bắt chước; trẻ 4–6 tuổi hoàn thiện kỹ năng ăn uống tự lập. Chương 1 làm rõ vai trò của việc tiếp xúc thực phẩm trong giai đoạn ăn dặm (tiếp xúc lặp lại 1–15 lần để làm quen mùi vị), ảnh hưởng của truyền thông (xem tivi trong bữa ăn làm giảm tiếp nhận rau quả, tăng tiêu thụ thức ăn vặt và tăng tính thụ động theo Hetherington M. và cs) và tác động của môi trường gia đình. Tác giả tổng hợp các nguyên nhân gây biếng ăn gồm: bệnh lý cấp/mạn tính, dùng thuốc, thiếu vi chất (đặc biệt là kẽm), khiếm khuyết cơ thể học, yếu tố di truyền (dẫn chứng nghiên cứu trên 5.390 cặp sinh đôi của Jason Lam, 2015), chế độ ăn mất cân đối và biếng ăn tâm lý (chiếm tỷ lệ cao do ép ăn, căng thẳng bữa ăn, kiểm soát quá mức). Hậu quả của biếng ăn được phân tích toàn diện: thiếu hụt dinh dưỡng (sắt, kẽm, canxi, chất xơ), chậm tăng trưởng thể chất (nhẹ cân, thấp còi, giảm chỉ số khối cơ thể), táo bón, ảnh hưởng nhận thức và gia tăng xung đột tâm lý gia đình. Chương này kết thúc bằng phần tổng quan tình hình nghiên cứu quốc tế, Việt Nam và giới thiệu đặc điểm địa bàn thành phố Huế (đô thị loại 1 gồm 27 phường, diện tích 72 km², dân số 455.230 người năm 2018).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu 3 giai đoạn:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quy định cụ thể tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ cho trẻ 6–<60 tháng tuổi và người chăm sóc chính tại 4 phường (Phú Thuận, Phú Hậu, An Tây, Vỹ Dạ).
  • Quy trình nghiên cứu: Quy trình chọn mẫu ngẫu nhiên nhiều giai đoạn, sơ đồ thiết kế nghiên cứu từ khảo sát thăm dò xây dựng thang đo, điều tra cắt ngang định lượng kết hợp định tính, đến nghiên cứu bệnh – chứng với tỷ lệ ghép cặp 1:2.
  • Biến số và công cụ: Xác định các nhóm biến số nhân khẩu học, tiền sử sinh, thực hành nuôi dưỡng trẻ (thời điểm ăn bổ sung, bú mẹ hoàn toàn, cách chế biến, mức độ đa dạng thực phẩm), hành vi hỗ trợ/dụ dỗ/gây sao nhãng (xem tivi, điện thoại, bế đi ăn rong), hành vi ép buộc/bạo lực trong bữa ăn và các yếu tố kinh tế - xã hội gia đình.
  • Phân tích số liệu: Quy trình xử lý thống kê đánh giá độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha, hệ số tương quan biến - tổng), phân tích nhân tố khám phá EFA (KMO, Bartlett, Factor Loadings, Eigenvalue, Communality), đánh giá độ tương hợp bằng hệ số Kappa, kiểm định Chi-bình phương so sánh tần suất tiêu thụ thực phẩm và phân tích hồi quy logistic đa biến xác định OR và 95% CI.
  • Đạo đức và hạn chế: Đảm bảo tính tự nguyện, bảo mật thông tin và nêu rõ các giải pháp kiểm soát sai số trong điều tra thực địa.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các phát hiện qua các bảng số liệu và biểu đồ:

  • Xây dựng và thẩm định thang đo: Kết quả phân tích chất lượng thang đo ban đầu bằng Cronbach's Alpha; quy trình loại bỏ các biến quan sát không đạt yêu cầu (tương quan biến - tổng < 0,3); kết quả kiểm định KMO và Bartlett's test of Sphericity chứng minh tính thích hợp của phân tích nhân tố; bảng kết quả phân tích EFA xác định cấu trúc các nhân tố thành phần; kiểm định độ tin cậy của thang đo sau cùng đạt tiêu chuẩn thống kê.
  • Thực trạng biếng ăn tại thành phố Huế: Tỷ lệ trẻ biếng ăn theo nhận định chủ quan của người chăm sóc so sánh với tỷ lệ xác định theo thang đo chuẩn hóa; mức độ tương hợp giữa hai phương pháp thông qua bảng kiểm định Kappa; phân bố tỷ lệ biếng ăn theo nhóm tuổi (dưới 12 tháng, 12–24 tháng, 25–36 tháng, 37–<60 tháng) và giới tính; mô tả các dấu hiệu biếng ăn thường gặp (ngậm thức ăn lâu, bữa ăn kéo dài >30 phút, từ chối nhóm thực phẩm, nôn ói, quấy khóc); thời điểm khởi phát biếng ăn và sự cố xuất hiện trước khi biếng ăn; so sánh tần suất sử dụng các nhóm thực phẩm trong 1 tuần qua giữa nhóm trẻ biếng ăn và không biếng ăn.
  • Yếu tố nguy cơ gây biếng ăn (Nghiên cứu bệnh - chứng): So sánh đặc điểm giữa nhóm biếng ăn và nhóm chứng về tiền sử sinh (cân nặng sơ sinh, tuổi thai), thực hành nuôi dưỡng (thời điểm bắt đầu ăn bổ sung trước hay sau 6 tháng, bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, độ thô thức ăn), hành vi trong bữa ăn (dụ dỗ, gây sao nhãng, ép ăn, quát mắng, đánh trẻ), các yếu tố nhân khẩu học của người chăm sóc và điều kiện kinh tế gia đình; kết quả mô hình hồi quy đa biến xác định các yếu tố nguy cơ độc lập gây biếng ăn.

Chương 4: Bàn luận

Tác giả đối chiếu kết quả nghiên cứu với các công trình trong và ngoài nước:

  • Thang đo biếng ăn: Bàn luận về tính khoa học và độ tin cậy của thang đo được xây dựng qua EFA và Cronbach's Alpha; phân tích ưu điểm của thang đo đa chiều so với các công cụ đơn biến (như nghiên cứu của Mascola, Carruth hay Goh D.).
  • Thực trạng biếng ăn: Phân tích sự chênh lệch giữa quan niệm của người chăm sóc và thang đo chuẩn hóa; lý giải tỷ lệ biếng ăn theo nhóm tuổi, đặc biệt là giai đoạn chuyển tiếp thức ăn và tập đi (1–3 tuổi); so sánh đặc điểm hành vi và khẩu phần ăn của trẻ biếng ăn tại Huế với các nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh (Huỳnh Văn Sơn, Mai Thị Mỹ Thiện) và Hà Nội (Nguyễn Đức Tâm).
  • Các yếu tố liên quan: Bàn luận sâu về mối quan hệ giữa thực hành nuôi dưỡng không hợp lý (cho ăn bổ sung quá sớm trước 6 tháng, trì hoãn tập nhai thức ăn thô), các hành vi tiêu cực của cha mẹ trong bữa ăn (ép buộc, dọa dẫm, gây sao nhãng bằng thiết bị điện tử) và nguy cơ biếng ăn kéo dài; phân tích cơ chế tâm lý xã hội tác động lên cảm giác ngon miệng và hành vi ăn uống của trẻ.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học:

  • Xây dựng thành công bộ thang đo chuẩn hóa đánh giá biếng ăn ở trẻ em dưới 5 tuổi phù hợp với bối cảnh văn hóa, xã hội Việt Nam, được thẩm định đầy đủ qua các bước kiểm định thống kê đa biến (độ tin cậy Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA).
  • Cung cấp khung phân loại toàn diện về các biểu hiện biếng ăn dựa trên 3 nhóm cấu phần: thời gian/hoạt động ăn, số lượng/sự đa dạng thực phẩm và trạng thái tâm lý/hành vi của trẻ.
  • Đo lường mức độ tương hợp giữa nhận thức chủ quan của người chăm sóc và tiêu chuẩn đánh giá lượng hóa bằng chỉ số Kappa, làm rõ khoảng cách giữa nhận định cảm tính và thực trạng biếng ăn thực tế.

Các đóng góp mới về mặt thực tiễn và ứng dụng:

  • Cung cấp bộ số liệu dịch tễ học về tỷ lệ và đặc điểm biếng ăn ở trẻ dưới 5 tuổi tại khu vực miền Trung (thành phố Huế), bổ sung vào bức tranh dinh dưỡng trẻ em Việt Nam vốn trước đây chủ yếu tập trung tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Xác định các yếu tố nguy cơ có thể can thiệp được trong thực hành chăm sóc trẻ (thời điểm ăn bổ sung, chế biến độ thô, hành vi ép ăn và gây phân tâm trong bữa ăn).

Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:

  • Ứng dụng thang đo đã xây dựng vào các cơ sở y tế tuyến ban đầu (trạm y tế xã/phường, phòng khám tư vấn dinh dưỡng) để phát hiện sớm trẻ biếng ăn.
  • Tăng cường giáo dục truyền thông dinh dưỡng cho cha mẹ và người chăm sóc: duy trì nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, bắt đầu cho ăn bổ sung đúng thời điểm (tròn 6 tháng), tập cho trẻ ăn thức ăn thô đúng lứa tuổi.
  • Hướng dẫn thực hành cho ăn tích cực: không ép buộc, không quát mắng, không sử dụng thiết bị điện tử hoặc bế đi ăn rong để gây sao nhãng; tạo không khí bữa ăn gia đình vui vẻ, thoải mái; bữa ăn của trẻ không nên kéo dài quá 30 phút.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Nghiên cứu được thực hiện tại địa bàn đô thị loại 1 (thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế), do đó đặc điểm nhân khẩu học và thực hành nuôi dưỡng phản ánh chủ yếu bối cảnh đô thị miền Trung, cần thận trọng khi ngoại suy cho các vùng nông thôn hoặc miền núi.
  • Dữ liệu thu thập về hành vi ăn uống và tiền sử nuôi dưỡng dựa trên lời kể (tự báo cáo) của người chăm sóc, có thể chịu ảnh hưởng nhất định của sai số nhớ lại.
  • Thiết kế nghiên cứu cắt ngang và bệnh – chứng cho phép xác định các mối liên quan và tỷ suất chênh nhưng chưa thể khẳng định hoàn toàn mối quan hệ nhân quả theo trình tự thời gian như các nghiên cứu thuần tập theo dõi dọc.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng ứng dụng và tái thẩm định thang đo biếng ăn trên các quần thể trẻ em ở những vùng sinh thái, văn hóa và điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau tại Việt Nam.
  • Triển khai các nghiên cứu can thiệp giáo dục truyền thông thay đổi hành vi nuôi dưỡng của người chăm sóc tại cộng đồng dựa trên các yếu tố nguy cơ đã xác định.
  • Thực hiện các nghiên cứu theo dõi dọc (thuần tập) để đánh giá tác động lâu dài của biếng ăn đến sự phát triển thể chất, tâm thần vận động và tình trạng vi chất dinh dưỡng của trẻ khi đến tuổi đi học.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo giá trị cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Y tế công cộng, Dinh dưỡng, Nhi khoa và Tâm lý học phát triển: Tham khảo phương pháp luận kết hợp định tính - định lượng, quy trình xây dựng và thẩm định thang đo đo lường hành vi bằng phân tích nhân tố khám phá EFA và Cronbach's Alpha (Chương 2 và Chương 3).
  • Bác sĩ Nhi khoa, cán bộ tư vấn dinh dưỡng và nhân viên y tế công cộng: Tham khảo công cụ đánh giá biếng ăn chuẩn hóa để phân loại chính xác các mức độ và dạng biếng ăn tại phòng khám, tránh lạm dụng thuốc kích thích ăn hoặc nhận định sai lệch từ phụ huynh (Chương 3 và Chương 4).
  • Cán bộ quản lý chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu và dinh dưỡng trẻ em: Tham khảo các yếu tố nguy cơ liên quan đến thực hành nuôi dưỡng để xây dựng nội dung truyền thông giáo dục sức khỏe phù hợp tại cộng đồng (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng định nghĩa biếng ăn nào làm khung khái niệm chính?
Luận án sử dụng định nghĩa của Lumeng (2005) được trích dẫn trong công trình của Ekstein S. và cs (2010): "Biếng ăn là không chịu ăn những thức ăn quen thuộc hay thử thức ăn mới, trầm trọng đến mức làm ảnh hưởng đến các hoạt động thường ngày và gây ra nhiều vấn đề cho bố mẹ, trẻ và mối quan hệ giữa bố mẹ và con cái". Định nghĩa này bao hàm tính chất thiếu đa dạng thực phẩm, sợ thức ăn mới và tính chất dai dẳng của hành vi.

2. Thang đo biếng ăn trong luận án được xây dựng dựa trên những nhóm dấu hiệu cốt lõi nào?
Qua tổng quan y văn và phân tích các công cụ đo lường, thang đo được xây dựng dựa trên 3 nhóm dấu hiệu: (1) Thời gian trẻ ăn trong một bữa và hoạt động ăn (ngậm thức ăn lâu, ăn chậm, hoạt động lúc ăn); (2) Số bữa ăn, lượng thức ăn trong ngày và sự đa dạng thực phẩm (số bữa, số lượng, chất lượng, ăn vặt); (3) Trạng thái tinh thần và hành vi của trẻ lúc ăn (sợ hãi, lo lắng, căng thẳng, chống đối, né tránh).

3. Thiết kế nghiên cứu tổng thể của luận án gồm những giai đoạn nào?
Nghiên cứu gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 là nghiên cứu mô tả cắt ngang thăm dò nhằm xây dựng và thử nghiệm thang đo bằng kiểm định Cronbach's Alpha và EFA; Giai đoạn 2 là nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm) để xác định tỷ lệ và đặc điểm biếng ăn; Giai đoạn 3 là nghiên cứu bệnh - chứng với tỷ lệ ghép cặp 1 trẻ biếng ăn : 2 trẻ chứng (cùng tuổi, cùng giới, cùng phường) để xác định các yếu tố nguy cơ qua phân tích đa biến.

4. Những tiêu chuẩn thống kê nào được sử dụng để thẩm định cấu trúc thang đo?
Tác giả sử dụng hệ số Cronbach's Alpha để đánh giá độ tin cậy nội tại (loại biến có tương quan biến - tổng < 0,3); kiểm định KMO (đạt từ 0,5 đến 1,0) và kiểm định Bartlett's test of Sphericity (có ý nghĩa thống kê p < 0,05) để đánh giá tính thích hợp của phân tích nhân tố EFA; trích nhân tố dựa trên giá trị Eigenvalue > 1, hệ số tải Factor Loadings và tỷ lệ phần trăm phương sai giải thích.

5. Luận án phân biệt biếng ăn với chứng sợ thức ăn mới (Food neophobia) như thế nào?
Theo y văn luận án tổng hợp, sợ thức ăn mới là sự miễn cưỡng hoặc tránh ăn thực phẩm mới lạ dựa trên cơ chế tiến hóa tự nhiên (Rozin, 1979) và giảm dần theo tuổi khi nhận thức phát triển; người sợ thức ăn mới sẽ chấp nhận thực phẩm sau thời gian tiếp xúc lặp lại. Ngược lại, biếng ăn là hiện tượng trẻ từ chối cả thực phẩm mới lẫn thực phẩm quen thuộc và cách chế biến, mang tính dai dẳng và thể hiện sự bất thường trong phát triển sở thích ăn uống.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Y tế công cộng của tác giả Hoàng Thị Bạch Yến đã giải quyết thỏa đáng vấn đề chuẩn hóa công cụ đo lường biếng ăn ở trẻ em dưới 5 tuổi thông qua thiết kế nghiên cứu 3 giai đoạn chặt chẽ tại thành phố Huế năm 2017. Bằng việc kết hợp phương pháp định lượng (EFA, Cronbach's Alpha, mô hình bệnh - chứng ghép cặp 1:2, hồi quy logistic đa biến) và định tính, công trình đã xác lập thang đo đánh giá biếng ăn đa chiều có độ tin cậy cao, đồng thời chỉ ra thực trạng và các yếu tố nguy cơ chính xuất phát từ thực hành nuôi dưỡng và hành vi của người chăm sóc. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu dịch tễ học và luận cứ khoa học quan trọng cho công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, tư vấn dinh dưỡng lâm sàng và xây dựng chiến lược truyền thông nuôi dưỡng trẻ tích cực tại Việt Nam.