ĐẶT VẤN ĐỀ Biếng ăn là khi trẻ ăn không đủ khẩu ph n ăn theo nhu c u, dẫn đến trẻ có biểu hiện chậm tăng trưởng [1]. Đây là một trong những hành vi cho thấy trẻ có sự khó khăn hay không chấp nhận thức ăn [114] - một vấn đề rất phổ biến ở trẻ em nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào rõ ràng, nhất quán và cũng chưa có tiêu chuẩn thống nhất để đánh giá. Có nhiều phương pháp khác nhau được sử d ng để đánh giá biếng ăn, từ phương pháp sử d ng một câu hỏi đơn giản (“Con của anh/chị có biếng ăn không?” [47],[96]) đến những thang điểm với nhiều tiểu m c phức tạp hơn trong các bộ câu hỏi đánh giá mà những bộ câu hỏi này chủ yếu tìm hiểu về hành vi ăn uống [25],[30],[46],[57],[81],[96],[114]. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy rằng biếng ăn phổ biến ở trẻ em, dao động từ 5,6% đến 58,7% ở trẻ dưới 6 tuổi, tùy thuộc vào phương pháp đánh giá và tuổi của trẻ [99],[115].
Một nghiên cứu phân tích gộp năm 2017 cho thấy tỷ lệ biếng ăn là 22% [99]. Tỷ lệ này khá cao ở trẻ em các nước có thu nhập cao, lên đến 50% trong các nghiên cứu tại Mỹ [47],[77],[87]; 31% ở ustralia (2017) [107] nhưng thấp hơn nhiều ở Hà Lan với tỷ lệ 5,6% [33] và ở nh với tỷ lệ 8% [129]. Tại Châu Á cũng có một số nghiên cứu về vấn đề này. Ở Singapore, 49,2% trẻ từ 1 đến 10 tuổi biếng ăn [62].
Tại Trung Quốc, tỷ lệ biếng ăn ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ là 23,8% [131]; 54% ở trẻ 2 - 4 tuổi (Young Xue, 2015) [130] và 62% ở trẻ 1- 10 tuổi (Hsun-Chin Chao, 2017) [69]. Ở Việt Nam có rất ít nghiên cứu về vấn đề này. Tỷ lệ biếng ăn ở trẻ dưới 5 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương (Hà Nội) là 44,9% [20]. Tại thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ biếng ăn ở trẻ từ 1 đến 6 tuổi là 54,58% [16] và 20,8% ở trẻ dưới 5 tuổi [22].
Các nghiên cứu này cũng sử d ng các phương pháp khác nhau để đánh giá, chưa có một tiêu chuẩn thống nhất và cũng chưa có thang đo nào được xây dựng, sử d ng để đánh giá biếng ăn ở trẻ. Biếng ăn được xem như một hiện tượng trong tiến trình phát triển của trẻ, chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn nhưng sẽ là vấn đề nếu việc trẻ không sẵn sàng để ăn những thực phẩm quen thuộc hay để thử thức ăn mới, tr m tr ng đến mức có thể ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, phát triển của trẻ và/hoặc gây ảnh hưởng đến các mối quan hệ trong gia đình. Hậu quả của biếng ăn có thể bao gồm: chế độ ăn thiếu đa dạng, dẫn đến thiếu các thành ph n dinh dưỡng c n thiết cho trẻ và gây ra các 1 hậu quả bất lợi đối với sức khỏe [46]. Biếng ăn thường liên quan với các vấn đề về dinh dưỡng [53],[54],[68],[88],[114],[130], thường gây lo lắng cho bố mẹ và cũng có thể là nguyên nhân khiến bố mẹ phải đưa trẻ đến bác sỹ để được khám và tư vấn [96].
Đối với nhiều bà mẹ hoặc người chăm sóc trẻ, mỗi l n cho trẻ ăn là một thử thách và được mô tả như là “cuộc chiến” giữa bố mẹ và con cái, thậm chí đây có thể là nguyên nhân gây ra mâu thuẫn vợ chồng [77]. Ngoài ra, khi bố mẹ nhận định không đúng về biếng ăn có thể dẫn đến thực hành nuôi dưỡng không hợp lý như ép trẻ ăn, ép đến mức “nhồi nhét”… làm tổn hại đến sự phát triển của trẻ [17]. Biếng ăn cũng là yếu tố nguy cơ phát triển thành một dạng rối loạn ăn uống [97]. Hiện nay có rất ít nghiên cứu tập trung vào những yếu tố liên quan đến biếng ăn ở trẻ nhỏ.
Một số nghiên cứu cho thấy biếng ăn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như bị ép ăn; thực hành nuôi dưỡng của bố mẹ (bao gồm ảnh hưởng của việc bố mẹ kiểm soát con cái); ảnh hưởng của xã hội; không được bú mẹ hoàn toàn; cho ăn bổ sung trước 6 tháng và trì hoãn việc cho trẻ ăn nhai [46],[114]. Việt Nam đang trải qua giai đoạn chuyển tiếp về dinh dưỡng và tồn tại gánh nặng kép gồm suy dinh dưỡng, thừa cân/béo phì; các bệnh không lây nhiễm và thiếu vi chất. Sự thay đổi này liên quan với việc cải thiện lượng thực phẩm ăn vào, đặc biệt là tăng sử d ng những thực phẩm có đậm độ năng lượng cao [126]. Do điều kiện kinh tế phát triển, an ninh lương thực được đảm bảo hơn so với thời gian trước nên biếng ăn cũng trở thành vấn đề phổ biến và được quan tâm nhiều hơn.
Việc phát triển thang đo đánh giá biếng ăn và xác định những yếu tố liên quan đến biếng ăn của trẻ trong bối cảnh Việt Nam là nhu c u thực tế, cấp thiết không chỉ đối với trẻ, bố mẹ, người chăm sóc mà còn rất c n thiết đối với những người công tác trong lĩnh vực y tế và giáo d c. Nghiên cứu này nhằm ba m c tiêu sau: 1. Xây dựng và thử nghiệm thang đo đánh giá biếng ăn ở trẻ em dưới 5 tuổi tại thành phố Huế. Xác định tỷ lệ và mô tả đặc điểm biếng ăn ở trẻ dưới 5 tuổi tại thành phố Huế năm 2017 theo thang đo đã xây dựng.
Mô tả một số yếu tố liên quan đến biếng ăn ở đối tượng nghiên cứu. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm hành vi ăn uống Hành vi ăn uống (HV U) là biểu hiện bên ngoài của hoạt động được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể có ý thức (thích/không thích, thoải mái/căng thẳng…) và chịu sự quy định của các tác nhân kích thích có điều kiện ăn uống (mùi vị thực phẩm (TP), sự bắt mắt của thức ăn (T )… hay những tác nhân kích thích từ môi trường (sự vui vẻ, yên tĩnh hay ồn ào, căng thẳng. HV U của trẻ chịu sự chi phối của giáo d c dinh dưỡng và thói quen ăn uống.
Trẻ sinh ra và tiếp xúc với T , những TP đ u tiên này sẽ tạo cho trẻ cảm giác yêu thích hay chán ghét, từ đó trẻ sẽ thể hiện thông qua HV U của mình. Ngoài ra, HV U ph thuộc vào những nguồn TP cung cấp cho trẻ, ph thuộc vào vùng miền, văn hóa ẩm thực nơi trẻ sinh sống. Trẻ ở những vùng miền khác nhau sẽ có HV U khác nhau, nếu cung cấp cho trẻ những TP mà trẻ quen thuộc sẽ giúp trẻ có được HV U tốt, trẻ sẽ không cáu gắt, khó chịu hay nảy sinh bệnh lý. Chế độ ăn uống hàng ngày cũng là cơ sở hình thành HV U ở trẻ.
Nếu cho trẻ ăn lệch giờ mà trẻ đã quen thuộc cũng làm cho trẻ không muốn ăn, gây ức chế cho trẻ [18]. Khái niệm biếng ăn 1. Quan niệm về biếng ăn Có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề biếng ăn (BA). Quan niệm đơn giản B nghĩa là chán ăn hay không muốn ăn, không thèm ăn.
Đây là c m từ được sử d ng rộng rãi để mô tả những trẻ chỉ ăn được số lượng ít, chỉ thích một vài loại TA nhất định hoặc tránh né, sợ hãi hay không muốn ăn món nào đó. Theo từ điển tiếng Việt thì B là thuật ngữ chỉ trạng thái không thiết ăn hay ăn vào nhưng không có những cảm giác thích thú hay sự cảm nhận về độ ngon miệng hoặc sự thoải mái về tinh th n. Tuy nhiên, những quan niệm này chỉ mô tả được biểu hiện bên ngoài của B [18]. Quan niệm của một số bố mẹ về B : “Trẻ thường ăn rất ít và tìm mọi cách để trốn tránh khi đến bữa ăn.
So với những đứa trẻ cùng tuổi ở hàng xóm, cháu ăn ít 3 hơn nhiều” [16], “Biếng ăn là trẻ không chịu ăn khi đến bữa ăn, thường xuyên tìm cách chạy trốn khi đến bữa ăn” hoặc “Biếng ăn là ăn ít hơn so với những đứa trẻ cùng tuổi khác” [18]. Định nghĩa biếng ăn trong các nghiên cứu Có rất nhiều tác giả đã định nghĩa B theo nhiều cách khác nhau. B là một vấn đề phức tạp, phản ánh trong sự không thống nhất về phương pháp đánh giá và sự thiếu rõ ràng về định nghĩa [46]. Sau đây là một số định nghĩa B trong các nghiên cứu (NC) trước: - Irene C.
và cộng sự (cs) (2007): B là “luôn” ăn những bữa ăn khác với các thành viên còn lại trong gia đình, từ chối những T do mẹ nấu hoặc thường từ chối ăn [53]. và cs (2010): B dùng để mô tả sự tiêu th không đa dạng các loại T. B bao gồm không chấp nhận hoặc chỉ chấp nhận một loại TP nào đó, ng n ngại thử một loại TP mới, ăn giới hạn một vài nhóm TP nhất định và ăn lượng ít hơn những gì mà chúng ta mong đợi ở tuổi của trẻ [96]. - BA là không muốn ăn những TP quen thuộc hoặc không muốn thử TA mới, đủ tr m tr ng đến mức ảnh hưởng đến các hoạt động thường ngày và gây ảnh hưởng đến bố mẹ, trẻ hoặc mối quan hệ giữa trẻ với bố mẹ (Lumeng 2005, được trích dẫn trong bài báo của Ekstein S.
- Huỳnh Văn Sơn và cs (2012): B là không chịu ăn đủ số lượng T c n thiết cho nhu c u sống, hoạt động và tăng trưởng của trẻ [18]. Như vậy, có nhiều định nghĩa về B nhưng tất cả đều chưa thống nhất và chưa được chấp nhận rộng rãi, tuy nhiên, nhìn chung trẻ mắc phải tình trạng này thường có biểu hiện không chịu ăn đủ số lượng T c n thiết theo nhu c u của lứa tuổi, chỉ ưa thích một vài loại T nhất định hoặc tránh thử món ăn mới [17],[47],[110] và BA chính là một biểu hiện của HV U ở trẻ từ 1 đến 5 tuổi [17]. Trong NC này, chúng tôi sử d ng định nghĩa của Lumeng (2005) được trích dẫn trong bài báo của Ekstein S. và cs (2010) [54] vì định nghĩa này bao gồm các yếu tố như chế độ ăn thiếu đa dạng, sợ T và có các hành vi dai dẳng: “B là không chịu ăn những T quen thuộc hay thử T mới, tr m tr ng đến mức làm ảnh hưởng đến các hoạt động thường ngày và gây ra nhiều vấn đề cho bố mẹ, trẻ và mối quan hệ giữa bố mẹ và con cái”.
Định nghĩa này cũng được một số tác giả khác công nhận [46]. Giải thích một số thuật ngữ Bảng 1.