Luận án tiến sĩ xây dựng và ứng dụng thang đo biếng ăn vào nghiên cứu thực trạng biếng ăn ở trẻ em dưới 5 tuổi tại thành phố huế

Luận án tiến sĩ kỹ thuật phân tích xây dựng và ứng dụng thang đo biếng ăn vào nghiên cứu thực trạng biếng ăn ở trẻ em dưới 5 tuổi tại, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

234
5
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Hành vi ăn uống của trẻ

1.2. Biếng ăn trẻ em

1.3. Tình hình nghiên cứu biếng ăn và yếu tố nguy cơ của biếng ăn trên thế giới và ở Việt Nam

1.4. Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu và lý do chọn nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Biến số nghiên cứu

2.4. Tiêu chí đánh giá

2.5. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

2.6. Sai số và biện pháp hạn chế sai số

2.7. Đạo đức trong nghiên cứu

2.8. Hạn chế của nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Xây dựng thang đo đánh giá biếng ăn ở trẻ dưới 5 tuổi

3.2. Tỷ lệ và mô tả đặc điểm biếng ăn (nghiên cứu mô tả cắt ngang)

3.3. Một số yếu tố nguy cơ gây biếng ăn (nghiên cứu bệnh – chứng)

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Xây dựng thang đo đánh giá biếng ăn ở trẻ dưới 5 tuổi

4.2. Tỷ lệ và đặc điểm của biếng ăn

4.3. Một số yếu tố nguy cơ gây biếng ăn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Thực trạng biếng ăn ở trẻ dưới 5 tuổi tại Huế

Biếng ăn là một vấn đề phổ biến ở trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt tại Huế. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá thực trạng biếng ăn thông qua việc xây dựng và ứng dụng thang đo chuyên biệt. Biếng ăn được định nghĩa là tình trạng trẻ không ăn đủ lượng thức ăn cần thiết, dẫn đến chậm tăng trưởng và ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ em. Tỷ lệ biếng ăn tại Huế được ghi nhận là cao, với nhiều yếu tố liên quan như hành vi ăn uống, dinh dưỡng, và phát triển trẻ em.

1.1. Định nghĩa và đặc điểm của biếng ăn

Biếng ăn được định nghĩa là tình trạng trẻ từ chối ăn đủ lượng thức ăn cần thiết, thường liên quan đến hành vi ăn uống không phù hợp. Trẻ có thể từ chối thức ăn quen thuộc hoặc không muốn thử món mới. Điều này ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡngsức khỏe trẻ em. Nghiên cứu chỉ ra rằng biếng ăn có thể dẫn đến thiếu hụt dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ.

1.2. Tỷ lệ biếng ăn tại Huế

Tỷ lệ biếng ăntrẻ em dưới 5 tuổi tại Huế được ghi nhận là cao, dao động từ 20% đến 50% tùy theo phương pháp đánh giá. Nghiên cứu sử dụng thang đo chuyên biệt để xác định tỷ lệ này, đồng thời phân tích các yếu tố nguy cơ như can thiệp dinh dưỡng, hành vi ăn uống, và tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Kết quả cho thấy biếng ăn là vấn đề cần được quan tâm trong công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em tại địa phương.

II. Xây dựng và ứng dụng thang đo biếng ăn

Nghiên cứu này tập trung vào việc xây dựng và ứng dụng thang đo để đánh giá biếng ăntrẻ em dưới 5 tuổi. Thang đo được thiết kế dựa trên các tiêu chí về hành vi ăn uống, tình trạng dinh dưỡng, và phát triển trẻ em. Quá trình xây dựng thang đo bao gồm việc thử nghiệm và đánh giá độ tin cậy, đảm bảo tính chính xác và khả năng ứng dụng trong thực tế.

2.1. Quy trình xây dựng thang đo

Quy trình xây dựng thang đo bao gồm các bước: xác định tiêu chí đánh giá, thiết kế câu hỏi, thử nghiệm và đánh giá độ tin cậy. Thang đo được xây dựng dựa trên các nghiên cứu trước đây về biếng ănhành vi ăn uống của trẻ. Kết quả thử nghiệm cho thấy thang đo có độ tin cậy cao, phù hợp để sử dụng trong các nghiên cứu và can thiệp liên quan đến sức khỏe trẻ em.

2.2. Ứng dụng thang đo trong thực tế

Thang đo được ứng dụng trong nghiên cứu thực trạng biếng ăn tại Huế, giúp xác định tỷ lệ và các yếu tố liên quan. Kết quả từ thang đo cung cấp thông tin quan trọng để thiết kế các chương trình can thiệp dinh dưỡng và cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Thang đo cũng có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu và chương trình chăm sóc sức khỏe trẻ em tại Việt Nam.

III. Yếu tố nguy cơ và can thiệp dinh dưỡng

Nghiên cứu chỉ ra nhiều yếu tố nguy cơ dẫn đến biếng ăntrẻ em dưới 5 tuổi, bao gồm hành vi ăn uống không phù hợp, tình trạng dinh dưỡng kém, và thiếu can thiệp dinh dưỡng hiệu quả. Các chương trình can thiệp dinh dưỡng được đề xuất nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡngsức khỏe trẻ em, đồng thời giảm tỷ lệ biếng ăn tại Huế.

3.1. Yếu tố nguy cơ gây biếng ăn

Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm hành vi ăn uống không phù hợp, thiếu đa dạng thực phẩm, và tình trạng dinh dưỡng kém. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc ép trẻ ăn hoặc sử dụng thực phẩm không phù hợp có thể làm trầm trọng thêm tình trạng biếng ăn. Các yếu tố xã hội và gia đình cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hành vi ăn uống của trẻ.

3.2. Can thiệp dinh dưỡng

Các chương trình can thiệp dinh dưỡng được đề xuất nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡngsức khỏe trẻ em. Các biện pháp bao gồm giáo dục dinh dưỡng cho phụ huynh, đa dạng hóa thực phẩm, và tạo môi trường ăn uống tích cực cho trẻ. Can thiệp dinh dưỡng hiệu quả có thể giúp giảm tỷ lệ biếng ăn và cải thiện phát triển trẻ em tại Huế.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ xây dựng và ứng dụng thang đo biếng ăn vào nghiên cứu thực trạng biếng ăn ở trẻ em dưới 5 tuổi tại thành phố huế

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Biếng ăn là khi trẻ ăn không đủ khẩu ph n ăn theo nhu c u, dẫn đến trẻ có biểu hiện chậm tăng trưởng [1]. Đây là một trong những hành vi cho thấy trẻ có sự khó khăn hay không chấp nhận thức ăn [114] - một vấn đề rất phổ biến ở trẻ em nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào rõ ràng, nhất quán và cũng chưa có tiêu chuẩn thống nhất để đánh giá. Có nhiều phương pháp khác nhau được sử d ng để đánh giá biếng ăn, từ phương pháp sử d ng một câu hỏi đơn giản (“Con của anh/chị có biếng ăn không?” [47],[96]) đến những thang điểm với nhiều tiểu m c phức tạp hơn trong các bộ câu hỏi đánh giá mà những bộ câu hỏi này chủ yếu tìm hiểu về hành vi ăn uống [25],[30],[46],[57],[81],[96],[114]. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy rằng biếng ăn phổ biến ở trẻ em, dao động từ 5,6% đến 58,7% ở trẻ dưới 6 tuổi, tùy thuộc vào phương pháp đánh giá và tuổi của trẻ [99],[115].

Một nghiên cứu phân tích gộp năm 2017 cho thấy tỷ lệ biếng ăn là 22% [99]. Tỷ lệ này khá cao ở trẻ em các nước có thu nhập cao, lên đến 50% trong các nghiên cứu tại Mỹ [47],[77],[87]; 31% ở ustralia (2017) [107] nhưng thấp hơn nhiều ở Hà Lan với tỷ lệ 5,6% [33] và ở nh với tỷ lệ 8% [129]. Tại Châu Á cũng có một số nghiên cứu về vấn đề này. Ở Singapore, 49,2% trẻ từ 1 đến 10 tuổi biếng ăn [62].

Tại Trung Quốc, tỷ lệ biếng ăn ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ là 23,8% [131]; 54% ở trẻ 2 - 4 tuổi (Young Xue, 2015) [130] và 62% ở trẻ 1- 10 tuổi (Hsun-Chin Chao, 2017) [69]. Ở Việt Nam có rất ít nghiên cứu về vấn đề này. Tỷ lệ biếng ăn ở trẻ dưới 5 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương (Hà Nội) là 44,9% [20]. Tại thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ biếng ăn ở trẻ từ 1 đến 6 tuổi là 54,58% [16] và 20,8% ở trẻ dưới 5 tuổi [22].

Các nghiên cứu này cũng sử d ng các phương pháp khác nhau để đánh giá, chưa có một tiêu chuẩn thống nhất và cũng chưa có thang đo nào được xây dựng, sử d ng để đánh giá biếng ăn ở trẻ. Biếng ăn được xem như một hiện tượng trong tiến trình phát triển của trẻ, chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn nhưng sẽ là vấn đề nếu việc trẻ không sẵn sàng để ăn những thực phẩm quen thuộc hay để thử thức ăn mới, tr m tr ng đến mức có thể ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, phát triển của trẻ và/hoặc gây ảnh hưởng đến các mối quan hệ trong gia đình. Hậu quả của biếng ăn có thể bao gồm: chế độ ăn thiếu đa dạng, dẫn đến thiếu các thành ph n dinh dưỡng c n thiết cho trẻ và gây ra các 1 hậu quả bất lợi đối với sức khỏe [46]. Biếng ăn thường liên quan với các vấn đề về dinh dưỡng [53],[54],[68],[88],[114],[130], thường gây lo lắng cho bố mẹ và cũng có thể là nguyên nhân khiến bố mẹ phải đưa trẻ đến bác sỹ để được khám và tư vấn [96].

Đối với nhiều bà mẹ hoặc người chăm sóc trẻ, mỗi l n cho trẻ ăn là một thử thách và được mô tả như là “cuộc chiến” giữa bố mẹ và con cái, thậm chí đây có thể là nguyên nhân gây ra mâu thuẫn vợ chồng [77]. Ngoài ra, khi bố mẹ nhận định không đúng về biếng ăn có thể dẫn đến thực hành nuôi dưỡng không hợp lý như ép trẻ ăn, ép đến mức “nhồi nhét”… làm tổn hại đến sự phát triển của trẻ [17]. Biếng ăn cũng là yếu tố nguy cơ phát triển thành một dạng rối loạn ăn uống [97]. Hiện nay có rất ít nghiên cứu tập trung vào những yếu tố liên quan đến biếng ăn ở trẻ nhỏ.

Một số nghiên cứu cho thấy biếng ăn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như bị ép ăn; thực hành nuôi dưỡng của bố mẹ (bao gồm ảnh hưởng của việc bố mẹ kiểm soát con cái); ảnh hưởng của xã hội; không được bú mẹ hoàn toàn; cho ăn bổ sung trước 6 tháng và trì hoãn việc cho trẻ ăn nhai [46],[114]. Việt Nam đang trải qua giai đoạn chuyển tiếp về dinh dưỡng và tồn tại gánh nặng kép gồm suy dinh dưỡng, thừa cân/béo phì; các bệnh không lây nhiễm và thiếu vi chất. Sự thay đổi này liên quan với việc cải thiện lượng thực phẩm ăn vào, đặc biệt là tăng sử d ng những thực phẩm có đậm độ năng lượng cao [126]. Do điều kiện kinh tế phát triển, an ninh lương thực được đảm bảo hơn so với thời gian trước nên biếng ăn cũng trở thành vấn đề phổ biến và được quan tâm nhiều hơn.

Việc phát triển thang đo đánh giá biếng ăn và xác định những yếu tố liên quan đến biếng ăn của trẻ trong bối cảnh Việt Nam là nhu c u thực tế, cấp thiết không chỉ đối với trẻ, bố mẹ, người chăm sóc mà còn rất c n thiết đối với những người công tác trong lĩnh vực y tế và giáo d c. Nghiên cứu này nhằm ba m c tiêu sau: 1. Xây dựng và thử nghiệm thang đo đánh giá biếng ăn ở trẻ em dưới 5 tuổi tại thành phố Huế. Xác định tỷ lệ và mô tả đặc điểm biếng ăn ở trẻ dưới 5 tuổi tại thành phố Huế năm 2017 theo thang đo đã xây dựng.

Mô tả một số yếu tố liên quan đến biếng ăn ở đối tượng nghiên cứu. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm hành vi ăn uống Hành vi ăn uống (HV U) là biểu hiện bên ngoài của hoạt động được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể có ý thức (thích/không thích, thoải mái/căng thẳng…) và chịu sự quy định của các tác nhân kích thích có điều kiện ăn uống (mùi vị thực phẩm (TP), sự bắt mắt của thức ăn (T )… hay những tác nhân kích thích từ môi trường (sự vui vẻ, yên tĩnh hay ồn ào, căng thẳng. HV U của trẻ chịu sự chi phối của giáo d c dinh dưỡng và thói quen ăn uống.

Trẻ sinh ra và tiếp xúc với T , những TP đ u tiên này sẽ tạo cho trẻ cảm giác yêu thích hay chán ghét, từ đó trẻ sẽ thể hiện thông qua HV U của mình. Ngoài ra, HV U ph thuộc vào những nguồn TP cung cấp cho trẻ, ph thuộc vào vùng miền, văn hóa ẩm thực nơi trẻ sinh sống. Trẻ ở những vùng miền khác nhau sẽ có HV U khác nhau, nếu cung cấp cho trẻ những TP mà trẻ quen thuộc sẽ giúp trẻ có được HV U tốt, trẻ sẽ không cáu gắt, khó chịu hay nảy sinh bệnh lý. Chế độ ăn uống hàng ngày cũng là cơ sở hình thành HV U ở trẻ.

Nếu cho trẻ ăn lệch giờ mà trẻ đã quen thuộc cũng làm cho trẻ không muốn ăn, gây ức chế cho trẻ [18]. Khái niệm biếng ăn 1. Quan niệm về biếng ăn Có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề biếng ăn (BA). Quan niệm đơn giản B nghĩa là chán ăn hay không muốn ăn, không thèm ăn.

Đây là c m từ được sử d ng rộng rãi để mô tả những trẻ chỉ ăn được số lượng ít, chỉ thích một vài loại TA nhất định hoặc tránh né, sợ hãi hay không muốn ăn món nào đó. Theo từ điển tiếng Việt thì B là thuật ngữ chỉ trạng thái không thiết ăn hay ăn vào nhưng không có những cảm giác thích thú hay sự cảm nhận về độ ngon miệng hoặc sự thoải mái về tinh th n. Tuy nhiên, những quan niệm này chỉ mô tả được biểu hiện bên ngoài của B [18]. Quan niệm của một số bố mẹ về B : “Trẻ thường ăn rất ít và tìm mọi cách để trốn tránh khi đến bữa ăn.

So với những đứa trẻ cùng tuổi ở hàng xóm, cháu ăn ít 3 hơn nhiều” [16], “Biếng ăn là trẻ không chịu ăn khi đến bữa ăn, thường xuyên tìm cách chạy trốn khi đến bữa ăn” hoặc “Biếng ăn là ăn ít hơn so với những đứa trẻ cùng tuổi khác” [18]. Định nghĩa biếng ăn trong các nghiên cứu Có rất nhiều tác giả đã định nghĩa B theo nhiều cách khác nhau. B là một vấn đề phức tạp, phản ánh trong sự không thống nhất về phương pháp đánh giá và sự thiếu rõ ràng về định nghĩa [46]. Sau đây là một số định nghĩa B trong các nghiên cứu (NC) trước: - Irene C.

và cộng sự (cs) (2007): B là “luôn” ăn những bữa ăn khác với các thành viên còn lại trong gia đình, từ chối những T do mẹ nấu hoặc thường từ chối ăn [53]. và cs (2010): B dùng để mô tả sự tiêu th không đa dạng các loại T. B bao gồm không chấp nhận hoặc chỉ chấp nhận một loại TP nào đó, ng n ngại thử một loại TP mới, ăn giới hạn một vài nhóm TP nhất định và ăn lượng ít hơn những gì mà chúng ta mong đợi ở tuổi của trẻ [96]. - BA là không muốn ăn những TP quen thuộc hoặc không muốn thử TA mới, đủ tr m tr ng đến mức ảnh hưởng đến các hoạt động thường ngày và gây ảnh hưởng đến bố mẹ, trẻ hoặc mối quan hệ giữa trẻ với bố mẹ (Lumeng 2005, được trích dẫn trong bài báo của Ekstein S.

- Huỳnh Văn Sơn và cs (2012): B là không chịu ăn đủ số lượng T c n thiết cho nhu c u sống, hoạt động và tăng trưởng của trẻ [18]. Như vậy, có nhiều định nghĩa về B nhưng tất cả đều chưa thống nhất và chưa được chấp nhận rộng rãi, tuy nhiên, nhìn chung trẻ mắc phải tình trạng này thường có biểu hiện không chịu ăn đủ số lượng T c n thiết theo nhu c u của lứa tuổi, chỉ ưa thích một vài loại T nhất định hoặc tránh thử món ăn mới [17],[47],[110] và BA chính là một biểu hiện của HV U ở trẻ từ 1 đến 5 tuổi [17]. Trong NC này, chúng tôi sử d ng định nghĩa của Lumeng (2005) được trích dẫn trong bài báo của Ekstein S. và cs (2010) [54] vì định nghĩa này bao gồm các yếu tố như chế độ ăn thiếu đa dạng, sợ T và có các hành vi dai dẳng: “B là không chịu ăn những T quen thuộc hay thử T mới, tr m tr ng đến mức làm ảnh hưởng đến các hoạt động thường ngày và gây ra nhiều vấn đề cho bố mẹ, trẻ và mối quan hệ giữa bố mẹ và con cái”.

Định nghĩa này cũng được một số tác giả khác công nhận [46]. Giải thích một số thuật ngữ Bảng 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu thực trạng biếng ăn ở trẻ dưới 5 tuổi tại Huế: Xây dựng và ứng dụng thang đo là một tài liệu quan trọng tập trung vào vấn đề biếng ăn ở trẻ nhỏ, một thách thức phổ biến trong chăm sóc sức khỏe nhi khoa. Nghiên cứu này không chỉ phân tích thực trạng biếng ăn tại Huế mà còn xây dựng và ứng dụng một thang đo khoa học để đánh giá tình trạng này, giúp các bậc phụ huynh và chuyên gia y tế có công cụ hiệu quả để can thiệp kịp thời. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho những ai quan tâm đến sức khỏe và dinh dưỡng trẻ em.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề sức khỏe khác, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu mật độ xương tình trạng vitamin d và một số markers chu chuyển xương ở trẻ từ 6 đến 14 tuổi tại thành phố cần thơ, nghiên cứu này cung cấp thêm góc nhìn về dinh dưỡng và sức khỏe xương ở trẻ. Ngoài ra, 0484 nghiên cứu tình hình thai to và các yếu tố liên quan ở các sản phụ tại bv phụ sản tp cần thơ năm 2014 2015 cũng là một tài liệu đáng chú ý, giúp hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe mẹ và bé. Cuối cùng, Đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ở trung tâm y tế huyện giồng riềng tỉnh kiên giang năm 2021 mang đến góc nhìn về tuân thủ điều trị, một yếu tố quan trọng trong quản lý sức khỏe. Hãy khám phá thêm để có cái nhìn toàn diện hơn về các chủ đề liên quan!