ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, kèm theo nhiều hệ lụy về ô nhiễm môi trƣờng, đồng thời chất lƣợng thực phẩm không đảm bảo, chế độ ăn uống không hợp lí dẫn đến sự gia tăng các bệnh lý liên quan đến chuyển hóa và nội tiết, trong đó có đái tháo đƣờng. Bệnh đặc trƣng bởi tình trạng tăng đƣờng huyết mạn tính phối hợp với rối loạn chuyển hóa glucid, lipid và protein do tình trạng thiếu hụt về số lƣợng insulin, tác dụng của insulin hoặc cả hai [29]. Theo báo cáo toàn cầu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 2016 số lƣợng ngƣời lớn tuổi mắc bệnh đái tháo đƣờng tăng vọt từ 108 triệu ngƣời năm 1980 lên 422 triệu ngƣời năm 2015. Bên cạnh đó, đái tháo đƣờng gây tử vong cho 1,6 triệu ngƣời vào năm 2016 và đƣợc coi là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 7 trong tất cả các nguyên nhân [77].
Đái tháo đƣờng không chỉ mang lại gánh nặng về mặt sức khỏe mà còn là gánh nặng về kinh tế cho bệnh nhân và gia đình. Bệnh có thể gây ra nhiều biến chứng trên tim, mạch, thận, thần kinh, mắt. dẫn đến tử vong cho ngƣời bệnh. Hiện nay có rất nhiều nhóm thuốc điều trị đái tháo đƣờng có hiệu quả nhƣ insulin, biguanid, sulfonylurea nhƣng có nhiều tác dụng không mong muốn [24].
Bên cạnh đó, bệnh nhân ĐTĐ thƣờng kèm thêm nhiều bệnh lý nên khi điều trị phải kết hợp nhiều thuốc gây ra sự tƣơng tác hoặc ảnh hƣởng đến chức năng gan, đồng thời thời gian điều trị của bệnh nhân kéo dài dẫn đến khó khăn về kinh tế và tuân thủ điều trị. Một trong những hƣớng nghiên cứu trên thế giới hiện nay là sàng lọc, tìm ra các hoạt chất có nguồn gốc tự nhiên, chủ yếu từ thực vật có tính an toàn, hiệu quả và thích hợp cho điều trị kéo dài. Nƣớc ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, hệ thực vật và động vật vô cùng phong phú và đa dạng. Vấn đề làm phong phú thêm các nguồn thuốc của Việt Nam và nghiên cứu sử dụng các thuốc có nguồn gốc dƣợc liệu có tác dụng tốt điều trị bệnh đặc biệt là bệnh lý mạn tính nhƣ ĐTĐ là mối quan tâm hàng đầu của các nhà khoa học.
Dền toòng quả dài (DTQD) có tên khoa học là Gomphogyne bonii Gagnep., thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae), lần đầu tiên đƣợc tìm ra ở các tỉnh vùng núi phía Bắc, Việt Nam với các tên gọi khác nhau nhƣ Đầu thƣ, Dây gom, Dền toòng quả dài. Họ Cucurbitaceae là một trong những họ có nhiều chi và loài đã đƣợc các nhà khoa học chứng minh tác dụng trong một số bệnh lý tim mạch, rối loạn lipid máu, chống 2 oxy hóa và tăng cƣờng miễn dịch…[3],[12]. Trong dân gian, cộng đồng ngƣời Tày ở khu vực huyện Trùng Khánh (tỉnh Cao Bằng) thƣờng dùng bộ phận trên mặt đất của cây này uống dùng để giải độc gan, điều trị đái tháo đƣờng, béo phì,… Tuy nhiên, chƣa có một nghiên cứu nào chứng minh các tác dụng trên của Dền toòng quả dài. Nhằm đánh giá một cách khoa học các tác dụng chính của cây Dền toòng quả dài, đề tài “Nghiên cứu tác dụng hạ đường huyết và bảo vệ gan của cây Dền toòng quả dài (Gomphogyne bonii Ganep.) trên thực nghiệm” đã đƣợc thực hiện với 2 mục tiêu: 1.
Đánh giá tác dụng hạ glucose máu của Dền toòng quả dài trên chuột nhắt trắng gây mô hình đái tháo đường typ 2. Đánh giá tác dụng bảo vệ gan của Dền toòng quả dài trên chuột nhắt trắng gây tổn thương gan bằng paracetamol. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. SƠ LƢỢC VỀ CHUYỂN HÓA GLUCOSE VÀ BỆNH LÝ ĐÁI THÁO ĐƢỜNG 1.
Vai trò của glucid và sự vận chuyển glucose trong cơ thể Glucid là thành phần cơ bản của sinh vật, là nguồn năng lƣợng chủ yếu và trực tiếp cho mọi hoạt động của tế bào, mô và cơ quan của cơ thể (chiếm 50-55%) [14]. Trong cơ thể các dạng glucid tồn tại chủ yếu là: - Dạng dự trữ: Glycogen, tập trung nhiều ở gan và cơ - Dạng vận chuyển: Glucose trong máu và dịch ngoại bào - Dạng tham gia cấu tạo tế bào và các chất khác: Pentose trong thành phần acid nucleic, glucid phức tạp tham gia cấu tạo màng tế bào, màng các bào quan (glycoprotein, glycolipid)…. Glucose từ trong máu đƣợc vận chuyển đến các mô nhờ protein vận chuyển (glucose transporters - GLUTs). Có hơn 10 loại GLUT đã đƣợc tìm thấy, trong đó quan trọng là GLUT vận chuyển glucose đến các mô đích (gan, cơ, và mô mỡ).
- GLUT2: đặc trƣng cho tế bào gan, là protein không phụ thuộc insulin. Glucose có thể qua lại tế bào gan tự do làm nồng độ glucose trong gan và máu tƣơng tự nhau, giúp tế bào gan có thể phản ứng kịp thời với sự thay đổi nồng độ glucose máu [45]. - GLUT4: vận chuyển glucose từ máu vào mô xƣơng, cơ tim và mô mỡ để tiếp tục con đƣờng thoái hóa glucose tiếp theo. Đây là protein vận chuyển glucose phụ thuộc insulin [9],[45].
Sự điều hòa cân bằng glucose máu Nồng độ glucose máu ở ngƣời bình thƣờng là 0,8-1,2 g/L. Để đảm bảo cân bằng lƣợng glucid cơ thể điều hòa thông qua 2 cơ chế: cơ chế nội tiết và cơ chế thần kinh. Vai trò của hệ nội tiết: các hormon làm hạ glucose máu (insulin, incretin), các hormon làm tăng glucose máu (adrenalin, glucagon, glucocorticoid, thyroxin, STH, insulinase và kháng thể kháng insulin) [9]. Vai trò của hệ thần kinh: đƣờng huyết tăng trong trƣờng hợp hƣng phấn vỏ não và cƣờng giao cảm (stress, lo lắng…).
Vai trò của trung tâm A và trung tâm B nằm ở vùng dƣới đồi cũng tham gia điều hòa đƣờng huyết [9]. Đại cương bệnh đái tháo đường theo Y học hiện đại 1. Định nghĩa Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2006 định nghĩa: “Đái tháo đƣờng là một bệnh mạn tính gây ra do thiếu sản xuất insulin của tụy hoặc tác dụng insulin không hiệu quả do nguyên nhân mắc phải và/hoặc do di truyền với hậu quả là tăng glucose máu” [76]. Theo hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ (ADA) 2018 đƣa ra khái niệm: Đái tháo đƣờng là một nhóm bệnh lý chuyển hóa đặc trƣng bởi sự tăng glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin hoặc do tác động của insulin hoặc cả hai.
Tăng glucose máu mạn tính trong thời gian dài sẽ gây rối loạn chuyển hóa carbohydrat, protid, lipid, gây tổn thƣơng nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu [57]. Tiêu chuẩn chẩn đoán Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh ĐTĐ theo Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ (ADA) dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây [57]. -HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/l) -Glucose máu lúc đói ≥ 126 mg/dL (hay 7,0 mmol/l) sau nhịn đói ít nhất 8 giờ (≥ 2 lần xét nghiệm) -Glucose máu ≥ 200mg/dL (hay 11,1 mmol/l) ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose đƣờng uống 75g (≥ 2 lần xét nghiệm) -Bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose máu hoặc glucose máu bất kỳ ≥ 200mg/dL (hay 11,1 mmol/l) (≥ 2 lần xét nghiệm) Ngoài ra, hiện nay, những tình trạng rối loạn glucose máu dù chƣa đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán đái tháo đƣờng nhƣng vẫn có nguy cơ xuất hiện các biến chứng mạch máu lớn của đái tháo đƣờng, đƣợc gọi là tiền đái tháo đƣờng. Phân loại Theo phân loại của hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ (ADA) năm 2018, ĐTĐ đƣợc chia làm các typ sau [57].
-ĐTĐ typ 1 -ĐTĐ typ 2 -ĐTĐ thai kỳ: liên quan đến sự có mặt của kháng thể kháng insulin và sự thay đổi nồng độ hormon trong thời kỳ mang thai. 5 -ĐTĐ thứ phát do các nguyên nhân khác: khiếm khuyết chức năng tế bào β đảo tụy: bệnh lý viêm tụy, u tụy, hội chứng Cushing,… 1. Cơ chế bệnh sinh Nhiều cơ chế bệnh gây tăng đƣờng huyết ở bệnh nhân ĐTĐ đã đƣợc biết nhƣ: giảm tiết insulin ở tụy, giảm tác dụng của incretin ở ruột, tăng tiết glucagon ở tụy, tăng tạo glucose ở gan…. ĐTĐ typ 1: chiếm tỷ lệ 5-15% trong số các bệnh nhân ĐTĐ.
Cơ chế ĐTĐ typ 1 liên quan đến tình trạng thiếu hụt insulin tuyệt đối do phá hủy tế bào β đảo tụy bởi sự tƣơng tác giữa các yếu tố gen, môi trƣờng và miễn dịch. Quá trình này là tự miễn, cơ thể sinh ra các kháng thể chống lại tế bào β đảo tụy. Gen HLA DR4-DQ8 và DR3- DQ2 đƣợc tìm thấy ở 90% trẻ mắc ĐTĐ typ 1 [29]. ĐTĐ typ 2 chiếm tỷ lệ cao nhất (trên 90%) trong số các bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ.
Cơ chế bệnh sinh trong ĐTĐ typ 2 là sự đề kháng insulin ở ngoại vi và sự thiếu hụt insulin tƣơng đối do rối loạn bài tiết insulin. Các yếu tố gen, tình trạng béo phì, hạn chế vận động, ăn uống không hợp lý… là điều kiện phát sinh và tiến triển bệnh. Trong đó, tình trạng kháng insulin là tình trạng giảm hoặc mất tính nhạy cảm của cơ quan đích với insulin đƣợc coi là khiếm khuyết ban đầu hoặc khiếm khuyết chính trong cơ chế bệnh sinh cúa ĐTĐ typ 2. Kháng insulin xuất hiện khi lƣợng insulin bình thƣờng do tụy tiết ra không đủ để đáp ứng chức năng của các tế bào trong cơ thể.
Để duy trì nồng độ glucose máu bình thƣờng, tế bào β tuyến tụy phải tiết thêm insulin, làm tăng nồng độ insulin. Có nhiều yếu tố khởi phát sự đề kháng insulin trong đó béo phì là yếu tố nguy cơ chính. Béo phì làm tăng lƣợng acid béo tự do vào tuần hoàn và vào gan. Nồng độ insulin tăng cao, gan sẽ tăng sản xuất lipoprotein tỉ trọng thấp (VLDL) và triglyceride (TG), gây lắng đọng ở gan gây thoái hóa mỡ, ở cơ gây kháng insulin [37].
Sự rối loạn bài tiết insulin xảy ra trong ĐTĐ typ 2 nguyên nhân là do sự rối loạn về nhịp bài tiết insulin, bất thƣờng về số lƣợng insulin: ban đầu tăng tiết sau đó giảm tiết do suy kiệt tế bào β đảo tụy và sự bất thƣờng về chất lƣợng của insulin nhƣ tăng proinsulin. Điều trị bệnh lý đái tháo đường theo Y học hiện đại 1. Điều chỉnh lối sống Những rối loạn về di truyền và lối sống (chế độ ăn giàu carbohydrat, giàu chất béo bão hòa, ít vận động thể lực) góp phần làm tăng sự xuất hiện ĐTĐ. Điều trị bệnh lý ĐTĐ cần bắt đầu từ thay đổi lối sống, sinh hoạt [1],[29],[57].
Chế độ ăn: đầy đủ các chất dinh dƣỡng, hạn chế carbohydrat, mỡ động vật chứa nhiều acid béo no, lòng đỏ trứng, phủ tạng động vật nhƣ gan, óc, thận… Nên ăn dầu thực vật, cá có nhiều acid béo không no, chất xơ, hoa quả, rau xanh, sữa đậu nành. Phù hợp với tập quán ăn uống.