Tổng quan luận án
Vận tải đường bộ là phương thức vận chuyển trọng yếu tại Việt Nam, chiếm tỷ trọng 60%-70% trong toàn ngành vận tải (theo Niên giám thống kê năm 2020), đảm nhận khoảng 90% khối lượng vận tải hành khách và khoảng 70% khối lượng vận tải hàng hóa. Số liệu thống kê năm 2020 cho thấy số lượng doanh nghiệp vận tải đường bộ tăng thêm 2.462 doanh nghiệp (tăng 9,49%) so với năm 2019; trong đó, doanh nghiệp quy mô lớn tăng 55,49% (tương đương 182 doanh nghiệp), doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ tăng 9,73% (tương đương 540 doanh nghiệp), và doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ tăng 8,67% (tương đương 1.740 doanh nghiệp). Cùng với định hướng của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII và Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025 về việc tái cơ cấu thị phần vận tải theo hướng giảm tỷ trọng đường bộ để tăng thị phần đường sắt và đường thủy nội địa, sự gia tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp đã đẩy áp lực cạnh tranh lên mức cao.
Trước bối cảnh dịch bệnh Covid-19 bùng phát từ tháng 1 năm 2020, các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam phải đối mặt với 5 nhóm rủi ro lớn:
- Rủi ro dịch bệnh: Các đợt giãn cách xã hội làm sụt giảm nhu cầu đi lại và vận chuyển, khiến doanh thu giảm mạnh ngay cả khi dịch đã được khống chế.
- Rủi ro chi phí giá thành vận tải: Chi phí nguyên nhiên liệu xăng dầu nhập khẩu tăng 35%-45%, chi phí lãi vay ngân hàng, chi phí tiền lương lái xe tăng 20%-30%, các khoản bảo hiểm, phí cầu đường cùng chi phí khấu hao tài sản cố định rất lớn do yêu cầu đầu tư phương tiện ban đầu cao và hao mòn phương tiện nhanh.
- Rủi ro chất lượng nguồn nhân lực: Nhân lực ngành vận tải còn hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ, thiếu kinh nghiệm do tình trạng trẻ hóa nhân lực.
- Rủi ro thị phần: Cạnh tranh gay gắt, xuất hiện nhiều loại hình kinh doanh mới và sự gia tăng của phương tiện cá nhân làm sụt giảm hệ số lợi nhuận.
- Rủi ro chính sách: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật, Nghị định, Thông tư) có nhiều thay đổi; nếu doanh nghiệp không kịp thời cập nhật sẽ phát sinh chi phí và mất cơ hội kinh doanh.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các nghiên cứu trước đây chủ yếu dựa vào khung COSO để đánh giá thực trạng kiểm soát nội bộ bằng phương pháp thống kê mô tả, hoặc chỉ áp dụng riêng lẻ phương pháp định tính hoặc định lượng. Chưa có nghiên cứu nào kết hợp đồng thời phương pháp định tính và định lượng để đo lường tác động của 5 yếu tố kiểm soát nội bộ theo chuẩn mực COSO 2013 và yếu tố chính sách nhà nước đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam thông qua hệ thống chỉ tiêu kết hợp giữa tài chính và năng lực vận hành.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là xác định các yếu tố của kiểm soát nội bộ và đo lường mức độ ảnh hưởng của chúng đến hiệu quả kinh doanh tại các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam, từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện kiểm soát nội bộ và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Ba mục tiêu cụ thể gồm:
- Tìm hiểu đặc điểm của các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và đại dịch Covid-19 có ảnh hưởng tới kiểm soát nội bộ.
- Xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố kiểm soát nội bộ đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam.
- Đưa ra các khuyến nghị cho các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Luận án tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Nội dung cơ bản gì liên quan đến kiểm soát nội bộ, hiệu quả kinh doanh và mối quan hệ giữa chúng?
- Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố của kiểm soát nội bộ tác động đến hiệu quả kinh doanh tại các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam như thế nào?
- Các khuyến nghị gì cần đưa ra với các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh?
Đối tượng nghiên cứu là kiểm soát nội bộ, 5 yếu tố cấu thành kiểm soát nội bộ theo COSO 2013 và yếu tố chính sách tác động đến hiệu quả kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh được phản ánh qua các chỉ tiêu: lợi nhuận, doanh thu, ROA, ROE, ROS, số vòng quay tài sản cố định và năng suất lao động.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi đối tượng: Luận án chỉ tập trung vào các doanh nghiệp vận tải đường bộ quy mô lớn, vừa và nhỏ. Doanh nghiệp siêu nhỏ (chiếm 77,33% tổng số doanh nghiệp vận tải đường bộ năm 2020) không thuộc phạm vi nghiên cứu do công tác tổ chức kiểm soát nội bộ tại nhóm này còn ở mức độ giản đơn.
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp được khảo sát trong giai đoạn 5 năm từ 2016 đến 2020; số liệu sơ cấp thu thập thông qua phiếu điều tra được thực hiện trong 6 tháng, từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2021.
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại các doanh nghiệp vận tải đường bộ trên lãnh thổ Việt Nam, với đối tượng khảo sát trọng tâm là các nhà quản lý doanh nghiệp.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã điểm luận một khối lượng lớn các công trình học thuật trong nước và quốc tế theo ba nhóm nội dung trọng tâm:
Về kiểm soát nội bộ: Tác giả hệ thống hóa các định nghĩa từ góc độ cổ điển của Fayol (1949), Anthony và cộng sự (1949), Liên đoàn Kế toán quốc tế IFAC (1988), Arens và cộng sự (2000), Moeller (2009), Mwindi (2008), đến các chuẩn mực hiện đại như Báo cáo COSO (1992, 2013), Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 315, Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 315 (2012) và Luật Kế toán Việt Nam (2015). Luận án cũng phân tích các nghiên cứu của Schneider và Church (2008), Feng và cộng sự (2009), Jokipii (2010), Kaplan (2008). Tại Việt Nam, Hồ Tuấn Vũ (2016) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại; Nguyễn Hoàng Phương Thanh (2019) phân tích ảnh hưởng của kiểm soát nội bộ tới chất lượng giáo dục đại học ngoài công lập.
Về hiệu quả kinh doanh: Các công trình nghiên cứu chỉ tiêu tài chính và phi tài chính được điểm lại bao gồm Minshkin (2007), Cochran và cộng sự (1985), Hart và Ahuja (1996), Liargovas và Skandalis (2008), Almajali và cộng sự (2012), Mizik và Jacobson (2009), Cheng và cộng sự (2010). Đối với ngành vận tải và chi phí vận tải, luận án trích dẫn Rodier (2012), Knutsson (2008), Gerard và cộng sự (2010), Wiecek và Lorene (2014), Nimlaor và cộng sự (2014). Tại Việt Nam, các nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh doanh gồm Phạm Xuân Kiên (2011) về doanh nghiệp giao thông đường bộ; Đoàn Ngọc Phúc (2014) về doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa; Nguyễn Ngọc Tiến (2015) về doanh nghiệp du lịch; Nguyễn Việt Thắng (2017) về doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tô; Hoàng Quốc Mậu (2017) về doanh nghiệp vật liệu nổ; Phạm Thị Thanh Hương (2017) về đa dạng hóa doanh nghiệp niêm yết; Hà Thị Việt Châu (2017) về doanh nghiệp sữa; Đặng Thị Thu Hà (2019) về nhân tố phi tài chính trong ngành khách sạn; Diệp Tố Uyên (2019) về doanh nghiệp giấy.
Về tác động của kiểm soát nội bộ đến hiệu quả kinh doanh: Tác giả tổng hợp các nghiên cứu về hệ lụy của kiểm soát nội bộ yếu kém đối với giá trị doanh nghiệp của Ge và McVay (2005), Doyle (2005), Ashbaugh và cộng sự (2006), Hammersley (2007), Harp và Barnes (2018). Các nghiên cứu thực nghiệm kiểm định tác động của các thành phần kiểm soát nội bộ đến hiệu quả hoạt động gồm Hooks và cộng sự (1994), Lannoye (1999), Whittington và Pany (2001), SSuuna (2008), Abraham (2013), Enwelum (2013), Mwaki và cộng sự (2014), Shafawaty và cộng sự (2016), Kinyua (2016), Chu Thị Thu Thủy (2016), Võ Thu Phụng (2016), Yang và cộng sự (2020), Phan Thị Thanh Loan (2020).
| Tác giả và năm |
Đối tượng nghiên cứu |
Biến phụ thuộc |
Biến độc lập |
Phương pháp |
Kết quả nghiên cứu |
| Hồ Tuấn Vũ (2016) |
Một số ngân hàng thương mại Việt Nam có vốn từ 3.500 tỷ đồng trở lên tại Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng (2010-2015) |
Sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ |
Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Thông tin và truyền thông, Hoạt động kiểm soát, Giám sát, Thể chế chính trị, Lợi ích nhóm |
Định tính và Định lượng |
Các biến độc lập có ảnh hưởng tích cực đến biến phụ thuộc |
| SSuuna (2008) |
Trường Đại học ở Uganda UMU |
Hiệu quả tài chính |
Môi trường kiểm soát, Kiểm toán nội bộ, Các hoạt động kiểm soát |
Định tính và Định lượng |
Các biến độc lập có ảnh hưởng tích cực đến biến phụ thuộc |
| Enwelum (2013) |
24 ngân hàng thương mại tại Nigeria trong 5 năm (2008-2012) |
Hiệu quả tài chính |
Hiệu quả kiểm soát nội bộ |
Định lượng |
Hiệu quả KSNB có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả tài chính |
| Mwaki và cộng sự (2014) |
Các công ty mía ở Kenya (2009-2013) |
Hiệu quả tài chính |
Môi trường kiểm soát, Quy trình đánh giá rủi ro, Hệ thống thông tin, Hoạt động kiểm soát |
Định lượng |
Các biến độc lập có ảnh hưởng tích cực đến biến phụ thuộc |
| Shafawaty và cộng sự (2016) |
Hợp tác xã Koperasi ABC Berhad, Malaysia (2011-2015) |
Lợi nhuận hợp tác xã |
5 yếu tố kiểm soát nội bộ theo COSO (1992) |
Định tính |
KSNB hữu hiệu làm tăng lợi nhuận của hợp tác xã |
| Kinyua (2016) |
38 công ty cổ phần niêm yết ở Nairobi (2011-2016) |
Hiệu quả tài chính (Lợi nhuận, ROA, ROE, EPS) |
Môi trường kiểm soát, Kiểm toán nội bộ, Hoạt động kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Quản trị DN, Chính sách Chính phủ |
Định lượng |
Các biến độc lập có ảnh hưởng tích cực đến biến phụ thuộc |
| Chu Thị Thu Thủy (2016) |
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (2011-2015) |
Hiệu quả tài chính (ROA, ROS, ROE, Lợi nhuận) |
Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin truyền thông, Giám sát |
Định tính và Định lượng |
Các biến độc lập có ảnh hưởng tích cực đến biến phụ thuộc |
| Võ Thu Phụng (2016) |
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (2011-2015) |
Hiệu quả hoạt động (ROA, ROE, Lợi nhuận, Chênh lệch kết quả và chi phí) |
Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin truyền thông, Giám sát |
Định tính và Định lượng |
Các biến độc lập có ảnh hưởng tích cực đến biến phụ thuộc |
| Yang và cộng sự (2020) |
2.326 công ty niêm yết ngành ô nhiễm nặng hạng A của Trung Quốc (2009-2018) |
Hiệu quả tài chính (EPS, ROE) |
Chất lượng KSNB, Đầu tư bảo vệ môi trường |
Định lượng |
Các biến độc lập có ảnh hưởng tích cực đến biến phụ thuộc |
| Phan Thị Thanh Loan (2020) |
41 doanh nghiệp chế biến thực phẩm niêm yết (2016-2018) |
Hiệu quả tài chính (ROA, ROE, Hiệu quả cạnh tranh) |
Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin truyền thông, Giám sát |
Định tính và Định lượng |
Các biến độc lập có ảnh hưởng tích cực đến biến phụ thuộc |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
- Thứ nhất, các công trình trước chủ yếu phân tích kiểm soát nội bộ theo hướng quản trị hoặc tác động đến chất lượng thông tin kế toán; hướng tiếp cận theo quản lý rủi ro còn nhiều khoảng trống chưa được áp dụng đối với các ngành dịch vụ có tính chất hao mòn tài sản cao.
- Thứ hai, phần lớn nghiên cứu chỉ sử dụng đơn lẻ phương pháp định tính hoặc định lượng; luận án kết hợp cả hai phương pháp để xác định thang đo và kiểm định mô hình.
- Thứ ba, chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ 5 thành phần kiểm soát nội bộ theo COSO 2013 và biến chính sách nhà nước tác động đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam qua các chỉ tiêu đặc thù như số vòng quay tài sản cố định và năng suất lao động.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng 5 lý thuyết nền tảng để xây dựng khung phân tích:
- Lý thuyết đại diện (Agency Theory) của Jensen và Meckling (1976), phát triển từ Ross (1973): Giải thích mối quan hệ ủy thác giữa chủ sở hữu (cổ đông) và người quản lý điều hành. Việc phân tách giữa quyền sở hữu và quyền quản lý tạo ra sự bất cân xứng thông tin và xung đột lợi ích; kiểm soát nội bộ đóng vai trò là cơ chế giám sát giúp giảm thiểu hành vi tư lợi và bảo vệ tài sản doanh nghiệp.
- Lý thuyết bất định của các tổ chức (Contingency Theory) của Otley (1980), Ferreira và Otley (2005): Khẳng định không có một hệ thống quản trị nào phù hợp cho mọi tổ chức trong mọi hoàn cảnh. Thiết kế kiểm soát nội bộ phụ thuộc vào các nhân tố ngữ cảnh như quy mô, công nghệ, môi trường kinh doanh và mức độ bất định của ngành vận tải đường bộ.
- Lý thuyết về tâm lý học xã hội của tổ chức: Luận giải hành vi, ý thức tuân thủ và văn hóa kiểm soát của các cá nhân trong bộ máy doanh nghiệp.
- Lý thuyết thể chế: Phân tích áp lực tuân thủ các quy định pháp luật và chuẩn mực xã hội đối với cơ chế vận hành của doanh nghiệp.
- Lý thuyết các bên liên quan: Xem xét việc cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp với khách hàng, người lao động, cơ quan quản trị nhà nước và cộng đồng.
Về bản chất và thành phần kiểm soát nội bộ, luận án căn cứ theo khung COSO (2013) gồm 3 mục tiêu (hoạt động, báo cáo, tuân thủ) và 5 yếu tố cấu thành:
- Môi trường kiểm soát: Thể hiện qua tính chính trực, giá trị đạo đức, triết lý và phong cách điều hành của ban quản lý, sự tham gia của ban quản trị, cam kết về năng lực, cơ cấu tổ chức và việc phân công quyền hạn, trách nhiệm.
- Đánh giá rủi ro: Nhận diện mục tiêu, nhận dạng rủi ro và phân tích rủi ro từ môi trường kinh tế, chính trị, thiên tai, dịch bệnh cũng như rủi ro vận hành nội bộ.
- Hoạt động kiểm soát: Các chính sách, thủ tục kiểm soát phân chia nhiệm vụ, kiểm soát chứng từ, bảo vệ tài sản, đặc biệt là kiểm soát chất lượng dịch vụ vận tải, kiểm soát an toàn lao động và phòng chống cháy nổ, kiểm soát sức khỏe người lái xe.
- Thông tin và truyền thông: Hệ thống trao đổi thông tin nội bộ và bên ngoài, chế độ báo cáo, ứng dụng công nghệ giám sát hành trình phương tiện.
- Giám sát: Hoạt động giám sát thường xuyên trong quy trình vận hành và giám sát định kỳ độc lập.
Về bản chất hiệu quả kinh doanh, tác giả tổng hợp 5 quan điểm kinh tế học (kết quả đầu ra, sử dụng nguồn lực, tương quan chi phí - kết quả, hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả quản lý). Luận án xác định các nhóm chỉ tiêu:
- Nhóm khả năng sinh lời: ROA, ROE, ROS, ROI, EPS.
- Nhóm năng lực hoạt động: Số vòng quay tài sản cố định, số vòng quay tổng tài sản.
- Nhóm hiệu quả sản xuất: Năng suất lao động, suất hao phí.
- Nhóm chỉ tiêu phi tài chính: Sự hài lòng của khách hàng, đánh giá lao động và trách nhiệm xã hội.
Yếu tố chính sách nhà nước được đưa vào mô hình như một biến số phản ánh sự tác động của hệ thống pháp luật, chính sách thuế, phí, lãi suất và các quy định quản lý chuyên ngành vận tải.
Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn sâu các chuyên gia, nhà quản lý doanh nghiệp vận tải và đại diện cơ quan quản lý nhà nước (Vụ Giao thông Vận tải) nhằm khẳng định mô hình nghiên cứu, hiệu chỉnh và bổ sung các thang đo kiểm soát nội bộ đặc thù.
- Nghiên cứu định lượng: Thu thập dữ liệu thông qua bảng câu hỏi khảo sát cấu trúc thang đo Likert 5 mức độ; sử dụng phần mềm SPSS 26 để thực hiện:
- Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu.
- Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's alpha.
- Phân tích nhân tố khám phá (EFA) với chỉ số KMO và kiểm định Bartlett.
- Phân tích tương quan tuyến tính Pearson.
- Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến (hệ số VIF) và hiện tượng tự tương quan.
- Phân tích hồi quy tuyến tính bội và phân tích phương sai (ANOVA) nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố kiểm soát nội bộ và biến chính sách nhà nước đến hiệu quả kinh doanh.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Niên giám thống kê năm 2020 của Tổng cục Thống kê; báo cáo của Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp Vận tải Đường bộ; báo cáo tài chính giai đoạn 2016-2020 của các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam.
- Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp vận tải đường bộ (như Công ty Cổ phần Xe khách Bắc Giang, Công ty Timescom Hà Nội, Công ty Cổ phần Xe khách Bắc Ninh...) từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2021.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu về nghiên cứu
Chương 1 thiết lập tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của ngành vận tải đường bộ (chiếm 60%-70% khối lượng vận tải cả nước) và thực trạng số lượng doanh nghiệp tăng 9,49% năm 2020 trong khi thị phần có xu hướng bị thu hẹp theo quy hoạch giao thông quốc gia. Tác giả phân tích 5 nguy cơ rủi ro đang đe dọa trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh: dịch bệnh Covid-19, biến động chi phí đầu vào (giá xăng dầu tăng 35%-45%, tiền lương lái xe tăng 20%-30%, khấu hao tài sản cố định lớn), hạn chế về trình độ nhân lực trẻ hóa, cạnh tranh thị phần gay gắt và thay đổi chính sách pháp luật. Chương này tổng kết các công trình nghiên cứu đi trước thông qua Bảng 1.1, xác định khoảng trống học thuật về việc thiếu các nghiên cứu định lượng kết hợp định tính trong ngành vận tải, công bố mục tiêu nghiên cứu tổng quát cùng 3 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu (loại trừ nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm 77,33% tổng số doanh nghiệp), phương pháp thực hiện và cấu trúc 5 chương của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 2 luận giải các vấn đề lý luận về kiểm soát nội bộ và hiệu quả kinh doanh. Tác giả phân tích khái niệm kiểm soát nội bộ từ góc nhìn của các tổ chức chuyên môn (COSO, IFAC, ISA 315, VSA 315) và Luật Kế toán Việt Nam 2015, nhấn mạnh 3 nhóm mục tiêu (hoạt động, báo cáo, tuân thủ) và 5 thành phần cấu thành: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và truyền thông, Giám sát. Chương đi sâu phân tích 5 quan điểm về hiệu quả kinh doanh, thiết lập hệ thống chỉ tiêu đo lường bao gồm nhóm chỉ tiêu tài chính (ROA, ROE, ROS, ROI, EPS, số vòng quay tài sản cố định) và nhóm chỉ tiêu phi tài chính (năng suất lao động, sự hài lòng của khách hàng, đóng góp xã hội). Tác giả phân tích vai trò của biến chính sách nhà nước và luận giải 5 lý thuyết nền tảng: Lý thuyết đại diện, Lý thuyết bất định của các tổ chức, Lý thuyết tâm lý học xã hội của tổ chức, Lý thuyết thể chế, Lý thuyết các bên liên quan. Từ đó, xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất và thiết lập các giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa các thành phần kiểm soát nội bộ, chính sách nhà nước và hiệu quả kinh doanh.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 chi tiết hóa quy trình nghiên cứu hai giai đoạn gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Tác giả trình bày kỹ thuật phỏng vấn sâu các chuyên gia để điều chỉnh, bổ sung các thang đo kiểm soát nội bộ cho phù hợp với đặc thù vận tải đường bộ. Quy trình nghiên cứu định lượng được thiết kế qua bảng hỏi khảo sát gửi đến các nhà quản lý doanh nghiệp. Chương mô tả các bước kỹ thuật xử lý dữ liệu trên phần mềm SPSS 26: phương pháp chọn mẫu khảo sát, quy trình làm sạch dữ liệu, kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA để xác định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của các khái niệm nghiên cứu, kiểm định tương quan Pearson, và phương pháp hồi quy tuyến tính bội để lượng hóa mức độ tác động của từng yếu tố độc lập đến biến phụ thuộc.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 4 trình bày bức tranh tổng thể về các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam giai đoạn 2016-2020 thông qua số liệu thứ cấp về quy mô lao động, các chỉ tiêu tài chính, số vòng quay tài sản cố định và năng suất lao động. Tiếp đó, chương trình bày kết quả nghiên cứu định tính với việc bổ sung các biến quan sát đặc thù về kiểm soát an toàn lao động, phòng cháy nổ và chất lượng dịch vụ vận tải vào thang đo kiểm soát nội bộ. Kết quả thống kê mô tả mẫu nghiên cứu sơ cấp được phân tích chi tiết theo giới tính, vị trí công việc, trình độ học vấn và thâm niên công tác. Kết quả kiểm định độ tin cậy Cronbach's alpha và ma trận xoay nhân tố EFA chứng minh các thang đo đạt chuẩn giá trị thống kê. Phân tích ma trận tương quan Pearson khẳng định mối liên hệ có ý nghĩa giữa các biến. Kết quả phân tích hồi quy bội (thể hiện qua bảng tóm tắt mô hình, kiểm định ANOVA và các hệ số hồi quy) lượng hóa chính xác mức độ ảnh hưởng và thứ tự tác động của từng yếu tố kiểm soát nội bộ đến hiệu quả kinh doanh, đồng thời phân tích sự thay đổi của mô hình khi đưa biến điều tiết "chính sách nhà nước" vào phân tích.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Chương 5 tổng kết các kết quả nghiên cứu thực nghiệm đạt được từ các chương trước. Dựa trên mức độ tác động của từng thành phần kiểm soát nội bộ, tác giả đề xuất hệ thống khuyến nghị thực tiễn đối với các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam nhằm củng cố môi trường kiểm soát, xây dựng quy trình nhận diện rủi ro linh hoạt, siết chặt các thủ tục kiểm soát an toàn phương tiện và sức khỏe người lái xe, nâng cấp hạ tầng công nghệ truyền thông và duy trì cơ chế giám sát định kỳ. Chương cũng đưa ra các khuyến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước về việc hoàn thiện hành lang pháp lý, ổn định các chính sách thuế, phí và quy hoạch luồng tuyến. Cuối cùng, tác giả trình bày các hạn chế của nghiên cứu và gợi mở định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về lý luận:
- Bổ sung và hiệu chỉnh hệ thống thang đo kiểm soát nội bộ cho phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp vận tải đường bộ: đưa thêm các biến quan sát mới về kiểm soát chất lượng dịch vụ vận tải, kiểm soát an toàn lao động và công tác phòng cháy nổ vào thành phần hoạt động kiểm soát.
- Mở rộng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp vận tải: kết hợp các chỉ tiêu khả năng sinh lời truyền thống (ROA, ROE, ROS, lợi nhuận) với các chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động và hiệu suất sử dụng tài sản đặc thù của ngành vận tải là số vòng quay tài sản cố định và năng suất lao động.
- Đưa yếu tố "chính sách nhà nước" vào mô hình nghiên cứu để kiểm định vai trò tác động và điều tiết đối với mối quan hệ giữa kiểm soát nội bộ và hiệu quả kinh doanh trong điều kiện thị trường có nhiều biến động chính sách và tác động dịch bệnh.
- Kiểm định thực nghiệm sự phù hợp của khung lý thuyết COSO 2013 và các lý thuyết nền tảng (lý thuyết đại diện, lý thuyết bất định) trong bối cảnh các doanh nghiệp vận tải đường bộ tại một quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
Đóng góp về thực tiễn và giải pháp đề xuất:
- Cung cấp dữ liệu thực chứng làm cơ sở để các nhà quản trị doanh nghiệp vận tải nhận diện rõ các rủi ro vận hành (chi phí xăng dầu, khấu hao phương tiện, an toàn giao thông, biến động chính sách) và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố kiểm soát nội bộ đến kết quả kinh doanh.
- Chỉ ra thứ tự ưu tiên trong việc phân bổ nguồn lực để hoàn thiện các thành phần kiểm soát nội bộ nhằm tối ưu hóa hiệu quả tài chính và năng lực vận tải.
- Đề xuất các nhóm giải pháp quản trị cụ thể cho doanh nghiệp: ban hành văn bản quy định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm, xây dựng văn hóa đạo đức kinh doanh, thiết lập bộ phận chuyên trách quản lý rủi ro, kiểm soát định kỳ chất lượng xe và sức khỏe lái xe, trang bị thiết bị giám sát hành trình và kết nối dữ liệu mạng.
- Đề xuất các khuyến nghị chính sách đối với cơ quan Nhà nước: ổn định các văn bản pháp quy nhằm tránh xáo trộn hoạt động kinh doanh, triển khai các chính sách hỗ trợ giảm thuế, phí xăng dầu, giảm chi phí cầu đường nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vận tải phục hồi sản xuất.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu loại trừ nhóm doanh nghiệp vận tải đường bộ có quy mô siêu nhỏ. Dù nhóm này chiếm tới 77,33% tổng số doanh nghiệp vận tải đường bộ năm 2020, luận án không đưa vào khảo sát do cơ cấu tổ chức và hoạt động kiểm soát nội bộ tại các đơn vị này còn quá đơn giản, chưa hoàn chỉnh.
- Thời gian thu thập dữ liệu sơ cấp diễn ra trong 6 tháng (từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2021), trùng với thời điểm đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp và áp dụng giãn cách xã hội tại Việt Nam, điều này phần nào ảnh hưởng đến việc tiếp cận đối tượng khảo sát và tâm lý người trả lời phiếu.
- Việc đo lường hiệu quả kinh doanh chủ yếu tập trung vào các chỉ tiêu tài chính và năng lực hoạt động vận hành, các tiêu chí đánh giá hiệu quả xã hội (môi trường, cộng đồng) chưa được lượng hóa hoàn toàn trong mô hình hồi quy.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các doanh nghiệp vận tải siêu nhỏ và các hợp tác xã vận tải với các thang đo được thiết kế riêng biệt.
- Nghiên cứu so sánh tác động của kiểm soát nội bộ giữa các phương thức vận tải khác nhau (đường sắt, đường thủy, đường hàng không) trong chuỗi cung ứng dịch vụ logistics đa phương thức.
- Bổ sung các biến số nghiên cứu mới liên quan đến mức độ ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi năng lượng xanh trong ngành vận tải đường bộ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu học thuật hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán, Phân tích kinh doanh: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp luận kết hợp định tính và định lượng, quy trình hiệu chỉnh thang đo COSO theo đặc thù ngành, và mô hình xử lý dữ liệu bằng SPSS 26.
- Ban lãnh đạo, nhà quản lý và cán bộ kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp vận tải đường bộ: Tham khảo khung đánh giá thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ, cách thức nhận diện rủi ro vận tải và các biện pháp kiểm soát an toàn kỹ thuật phương tiện nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định.
- Các cơ quan quản lý Nhà nước (Bộ Giao thông Vận tải, Tổng cục Đường bộ) và các hiệp hội nghề nghiệp: Cung cấp cơ sở thực tiễn để đánh giá tác động của chính sách quản lý đối với hoạt động của doanh nghiệp, từ đó hoàn thiện các quy định về kinh doanh vận tải và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp.
Nội dung đáng tham khảo nhất của luận án là hệ thống thang đo được tác giả xây dựng tại Chương 3 và Chương 4 (đặc biệt là các biến quan sát kiểm soát chất lượng dịch vụ vận tải, kiểm soát an toàn lao động, kiểm soát sức khỏe lái xe) cùng quy trình phân tích định lượng đánh giá mối quan hệ giữa kiểm soát nội bộ và hiệu quả tài chính.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao luận án không đưa nhóm doanh nghiệp vận tải đường bộ siêu nhỏ vào phạm vi nghiên cứu?
Mặc dù doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngành (77,33% tổng số doanh nghiệp năm 2020), luận án chủ động loại trừ nhóm này vì tổ chức kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp siêu nhỏ còn ở mức giản đơn, chưa thiết lập bài bản các quy trình và bộ phận kiểm soát theo các thành phần chuẩn mực COSO. Do đó, việc giới hạn phạm vi ở các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ giúp đảm bảo tính khả thi và độ tin cậy của mô hình đo lường.
Những rủi ro kinh doanh chính nào của ngành vận tải đường bộ được tác giả nhận diện trong nghiên cứu?
Luận án chỉ ra 5 nhóm rủi ro lớn đang đe dọa hoạt động của doanh nghiệp: (1) Rủi ro dịch bệnh làm sụt giảm nhu cầu đi lại; (2) Rủi ro chi phí đầu vào tăng cao (xăng dầu tăng 35%-45%, lương lái xe tăng 20%-30%, chi phí khấu hao tài sản cố định lớn); (3) Rủi ro nguồn nhân lực thiếu kinh nghiệm do trẻ hóa; (4) Rủi ro cạnh tranh thị phần gay gắt từ nhiều loại hình vận tải và xe cá nhân; (5) Rủi ro thay đổi chính sách pháp luật không kịp nắm bắt làm phát sinh chi phí.
Tác giả đã bổ sung những biến quan sát đặc thù nào vào thang đo kiểm soát nội bộ?
Trong thành phần hoạt động kiểm soát, tác giả đã bổ sung các biến quan sát phản ánh đặc thù hoạt động dịch vụ vận tải đường bộ gồm: kiểm soát chất lượng dịch vụ vận tải, kiểm soát an toàn lao động và phòng chống cháy nổ, kiểm soát quy trình kiểm định chất lượng phương tiện và kiểm soát tình trạng sức khỏe của lái xe, phụ xe.
Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh trong luận án được đo lường bằng những thước đo cụ thể nào?
Hiệu quả kinh doanh được đo lường kết hợp giữa các chỉ tiêu khả năng sinh lời tài chính (lợi nhuận, doanh thu, ROA, ROE, ROS) với chỉ tiêu phản ánh năng lực quản lý hoạt động tài sản là "số vòng quay tài sản cố định" và chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động là "năng suất lao động".
Luận án sử dụng những công cụ và kỹ thuật thống kê nào để phân tích dữ liệu định lượng?
Nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS 26 để thực hiện các kỹ thuật phân tích: thống kê mô tả mẫu khảo sát, kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA (xoay nhân tố, kiểm tra hệ số KMO và kiểm định Bartlett), phân tích tương quan Pearson, kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến (hệ số phóng đại phương sai VIF), phân tích hồi quy tuyến tính bội và phân tích phương sai ANOVA.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Hoàng Nguyệt Quyên (2022) tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân là công trình nghiên cứu hệ thống về tác động của các yếu tố kiểm soát nội bộ theo chuẩn mực COSO 2013 và chính sách nhà nước đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam. Thông qua việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, luận án đã chuẩn hóa các thang đo kiểm soát đặc thù của ngành vận tải như an toàn lao động, phòng cháy nổ và chất lượng dịch vụ, đồng thời lượng hóa mối quan hệ giữa kiểm soát nội bộ với khả năng sinh lời, vòng quay tài sản cố định và năng suất lao động. Các kết quả thực nghiệm và hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án cung cấp căn cứ quản trị cho các doanh nghiệp vận tải đường bộ trong việc ứng phó với rủi ro và là tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý trong quá trình hoạch định chính sách kinh tế ngành.