CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài Vận tải đường bộ là phương thức vận chuyển phổ biến nhất hiện nay và có vai trò, vị trí vô cùng quan trọng đối với nước ta. Phương thức vận tải này luôn chiếm khoảng 60%-70% (Niên giám thống kê 2020) trong các hình thức vận tải và xu thế vận tải này vẫn sẽ tiếp tục thống trị trong tương lai. Hiện nay, vận tải hành khách bằng đường bộ chiếm khoảng 90% và vận tải hàng hóa bằng đường bộ chiếm khoảng 70%.
Vận tải đường bộ là loại hình vận tải sử dụng các phương tiện di chuyển như ô tô, xe tải, xe container, rơ moóc, sơ mi rơ moóc kéo theo ô tô,. để chuyên chở hàng hóa, hành khách. Số lượng doanh nghiệp vận tải đường bộ (xem Phụ lục 2), tính riêng năm 2020 so với 2019 tăng 2.462 doanh nghiệp (tăng 9,49%) trong đó doanh nghiệp quy mô lớn tăng 55,49% (tương đương tăng 182 doanh nghiệp), doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ tăng 9,73% (tương đương tăng 540 doanh nghiệp) và doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ tăng 8,67% (tương đương tăng 1. Sự gia tăng nhanh chóng của các phương tiện vận chuyển cùng với tác động của đại dịch Covid 19 trên toàn cầu và diễn ra tại Việt Nam từ tháng 1 năm 2020, đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp.
Theo báo cáo từ Tổng Cục đường bộ, từ Hiệp hội các doanh nghiệp vận tải đường bộ, các doanh nghiệp vận tải đường bộ không có sự đột phá về quy mô, ngành nghề kinh doanh và đổi mới phương tiện…Nhiều doanh nghiệp phải chuyển đổi hình thức sở hữu, thu hẹp sản xuất, hoạt động kinh doanh cầm chừng, sản xuất không ổn định hoặc giải thể. Theo Nghị quyết Đại hội Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 13 của Đảng và Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, phát triển toàn diện, tái cơ cấu thị phần vận tải theo hướng giảm thị phần vận tải đường bộ, tăng thị phần các phương thức vận tải đường thủy nội địa và đường sắt; chú trọng phát triển vận tải đa phương thức và dịch vụ logistics trên cơ sở ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng lực, hiệu quả, chất lượng dịch vụ vận tải, giảm chi phí logistics. Việc giảm thị phần vận tải đường bộ trong khi số lượng các DNVTĐB tăng nhanh dẫn đến sự cạnh tranh giữa các DNVTĐB càng trở nên gay gắt hơn. Để thắng thế trong cạnh tranh, các DNVTĐB phải kiểm soát được các rủi ro mà DN có thể gặp phải đồng thời ra các quyết định điều hành hoạt động kinh doanh kịp thời, chính xác.
Các rủi ro mà DNVTĐB đang phải đối mặt là: 2 • Rủi ro về dịch bệnh: các đợt giãn cách xã hội do dịch Covid 19 khiến nhu cầu đi lại giảm đột biến đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNVTĐB. Nhu cầu vận tải và du lịch bị sụt giảm ngay cả khi dịch đã được khống chế cũng khiến cho doanh thu của DNVTĐB giảm rất mạnh. • Rủi ro về chi phí giá thành vận tải: các chi phí đầu vào tăng liên tục, như chi phí xăng dầu phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu (tăng 35%-45% tùy thuộc từng loại xe), chi phí lãi vay ngân hàng, chi phí lương trả cho lái xe tăng từ 20%-30%, các khoản nộp bảo hiểm, chi phí vé cầu đường, các chi phí do các điều kiện kinh doanh mới (điều kiện mới trong kinh doanh vận tải). Chi phí khấu hao TSCĐ là khá lớn, do DN phải đầu tư xe ban đầu lớn, luôn phải cạnh tranh về chất lượng xe, do hao mòn vô hình, hữu hình của xe cũng khá nhanh, dẫn đến khả năng không thu hồi vốn là rất cao nếu hoạt động sản xuất kinh doanh không mang lại hiệu quả.
Đây là rủi ro rất lớn khiến nhiều DNVTĐB hoạt động cầm chừng thậm chí không có lãi và phá sản. • Rủi ro về chất lượng nguồn nhân lực: nguồn nhân lực của doanh nghiệp vận tải đường bộ còn hạn chế về trình độ nghiệp vụ chuyên môn, thiếu kinh nghiệm do sự trẻ hóa nhân lực… không theo kịp yêu cầu của xã hội và các điều kiện kinh doanh, cho nên còn khó khăn trong xây dựng chất lượng dịch vụ và tạo lập uy tín với các đối tác, khách hàng… • Rủi ro về thị phần: Trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay, sự cạnh tranh diễn ra gay gắt giữa các đơn vị kinh doanh vận tải, xuất hiện rất nhiều loại hình kinh doanh vận tải, thậm chí là cạnh tranh không lành mạnh trên các luồng tuyến vận tải làm cho hệ số lợi nhuận sụt giảm nhanh, thậm chí lỗ. Nhiều xe cá nhân xuất hiện nên nhu cầu vận tải cũng giảm sút. • Rủi ro về chính sách: Nhiều chính sách của Nhà nước có sự thay đổi (các Luật, Nghị định, thông tư…) mà DN không kịp thời nắm bắt, điều chỉnh theo sẽ làm cho các hoạt động kinh doanh bị xáo trộn, phát sinh chi phí và mất đi cơ hội trong kinh doanh.
Để khắc phục những rủi ro trên, các DNVTĐB cần thiết kế các quy trình giám sát nhận diện, đánh giá rủi ro để có những biện pháp điều chỉnh kịp thời, thích ứng được với sự thay đổi của nền kinh tế, gia tăng được sức cạnh tranh nhằm đạt được các mục tiêu của đơn vị (mục tiêu độ tin cậy của thông tin, mục tiêu hiệu quả, hiệu năng, mục tiêu tuân thủ). Có nghĩa rằng DN cần phải KSNB hữu hiệu. 3 KSNB là một trong những lĩnh vực nghiên cứu được quan tâm và ứng dụng KSNB khá nhiều trong các đơn vị cụ thể, trong các ngành, các lĩnh vực khác nhau. Các nghiên cứu về KSNB, về HQKD, doanh nghiệp vận tải đường bộ (hành khách, hàng hóa) ở các lĩnh vực khác nhau có thể kể tới như: Whittington & Pany (2001), Mawanda (2008), Enwelum (2013), Schneider và Church (2008), Kaplan (2008), SSuuna (2008), Jokipii (2010), Mwaki & cộng sự (2014), Shafawaty & cộng sự (2016), Kinywa (2016), Võ Thu Phụng (2016), Harp và Barnes (2018), Phạm Thị Thanh Loan (2020), Yang và cộng sự (2020)….
Các nghiên cứu trước đây hầu hết dựa trên báo cáo COSO để đánh giá thực trạng KSNB bằng phương pháp thống kê mô tả để đưa ra các giải pháp hoàn thiện KSNB tại các đơn vị này. Gần đây, các nghiên cứu mở rộng sang phân tích KSNB trên các hướng tiếp cận khác nhau từ hướng quản trị, hướng ứng dụng công nghệ thông tin, hướng đánh giá rủi ro dựa trên các thang đo và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả khác nhau. Tiếp cận KSNB theo hướng đánh giá rủi ro là hướng tiếp cận mới và còn nhiều khoảng trống cho các thang đo, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả khác nhau trong các bối cảnh khác nhau và các phương pháp nghiên cứu khác nhau. Từ khoảng trống đó, tác giả đã lựa chọn kết hợp cả hai phương pháp nghiên cứu định tính, phương pháp nghiên cứu định lượng để đo lường các yếu tố KSNB theo quan điểm COSO 2013 tác động tới hiệu quả kinh doanh (các chỉ tiêu ROA, ROS, ROE, số vòng quay TSCĐ, năng suất lao động) của các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam trên cơ sở kiểm soát các rủi ro nhằm đưa ra các khuyến nghị thích hợp giúp các DNVTĐB hoàn thiện KSNB và nâng cao HQKD.
Thực hiện đề tài “Nghiên cứu các yếu tố của kiểm soát nội bộ tác động tới hiệu quả kinh doanh tại các doanh nghiệp vận tải đường bộ Việt Nam”, tác giả kỳ vọng sẽ có những đóng góp mới có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn trong các DNVTĐB ở Việt Nam nhằm hoàn thiện kiểm soát nội bộ, nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Tổng quan nghiên cứu 1. Nghiên cứu về kiểm soát nội bộ Trên thế giới hiện nay, có rất nhiều các nghiên cứu về KSNB. Theo Moeller (2009, tr.
24), KSNB là một quá trình được thiết kế bởi nhà quản lý và áp dụng trong đơn vị nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý về: Độ tin cậy của thông tin tài chính và thông tin hoạt động; Tuân thủ các chính sách, thủ tục, nội qui, quy chế và luật pháp; Bảo vệ tài sản; Thực hiện được sứ mệnh, mục tiêu và kết quả của các hoạt động hoặc 4 chương trình của đơn vị; Đảm bảo tính chính trực và giá trị đạo đức. Moeller phát triển thêm lý luận của COSO và bổ sung thêm một số mục tiêu của KSNB cần đạt được là đảm bảo tính chính trực và các giá trị đạo đức. Mwindi (2008) cho rằng KSNB là các quy trình được thiết kế và thực hiện bởi sự quản lý và các nhân viên khác để cung cấp sự bảo đảm hợp lý nhằm đạt được mục tiêu của đơn vị liên quan đến độ tin cậy của báo cáo tài chính, hiệu quả, hiệu năng hoạt động và tuân thủ quy định pháp luật hiện hành. Theo COSO (2013), KSNB được hiểu là quá trình do hội đồng quản trị của một đơn vị, giám đốc, quản lý và nhân viên khác, được thiết kế để cung cấp sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các mục tiêu: Hiệu quả và hiệu năng hoạt động, độ tin cậy của báo cáo tài chính, tuân thủ quy phạm pháp luật và các quy định.
Khung COSO (2013) xác định 5 thành phần của KSNB bao gồm: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông; giám sát. KSNB hữu hiệu sẽ cung cấp sự đảm bảo hợp lý để hoàn thành các mục tiêu đã đặt ra. Khung COSO (2013) cũng cho rằng hoạt động KSNB được thiết lập đúng cách sẽ giúp tăng cường các chức năng của nhà quản lý. KSNB được đặt ra nhằm đảm bảo sự an toàn cho tài sản của đơn vị, đảm bảo độ tin cậy của các thông tin, tránh gian lận có thể xảy ra.
Theo Feng và cộng sự (2009), chất lượng của KSNB có ảnh hưởng khá lớn đến độ chính xác của các quy định được thiết lập bởi các nhà quản lý. Các DN thiết lập KSNB không hiệu quả sẽ xảy ra nhiều lỗi về quản lý hơn các DN thiết lập KSNB hiệu quả. Schneider và Church (2008) trong nghiên cứu của họ đã tuyên bố rằng, hiệu quả KSNB là yếu tố tác động cơ bản đối với thu nhập. Trong cùng một điều kiện, KSNB hiệu quả có vai trò thiết yếu trong sự thành công của công ty (Jokipii, 2010).