CHƯƠNG 1: TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm sử dụng Sự tự tin: Theo định nghĩa Bandura (1986), sự tự tin là niềm tin của một người vào bản thân có động lực và khả năng đạt được một mục tiêu nhất định[33]. Sự tự tin là một phần của lý thuyết xã hội học và liên quan tới quá trình nhận thức, điều chỉnh hành vi của con người, đặc biệt là thay đối hành vi[32]. Những người có sự tự tin cao có nhiều khả năng thực hiện được các công việc và tham gia thay đổi hành vi.
Sự tự tin cũng ảnh hưởng đến sự lựa chọn của mỗi cá nhân về việc bắt đầu thực hiện và duy trì một hành vi nào đó[32]. Ví dụ, một cá nhân khi có sự tự tin sẽ tham gia và duy trì được hành vi sức khỏe lành mạnh mặc dù người đó phải chịu áp lực của nhóm hoặc áp lực từ các tình huống khác. Những cá nhân có sự tự tin cao sẽ thực hiện thành công các hành vi mà họ mong muốn ngay cả trong những tình huống khó khăn. Trong khi đó, những người có sự tự tin thấp hơn sẽ khó thực hiện và duy trì các hành vi có lợi cho sức khỏe[33] [44].
Sự tự tin sử dụng BCS: là niềm tin của bản thân và bạn tình đều có khả năng sử dụng BCS khi QHTD, hoặc có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành vi sử dụng BCS[33], Bandura đề cập tới mối liên kết tiềm tàng giữa tự tin sử dụng bao cao su với kiểm soát bản nhân trong tình huống tình dục nguy cơ cao, đòi hỏi cá nhân có sự tự tin và kỹ năng trong giao tiếp về tình dục, thực hành tình dục an toàn, và thuyết phục bạn tình sử dụng BCS. Sức khỏe sinh sản: là trạng thái hoàn thoải mái về thể chất tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan tới hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không phải là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó[5]. Thông tin về SKSS cho VTN đề cập trong nghiên cứu này chỉ giới hạn về nhu cầu thông tin của học sinh về tình dục an toàn, các thông tin về BCS (như cách sử dụng, lợi ích cũng như nơi mua BCS), thông tin về các biện pháp phòng tránh thai và bệnh LTQĐTD. Thực trạng sử dụng bao cao su ỏ’ thanh thiếu niên 1.
Trên thế giới Có nhiều nghiên cứu trên thế giới đã đề cập tới hành vi sử dụng BCS và chỉ ra rằng tỷ lệ sử dụng BCS của VTN, thanh niên khi QHTD thấp. Nghiên cứu hành vi sử dụng BCS của sinh viên đại học Nigeria, Edem và Harvey (1998) thấy rằng có khoảng 44,0% nữ và 40,0% nam sinh viên không bao giờ sử dụng BCS[41]. Nghiên cứu của David s. Theo báo cáo từ cuộc khảo sát sức khỏe cộng đồng tại Canada (2003) cho thấy 30,9% VTN, thanh niên từ 15-24 tuổi đã có QHTD và 62,2% trong số đó sử dụng BCS.
Năm 2009, tỷ lệ QHTD ở VTN, thanh niên là 32,5% và tỷ lệ sử dụng BCS là 67,9%[53]. Một nghiên cứu ở học sinh (15-21 tuổi) các trường học nghề miền Bắc Thái Lan (2002) cho thấy chỉ 24,3% học sinh có sử dụng BCS trong lần QHTD đầu tiên. Trong đó, khoảng 8,0% sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình thường xuyên, 28,5% sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình bất chợt và 30,7% sử dụng BCS khi QHTD với gái/ nam mại dâm[45]. Sau nhiều năm thực hiện các chiến dịch truyền thông về BCS tại Thái Lan nhưng tỷ lệ sừ dụng BCS vẫn còn thấp.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2010, có khoảng 20-40% thanh thiếu niên tại Thái Lan có QHTD cho biết họ có sử dụng BCS[61]. Nghiên cứu trên 1.137 sinh viên cũng ở Nepal (2010) cho thấy tỷ lệ QHTD ở sinh viên là 37,6% nhưng chưa đến một nửa có sử dụng BCS (48%)[54]. Còn ở Hồng Kông Trung Quốc, 40,0% thanh niên có QHTD trong đó 41,0% có sử dụng BCS trong làn QHTD gần nhất nhưng chỉ có 17,1% sử dụng BCS ngay từ đầu[28]. Nghiên cứu “Hành vi tình dục, các giai đoạn thay đổi hành vi và sự tự tin sử dụng BCS của sinh viên Đài Loan” của tác giả Wei-Chen Tung (2009) thực hiện trên sinh viên 2 trường đại học tại Đài Loan cho thấy 27,8% sinh viên có QHTD, trong số đó chỉ có 31,4% sử dụng BCS thường xuyên [5 8].
Tại Việt Nam Tại Việt Nam, trong thời gian qua, công tác thông tin, truyền thông, giáo dục sức khỏe sinh sản, phòng chống HIV/AIDS và bệnh LTQĐTD đã đạt được thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, các hành vi dự phòng chủ động, đặc biệt là hành vi sử dụng BCS vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi, tỷ lệ sử dụng BCS khi QHTD còn thấp[8]. Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Anh (1999) về thanh thiếu niên 15-24 tuổi tại Hải Phòng cho thấy tỷ lệ sử dụng BCS khi QHTD chỉ đạt 7,8%[2]. Nghiên cứu của Vũ Thị Minh Hạnh (1999) tại 3 tỉnh Quảng Ninh, Bình Định và cần Thơ, kết quả cho thấy tỷ lệ từng sử dụng BCS trong vòng 12 tháng qua là 49,4% trong đó sử dụng BCS thường xuyên chỉ có 28,8%.
Có tới 26,8% đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) có QHTD nhưng chưa từng sử dụng BCS[10]. Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Sơn (2004) về kiến thức, thái độ, hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS của thanh niên 15-24 tuổi tại Hà Tĩnh cho thấy 13,3% dùng BCS trong lần QHTD đầu tiên, 83,3% có sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất vó'i gái mại dâm và 22,2% trong lần QHTD với người yêu[19]. Nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Trần Hiển (2005) trên quần thể dân cư 15-49 tuổi cho thấy tỷ lệ sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất tại T.p Hồ Chí Minh và Thái Bình là 18,3% và 16,2%. Tỷ lệ luôn sử dụng BCS trong 12 tháng qua thấp hơn nhiều so với sử dụng BCS lần gần đây nhất 12% ở T.p Hồ Chí Minh và 10,4% ở Thái Bình[26J.
Theo kết quả điều tra Quốc gia về VTN và Thanh niên Việt Nam lần thứ nhất của Bộ Y tế (SAVY 1-2005), hiểu biết của thanh thiếu niên về tình dục an toàn tương đối cao, có tới 97,5% biết sử dụng BCS có thể phòng ngừa HIV và bệnh LTQĐTD. Tuy nhiên chỉ có 66,1% thanh niên đã có gia đình sử dụng BCS khi QHTD với gái mại dâm so với thanh niên độc thân là 98,1 %[7]. Điều tra Quốc gia về VTN và Thanh niên lần thứ hai (SAVY 2-2009) cho thấy tỷ lệ QHTD ở thanh niên khoảng 9,4%, trong đó khoảng một nửa có sử dụng BCS khi QHTD lần đầu (48%). Có 3 lý do chính khiến những người trẻ không sử dụng BCS như cảm thấy xấu hổ khi đi mua, sợ người quen nhìn thấy và do BCS không sẵn có[6], Nghiên cứu của Nguyễn Minh Nghĩa (2007) về hành vi sử dụng 7 BCS trong tình dục an toàn cũng cho thấy 22.4% ĐTNC có sử dụng BCS khi QHTD trong vòng 12 tháng qua và 19,3% ĐTNC sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất[17].
Các thang đo lường về sự tự tin sử dụng bao cao su Trong lĩnh vực giáo dục sức khỏe, sự tự tin là một khái niệm mới. Khái niệm này bắt đầu được đưa ra và sử dụng từ cuối những năm 1970. Nó đã được khám phá bởi các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực hút thuốc lá[48], kiểm soát cân nặng[40], lạm dụng rượu bia[56]. Liên quan đến hành vi tình dục, sự tự tin đã được áp dụng cho nghiên cứu hành vi phòng tránh thai của Gilchrist[43] và nghiên cứu của Levinson[49], trong đó Gilchrist phát triển nhận thức hành vi nhằm tăng khả năng đối phó với tình dục nguy cơ cao của thanh thiếu niên.
Nội dung can thiệp bao gồm cung cấp thông tin thực tế về sinh sản, kiểm soát sinh và thực hành trong việc áp dụng các thông tin và kỹ năng dựa theo tình huống. Can thiệp đã thành công trong việc tăng khả năng, sự tự tin của thanh thiếu niên về phòng tránh thai và tăng dự định của họ về sử dụng biện pháp tránh thai[43]. Tác giả Levinson phát triển thang đo sự tự tin phòng tránh thai và thấy rang nữ VTN có sự tự tin cao hơn, họ nghĩ rằng “Họ nên sử dụng biện pháp tránh thai và chịu trách nhiệm về hành vi tình dục của họ"[49]. Cả hai nghiên cứu trên đều chỉ ra rằng tăng sự tự tin sẽ góp phần vào sự tăng khả năng sử dụng biện pháp tránh thai ở nữ VTN.
Tuy nhiên, hai nghiên cứu này không đề cập cụ thể tới sử dụng BCS trong phòng tránh thai, cũng như chưa tìm hiểu về sự tự tin sử dụng BCS trong việc phòng ngừa H1V và bệnh LTQĐTD. Bandura lần đầu tiên đề cập tới mối liên quan giữa sự tự tin và sử dụng BCS tại Hội nghị Phụ nữ và AIDS tại Viện Y tế Quốc gia (1988), bằng cách tập luyện kiểm soát bản thân khi QHTD, đòi hỏi cá nhân có sự tự tin, kỹ năng giao tiếp và thực hành về tình dục an toàn, thuyết phục bạn tình sử dụng BCS. Phương pháp của Bandura nhằm mục đích cung cấp lý thuyết và phương pháp luận về sự tự tin, từ đó chúng ta có thể tìm hiếu kỹ năng cúa cá nhân, ý thức kiểm soát tình dục và niềm tin của cá nhân về khả năng sử dụng BCS. Tác giả cho rằng học sinh, sinh viên là đối tượng có sự tự tin sử dụng BCS thấp, điều này góp phần dẫn đến hành vi không sử dụng BCS.
Bandura cũng 8 chỉ ra việc sử dụng BCS để ngăn chặn sự lây lan của HIV hoặc bất kỳ bệnh LTQĐTD khác với trường hợp tránh thai, trong đó phòng ngừa mang thai thường được cho là trách nhiệm của người phụ nữ. Tuy nhiên, thời điểm đó chưa có thang đo về sự tự tin sử dụng BCS nên không thể áp dụng mô hình sự tự tin sử dụng BCS phòng tránh HIV/ AIDS cho sinh viên. Bởi vậy, mục đích của Bandura là tạo ra thang đo đáng tin cậy để đo lường sự tự tin ở các khía cạnh khác nhau như sử dụng, thuyết phục bạn tình sử dụng BCS[34]. Sau khi Bandura đề cập tới chủ đề này cho đến nay có nhiều nghiên cứu trên thế giới đã tìm hiểu và phát triển bộ công cụ đo lường sự tự tin sử dụng BCS (CUSES).
Nghiên cứu của Jo Baele (2001) về sự tự tin sử dụng BCS: dự định và thực tế sử dụng BCS ở VTN. Số liệu của nghiên cứu được thu thập qua bộ câu hỏi tự điền trên 424 nam nữ VTN của 3 trường THPT đã có hoặc chưa có QHTD nhằm tìm hiểu các khía cạnh của sự tự tin, ảnh hưởng từ dự định và thực tế sử dụng BCS của VTN.