CHƯƠNG I: TỐNG QUAN 1.1 Tống quan các khái niệm, định nghĩa và phân loại nhóm 1. Cơ sở lý luận xem xét khái niệm, định nghĩa và phân loại nhóm Việc đưa ra các khái niệm, định nghĩa nhóm đối tượng được dựa trên một số dấu hiệu chung và thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng. Để xác định nhóm và các nhóm trẻ em cũng cần phải càn cứ vào một số dấu hiệu chung của trẻ em, những thuộc tính bản chất của trẻ em và của từng nhóm trẻ, chảng hạn xác định trẻ em nói chung cần dựa trên những đặc trưng về sinh lý, tâm lý, thể chất, trí tuệ, độ tuổi để đưa ra quan niệm về trẻ em phù hợp. Có nhiều quan niệm về nhóm, điển hình như: Theo H.Phichter: Nhóm là một tập hợp có thể nhận thức được, với cơ cấu tồ chức có tinh cách liên tục.
Trong tập hợp đó bao gồm những thành viên có những vị thế, vai trò nhất định, có quan hệ tương tác qua lại với nhau, có những quyền lợi và giá trị chung, những mục tiêu xà hội chung, phải tuân theo nhưng quy tác và điều lệ chung của nhóm [21]. Theo Robertson: Nhóm là một tập hợp người được liên hệ với nhau theo một kiểu nhất dịnh, nói cách khác: nhóm là tập hợp người có liên hệ với nhau về mặt vị thế vai trò, những nhu cầu lợi ích và những giá trị nhất định [21]. Từ các khái niệm nêu trên chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất về nhóm xã hội: là một tập hợp người có vị the, vai trò và định hướng giá trị chung nhất định, có quan hệ tương tác với nhau. Trẻ em, vị thành niên và trẻ em tuổi vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt /.1 Quan niệm trẻ em và vị thành niên Thuật ngữ trẻ em được ghi nhận và sử dụng khá rộng rãi, phổ biến trong các nghiên cứu khoa học, trong xã hội; tuy nhiên ở mỗi quốc gia lại có những quan niệm không đồng nhất về trẻ em.
Trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em (ngày 20/11/1989) đã nhắc lại điều được ghi nhận trong tuyên ngôn về quyền ưẻ em 1959: "Trẻ em là người còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần phải bảo vệ và chăm sóc đặc biệt".[10] Trẻ em được quan niệm theo qui định của Công ước Quốc tế về quyền trẻ 6 em, được qui định tại điều 1: "Trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em được quy định tuổi thành niên sớm hơn" [10] Trong những quy tắc tổi thiểu của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do được ghi nhận trong phần II, điều 11: "Những người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi". Như vậy, theo quan điểm cùa pháp luật quốc tế quy định trẻ em và người chưa thành niên là những người chưa đủ 18 tuổi. [10] Trong Bộ luật dân sự của Việt Nam, tại điều 20 quy định: "Người đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên, người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên" Hiện nay, xuất phát từ thực tiễn và qua nghiên cứu, nhiều nhà quản lỷ và nghiên cứu và cộng đồng đang kiến nghị độ tuổi của trẻ Việt Nam nên qui định là những người dưới 18 tuổi. Vị thành niên là chỉ những người đang ở giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con sang người trưởng thành trong độ tuổi từ 10-19 (Theo quy định của Tổ chức Y tế thế giới).
Tuổi VTN lại chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn sớm từ 10- 13 tuổi, giai đoạn giừa từ 14- 16 tuổi và giai đoạn muộn từ 17 đến 19 tuổi[9]. Quan niệm trẻ em, VTN có hoàn cảnh đặc biệt Trẻ em, vị thành niên có hoàn cành đặc biệt phụ thuộc vào tình hình kinh tế- xã hội của từng nơi (từng quốc gia, địa phương), và từng giai đoạn phát triển của mồi nước, mỗi địa phương, phụ thuộc vào đặc điểm văn hoá của mỗi dân tộc, từng cộng đồng. Chính vì vậy, ở mỗi quốc gia khác nhau, hoặc từng vùng ở từng giai đoạn khác nhau sẽ không có sự giống nhau về số nhóm, qui mô cùa từng nhóm có hoàn cảnh đặc biệt [19],[39] The giới: Tất cả những người (không kể người lớn, trẻ em) có mức sống dưới ngưỡng nghèo khó, với thu nhập dưới 1 đô la Mỹ / ngày. Họ là những người có hoàn cảnh đặc biệt [41],[52].
7 Việt Nam: Hiện có những quan niệm khác biệt nhất định về trẻ em có hoàn cành dặc biệt. Theo qui định tại luật BVCSGDTE 2004, quyết định số 19/2004/QĐ-TTg của Thù tướng chính phủ về bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt gồm: trẻ em lang thang; trẻ nhiễm HIV /AIDS; trẻ em làm trái pháp luật; trẻ em bị lạm dụng tình dục; trẻ em bị xâm hại bởi tệ nạn ma túy,. Ngoài quan niệm về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, còn có quan niệm về trè em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là khái niệm có ngoại diện rộng dùng để chi những trẻ em dưới 16 tuổi có những hoàn cảnh bất hạnh, chịu sự thiệt thòi về tinh thần và thể chất ít có cơ hội thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em và hoà nhập cộng đồng, nếu không có sự trợ giúp tích cực của gia đình, cộng đồng xã hội. Dối tượng trẻ có hoàn cành dặc biệt khó khăn, ngoài những đối tượng được nêu trong đối tượng của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, mỗi quốc gia, mỗi vùng còn có các nhóm như: trẻ em trong các gia đình không đầy đù; trẻ em trong các gia đình di cư tự do; v.3 Sự xuất hiện và tồn tại của nhóm trẻ em VTN có hoàn cảnh đặc biệt Sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của nhỏm ưẻ em có hoàn cảnh đặc biệt gắn liền với quá trình phát triển kinh tế- xã hội(KT-XH) trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Có những nhóm trẻ như mồ côi, tàn tật tồn tại lâu dài, nhưng cũng có những nhóm chỉ xuất hiện, tồn tại trong một giai đoạn lịch sử phát triển KT-XH nhát định như ưẻ em bị lạm dụng tình dục, trẻ em lang thang, trẻ em nghiện ma tuỷ,.Sự xuất hiện của các nhỏm trẻ em này là vấn đề nội tại cùa sự vận dộng và phát triển cùa xã hội [19],[39]. Ở nước ta một số nhóm trè em và trẻ VTN-HCĐB đà xuẩt hiện và tồn tại từ rất lâu, nhưng chưa thực sự trở thành vẩn đề xã hội bức xúc. Ngày nay cơ chế thị trường đã tạo dộng lực cho phát triển K.T-XH, nhưng ngược lại nhóm người yếu thế không có sức khoẻ, không có khả năng lao động,, lại rơi vào cảnh nghèo khó. Cùng với phân hoá giàu nghèo giữa các vùng, các tầng lớp dân cư, lại xuất hiện thêm 8 nhiều nhóm trẻ khác như trẻ em lao động sớm, trẻ em lang thang, trẻ em nghiện ma tuý,.
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là những trẻ em chịu nhiều thiệt thòi so với những trẻ em bình thường. Chính vi lý do thiệt thòi nên biểu hiện về mặt tâm lý, nguyên vọng của các em rẩt phức tạp và đa dạng. Tuy vậy, có thể nhóm thành hai nhóm có những đặc điểm chung nhất đó là: Nhóm trẻ do mac bệnh tật, sức khoẻ yếu, thiểu sự chăm sóc của gia đinh, xã hội dẫn đến buồn chán, tự ti, phó mặc cuộc đời,. nhóm này ít có biểu hiện ra bên ngoài về những tâm tư, nguyện vọng và mong muốn cá nhân [7], Nhóm trẻ cớ nghị lực luôn muốn vượt qua bệnh tật, phấn đấu học tập, rèn luyện để trở thành người có ích cho xã hội, số này thường chiếm tỳ lệ cao.
Dây là nhóm trẻ nhiều mơ ước, sống lạc quan tin yêu vào cuộc sống gia đình và xã hội [7], ỉ. Phân loại một số nhóm trẻ em, VTN hoàn cảnh đặc biệt Ị. ỉ Trẻ em mồ côi', là trẻ không còn cha, mẹ, không nơi nương tựa, trẻ em còn cha mẹ nhưng bỏ đi mất tích, bỏ con bơ vơ không có người nuôi dường. Trẻ em trong các gia đình bố hoặc mẹ, thậm chí cả hai đều bị đi tù, hoặc bỏ đi, trẻ em thiếu hụt sự quan tâm dài, thậm chí thiếu vĩnh viễn sự quan tâm của bố, mẹ hoặc cả bố mẹ.
Trẻ em trong các gia đình nghèo Trẻ em nghèo được hiểu là những trẻ sống trong gia đinh trong diện nghèo theo tiêu chí qui định của Bộ LĐ-TB-XII nãm 2005 [7]. Trè em nghèo của Hà Nội được hiểu là những trẻ em sống trong gia đình nghèo tính theo tiêu chí qui định đối với hộ gia đình nghèo của Hà Nội (nội thành và ngoại thành) [19]. Trẻ em lang thang (trẻ đường phố) Theo quan niệm quốc tế: trẻ đường phố được hiểu là những người dưới 18 tuổi lang thang kiếm sống trên dường phố [19]. Trẻ em nghiện ma tủy.
là những trẻ em dưới 16 tuổi sử dụng chất gây nghiện dưới các hình thức hút, hít, tiêm chích dẫn đến hội chứng nghiên, nếu ngừng sử dụng chất ma túy sẽ gây nên những bất thường về tâm sinh lý [19]. Trẻ em bị xám hại tình dục: bao gồm 2 loại: trẻ em bị LDTD bao gồm trè bị hiếp dâm, cưỡng dâm, loạn luân; TE bị bóc lột tỉnh dục bao gồm trẻ bị bắt cóc, buôn bán mại dâm. Trẻ em lao động sớm: Trẻ dưới 16 tuổi phải làm thuê, làm mướn, làm công việc nặng nhọc, độc hại để nuôi sống bản thân và gia đình, không có điều kiện học tập văn hoá, vui chơi, giải trí, ảnh hường đến việc phát triển thể lực, trí lực và nhân cách (trẻ bị bóc lột sức lao dộng, lạm dụng lao động,. Trẻ em làm trái pháp luật: là trẻ em trong độ tuổi do pháp luật quy định đã thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý những hành vi trái pháp luật, mà tuỳ theo mức độ nguy hiểm cho xã hội vỉ hành vi đó, người đỏ có thể bị xử lý theo pháp luật hành chính hay pháp luật hình sự.
Trẻ em chịu hậu quà chất độc da cam: là những trẻ chịu di chứng chất độc da cam để lại bởi cha mẹ, các the hệ trước (chủ yếu do chiến tranh) gây những hậu quả xấu về thể chất và tâm thần như tàn tật, dị tật bẩm sinh .4 Các đặc thù của VTN Đặc điểm nổi bật nhất của tuổi VTN là có sự biến đổi về cơ thể, sinh lý, tâm lý để trở thành người trưởng thành. Đặc điểm này chi phối tất cả công tác nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, chế độ làm việc đối vởi VTN.