ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp là một bệnh mạn tính, đặc trưng bởi tình trạng tăng chỉ số huyết áp tâm thu hoặc tâm trương. Đây là một bệnh cần theo dõi và điều trị lâu dài với những biến chứng nguy hiểm, bệnh cũng là gánh nặng cho gia đình và xã hội, phải bỏ ra kinh phí, thời gian để chăm sóc, nuôi dưỡng, luyện tập. Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới năm 2002 về những yếu tố nguy cơ mới của sức khỏe toàn cầu thì tăng huyết áp đứng hàng thứ 3 trong 10 yếu tố nguy cơ hàng đầu, là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong cho khoảng 7,1 triệu người và chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu [46]. Nghiên cứu SHEP liên quan đến những bệnh nhân tăng huyết áp trên 60 tuổi có huyết áp tâm thu trước điều trị trên 160 mmHg và huyết áp tâm trương trên 90mmHg, điều trị chống tăng huyết áp tích cực giảm tai biến mạch vành được 23%, đột quỵ 30%, tử vong do tim mạch 18% và tử vong khác 13% [42].
Tại Hoa Kỳ - nơi xuất xứ của các chương trình JNC chỉ có một số bác sĩ chấp nhận và có theo đúng hướng dẫn về điều trị. Về phía yếu tố người bệnh, nhiều báo cáo cho thấy sự tuân thủ điều trị trong đó có sự tuân thủ việc dùng thuốc hạ áp đóng vai trò quan trọng và thực sự cần thiết. Tuy nhiên, qua một số nghiên cứu ở Việt Nam về nhận biết, điều trị và kiểm soát huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp cho kết quả không mấy khích lệ. Theo một điều tra cho thấy trong số những người bị tăng huyết áp thì có tới 52% (khoảng 5,7 triệu người) là không biết mình có bị tăng huyết áp: 30% (khoảng 1,6 triệu người) của những người đã biết mình bị tăng huyết áp nhưng vẫn không có một biện pháp điều trị, những người tăng huyết áp (khoảng 2,4 triệu người) đã được điều trị nhưng vẫn chưa đưa được huyết áp về số huyết áp mục tiêu [13].
Việc thay đổi lối sống có lợi cho điều trị tăng huyết áp và tuân thủ dùng thuốc đúng theo chỉ định của bác sĩ là cần thiết cho một điều trị có 2 hiệu quả, tuy nhiên hai yêu cầu trên không phải luôn được các bệnh nhân tăng huyết áp hiểu biết đầy đủ và thực hiện nghiêm túc. Từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sự tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân trên 60 tuổi tại phòng khám Bệnh viện Trường Đại học Y dược Cần Thơ năm 2018” nhằm làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp, xây dựng các chương trình giáo dục sức khỏe thích hợp cho bệnh nhân tăng huyết áp góp phần việc dự phòng biến chứng và điều trị tăng huyết áp. Đề tài được thực hiện từ tháng 8/2018 đến tháng 8/2019 với các mục tiêu: 1. Xác định tỷ lệ bệnh nhân trên 60 tuổi bệnh tăng huyết áp tuân thủ điều trị tăng huyết áp và mức độ tuân thủ điều trị tại phòng khám Bệnh viện Trường Đại học Y dược Cần Thơ năm 2018-2019 2.
Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến sự không tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp tại phòng khám Bệnh viện Trường Đại học Y dược Cần Thơ năm 2018-2019 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa tăng huyết áp Huyết áp là áp lực mạch máu ép lên thành động mạch. Huyết áp của một người được biểu thị bằng 2 con số là huyết áp tâm thu (số cao) và huyết áp tâm trương (số thấp)[5]. Các thông số huyết áp thường được ứng dụng là: - Huyết áp tâm thu (HATT) là giới hạn cao nhất của những dao động có chu kỳ của HA trong mạch, thể hiện sức bơm máu của tim.
- Huyết áp tâm trương (HATTr) là giới hạn thấp nhất của những dao động có chu kỳ của HA trong mạch, thể hiện sức cản của mạch. - Huyết áp trung bình (HATB) là áp suất tạo ra với dòng máu chảy liên tục, và có lưu lượng bằng với cung lượng tim. - Hiệu áp hay áp lực máu (ALM) là hiệu số giữa HATT và HATTr. HATT, HATTr, ALM được xem là những yếu tố dự báo bệnh tim mạch, trong đó ALM có giá trị dự báo nguy cơ bệnh tim mạch ở các đối tượng trên 55 tuổi.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Hiệp hội THA quốc tế (ISH): - HA bình thường nếu HA động mạch tối đa (hay còn gọi HATT) <140 mmHg và HA động mạch tối thiểu (hay còn gọi là HATTr) <90mmHg. - Tăng huyết áp nếu HA động mạch tối đa hay còn gọi là HATT ≥140mmHg và HA động mạch tối thiểu hay còn gọi là HATTr ≥ 90mmHg. Theo Tổ chức Y tế thế giới: Một người lớn được gọi là THA khiHATT ≥ 140 mmHg và/hoặc HATTr ≥ 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2 lần được bác sĩ chẩn đoán là THA. 4 THA tâm thu đơn độc:đối với người lớn, HATT có xu hướng tăng và HATTr có xu hướng giảm.
Khi trị số HATT >140mmHg và HATTr <90mmHg, được gọi là THA tâm thu đơn độc. Độ chênh HA (tâm thu- tâm trương) và HATT dự báo nguy cơ và quyết định điều trị. THA áo choàng trắng:một số bệnh nhân HA thường xuyên tăng tại bệnh viện hoặc tại phòng khám bác sĩ trong khi huyết áp hằng ngày hoặc đo 24 giờ lại bình thường, tình trạng này gọi là THA áo choàng trắng.Chẩn đoán: HA phòng khám ≥140/90mmHg sau nhiều lần đi khám và huyết áp 24 giờ<125/80mmHg. Tăng HA ẩn dấu: thường ít gặp hơn THA áo choàng trắng nhưng khó phát hiện hơn, đó là tình trạng trái ngược: HA bình thường tại phòng khám và THA ở nơi khác.Những bệnh nhân này có tổn thương cơ quan đích nhiều hơn và nguy cơ cao hơn những đối tượng HA luôn bình thường.
Tăng HA giả tạo: trong một số ít bệnh nhân lớn tuổi, các động mạch ngoại biên trở nên cứng nên băng quấn phải có áp lực cao hơn để nén lại, động mạch quay vẫn bắt được dù băng quấn đã được bom căng.Khi nghi ngờ THA giả tạo phải đo HA nội động mạch quay để xác định chẩn đoán. Phân loại tăng huyết áp Phân loại tăng huyết áp có thể chia ra các loại như sau [5]: - Tăng huyết áp thường xuyên: có thể phân biệt thành tăng huyết áp lành tính, tăng huyết ápác tính. - Cơn tăng huyết áp: trên cơ sở HA bình thường hoặc gần bình thường, có những cơn tăng vọt, vào những cơn này thường có tai biến. - Tăng huyết áp dao động: trị số HA có thể có lúc tăng giảm.
Theo WHO khuyên rằng không nên sử dụng danh từ này và nên xếp vào loại tăng huyết áp giới hạn, vì cho rằng tất cả các loại tăng huyết áp đều ít nhiều “dao động”. 5 - Tăng huyết áp nguyên phát: trường hợp tăng huyết áp mà không tìm thấy nguyên nhân, được gọi là bệnh tăng huyết áp nguyên phát vô căn. Thường gặp ở người lớn, chiếm 90 – 95% tổng số các đối tượng có tăng huyết áp. - Tăng huyết áp thứ phát: trường hợp tăng huyết áp tìm thấy nguyên nhân, còn gọi là tăng huyết áp triệu chứng.
Chiếm khoảng 5% tổng số các đối tượng có tăng huyết áp. Sơ đồ Khám đo và chẩn đoán tăng huyết áp Nguồn: Hội Tim mạch học quốc gia Việt Nam (2018) Khuyến cáo và chẩn đoán điều trị tăng huyết áp [13] 6 Bảng 1.1 Phân loại THA theo JNC VII Phân loại HA HA tâm thu (mmHg) HA tâm trƣơng (mmHg) Bình thường < 120 < 80 Tiền THA 120 – 139 80 – 89 THA giai đoạn I 140 – 159 90 – 99 THA giai đoạn II ≥ 160 ≥ 100 Nguồn: Phạm Nguyễn Vinh 2010 [35] Bảng 1.2 Định nghĩa và phân độ Tăng Huyết Áp tại phòng khám 2018 Phân loại Huyết áp (mmHg) Tâm thu Tâm trƣơng HA tối ưu < 120 và < 80 HA bình thường 120 – 129 và/hoặc 80 – 84 HA bình thường cao 130 – 139 và/hoặc 85 – 89 THA độ 1 140 – 159 và/hoặc 90 – 99 THA độ 2 160 – 179 và/hoặc 100 – 109 THA độ 3 ≥ 180 và/hoặc ≥ 110 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 và < 90 * Nếu HA không cùng mức để phân loại thì chọn mức HA tâm thu hay tâm trương cao nhất. THA TT đơn độc xếp loại theo mức HATT **Tiền Tăng huyết áp: khi HATT >120-139mmHg và HATTr >80-89 mmHg Nguồn: Hội Tim mạch học quốc gia Việt Nam (2018) Khuyến cáo và chẩn đoán điều trị tăng huyết áp [13] 7 1. Cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp nguyên phát Qua nhiều năm nghiên cứu các nhà sinh lý và lâm sàng tim mạch đã cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu để giải thích cơ chế bệnh sinh của THA và các cơ chế đã được công nhận [23].1 Tăng hoạt động thần kinh giao cảm Khi tăng hoạt tính hệ thần kinh giao cảm, sẽ làm tăng hoạt động của tim, dẫn đến tăng tần số tim và cung lượng tim.
Đồng thời sẽ gây ra phản xạ co thắt toàn bộ hệ thống động mạch ngoại vi và động mạch thận làm tăng sức cản ngoại vi dẫn đến hậu quả là THA động mạch.2 Vai trò của hệ Renin - Angiotensin – Aldosteron (RAA) Renin là một enzym do các tế bào tổ chức cạnh cầu thận và một số tổ chức khác tiết ra khi có các yếu tố kích thích: các tế bào cơ trơn trên thành mao mạch đến của tiểu cầu thận chịu trách nhiệm nhận cảm áp lực của động mạch tiểu cầu thận, kích thích các tế bào cạnh tiểu cầu thận tiết ra renin để điều hòa huyết áp, duy trì áp lực lọc ở tiểu cầu thận. khi renin được tiết ra, sẽ chuyển α2 globulin (được tổng từ gan) với tên gọi là angiotensinogen (có 14 acid amin) thành angiotensin I (là một peptid có 10 acid amin) tuần hoàn trong máu lên tuần hoàn phổi, tại phổi tách khỏi chất vận chuyển rồi cắt đi 2 acid amin nhờ hệ enzym chuyển ở phổi còn lại 8 acid amin được gọi là angiotensin II, angiotensin II có khả năng: kích thích vỏ thượng thận tăng tiết aldosterol gây tăng giữ nước và muối, gây co mạch gấp 100 – 200 lần so với adrenalin, đây cơ sở của THA động mạch. Sau đó Angiotensin II bị enzym Angiotensinase phá hủy để tạo thành một số hoạt chất trung gian (Angiotensin III).