ĐẶT VẤN ĐỀ Tiêm là kỹ thuật để đƣa thuốc, chất dinh dƣỡng và một số chất khác qua da vào trong cơ thể nhằm mục đích chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh [4]. Tiêm tĩnh mạch là là kỹ thuật dùng bơm tiêm đƣa một lƣợng thuốc vào cơ thể theo đƣờng tĩnh mạch với góc tiêm là 30 độ nhằm tác dụng nhanh chóng. Khi tiêm chọn tĩnh mạch nổi rõ mềm mại không di động da vùng tiêm nguyên vẹn [4]. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tiêm là thủ thuật phổ biến nhất, trong điều trị tại cơ sở y tế tiêm đóng vai trò rất quan trọng mà đặc biệt là trong trƣờng hợp bệnh diễn tiến nặng, bệnh cấp cứu [2].
Hàng năm có 16 tỷ mũi tiêm, trên toàn thế giới trung bình một ngƣời tiêm 1,5 mũi tiêm/ năm. Nhƣng có khoảng 20-50% mũi tiêm ở các nƣớc đang phát triển là chƣa đạt tiêu chí mũi tiêm an toàn [4] [20]. Tiêm không an toàn còn làm lây truyền các bệnh: viêm gan B, viêm gan C và lây nhiễm HIV. Cụ thể, năm 2010, có tới 1,7 triệu ngƣời bị nhiễm siêu vi viêm gan loại B, lên đến 315.000 ngƣời mắc bệnh viêm gan siêu vi C và 33800 ngƣời nhiễm HIV qua tiêm không an toàn [32].
Tiêm không an toàn cũng có thể gây các biến chứng khác nhƣ áp-xe và phản ứng nhiễm độc, choáng phản vệ [4]. Tại Việt Nam, những mũi tiêm không an toàn tại các cơ sở y tế đã gây ra hậu quả làm ảnh hƣởng đến tính mạng, sức khỏe không những ngƣời bệnh mà còn ảnh hƣởng đến nhân viên y tế và cả cộng đồng. Điều này cũng ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng khám chữa bệnh và uy tín của ngành y tế [24]. Theo nghiên cứu của thạc sĩ Phạm Đức Mục về vấn đề rủi ro gây ra tai biến do tiêm không an toàn chiếm 29,2% [14].
Theo kết quả đánh giá thực trạng tiêm an toàn của điều dƣỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Sản Nhi Cà Mau năm 2014: Tỉ lệ mũi tiêm đạt chuẩn an toàn là: 68,9% [17]. Và rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng kiến thức và thực hành TAT của điều dƣỡng viên tại các bệnh viện còn nhiều hạn chế [14]. Tại bệnh viện đa khoa Thành phố Cần Thơ, theo báo cáo tổng kết công tác khám chữa bệnh năm 2017 và việc thực hiện điều 12 của thông tƣ 07/2011/TT- BYT ngày 26/01/2011 đƣợc đánh giá là còn gặp nhiều hạn chế nhƣ: Bệnh viện đã có quy trình kỹ thuật chuẩn về tiêm truyền, trang bị đầy đủ dụng cụ để thực hiện đúng quy trình kỹ thuật TAT, nhƣng điều dƣỡng ở một số 2 khoa, chƣa thực hiện đúng quy trình kỹ thuật tiêm, vì những điều dƣỡng chƣa biết nguy cơ xảy ra sự cố trong khi tiêm thuốc thì có thể xuất hiện bất cứ khi nào. Tuy chƣa có sự cố nghiêm trọng nào ảnh hƣởng tính mạng bệnh nhân [3].
Có nhiều hình thức tiêm đƣợc sử dụng nhƣng với đặc trƣng là một bệnh viện thuộc tuyến cao, hầu hết ngƣời bệnh nhập viện nặng, bởi vì ở tuyến dƣới đã điều trị không đỡ nên mới chuyển lên tuyến trên. Chính vì vậy trong nghiên cứu này chúng tôi chủ đích tiến hành nghiên cứu TAT với quy trình cụ thể là tiêm tĩnh mạch an toàn. Theo số lƣợng thống kê 6 tháng đầu năm tổng số lƣợng khám 294.630 lƣợt, lƣợng khám bệnh ngoại trú khoảng 2.500 bệnh nhân/ ngày, lƣợng bệnh nội trú từ 850-900 bệnh nhân/ngày. Hiện tại các khoa điều trị luôn trong tình trạng quá tải cục bộ.
Tình trạng nhân lực điều dƣỡng tại các khoa lâm sàng vẫn còn thiếu so với lƣu lƣợng bệnh nhân. Tình hình thực hiện y lệnh mỗi ngày tại các khoa nhiều nhất là đƣờng tiêm tĩnh mạch, tiếp theo là thuốc uống và truyền dịch. Tiêm là kỹ thuật phổ biến nhất trong công việc hàng ngày của điều dƣỡng, vì vậy sự hiểu biết và kỹ năng thực hành của điều dƣỡng là hết sức cần thiết và nên đánh giá để có cơ sở can thiệp nâng cao kiến thức và thực hành cho đội ngũ điều dƣỡng. Về phía quản lý, lãnh đạo bệnh viện cũng mong muốn tìm ra những yếu kém đang tồn tại cũng nhƣ một số yếu tố ảnh hƣởng đến việc thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của ngƣời điều dƣỡng.
Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Tuân thủ tiêm tĩnh mạch an toàn và một số yếu tố ảnh hƣởng của điều dƣỡng tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2019” nhằm trả lời câu hỏi nghiên cứu (1) Thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của Điều dƣỡng tại bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ là nhƣ thế nào? (2) Các yếu tố nào ảnh hƣởng đến thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của Điều dƣỡng trong bệnh viện? Từ đó, tìm ra những tồn tại trong công tác tiêm tĩnh mạch an toàn cho bệnh nhân của điều dƣỡng tại các khoa lâm sàng tại bệnh viện, đồng thời đƣa ra các giải pháp, khuyến nghị phù hợp nhằm nâng cao việc thực hành đúng các tiêu chuẩn về tiêm tĩnh mạch an toàn do BYT ban hành cũng nhƣ đạt Chuẩn năng lực Điều dƣỡng Việt Nam. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực hành về tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dƣỡng tại bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2019. Xác định một số yếu tố ảnh hƣởng đến thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn của điều dƣỡng tại bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2019.
4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Các định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu 1. Các định nghĩa liên quan đến thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn Định nghĩa tiêm an toàn: Tiêm an toàn là quy trình tiêm không gây nguy hại cho ngƣời nhận mũi tiêm, không gây phơi nhiễm cho ngƣời thực hiện mũi tiêm và không tạo chất thải nguy hại cho ngƣời khác và cộng đồng [4]. Tiêm tĩnh mạch: Là kỹ thuật dùng kim đƣa thuốc, dịch vào tĩnh mạch với góc tiêm 15- 30 so với mặt da. Khi tiêm chọn tĩnh mạch nổi rõ, mềm mại, không di động, da vùng tiêm nguyên vẹn [4].
Mũi tiêm tĩnh mạch an toàn: là mũi tiêm không gây nguy hại cho ngƣời đƣợc tiêm, không gây phơi nhiễm cho ngƣời tiêm đối với các nguy cơ có khả năng tránh đƣợc và không để lại chất thải nguy hại cho cộng đồng [4]. Mũi tiêm tĩnh mạch không an toàn: Mũi tiêm tĩnh mạch không an toàn trong nghiên cứu là mũi tiêm có từ một tiêu chí thực hành không đạt trở lên [3]. Chất sát khuẩn: Các chất chống vi khuẩn (ngăn ngừa nhiễm khuẩn với mô sống hoặc da). Chất này khác với chất kháng sinh sử dụng để tiêu diệt hoặc kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn một cách đặc hiệu và khác với chất khử khuẩn dụng cụ.
Một số loại chất sát khuẩn là chất diệt khuẩn thực sự, có khả năng tiêu diệt vi khuẩn trong khi một số loại chất sát khuẩn khác chỉ có tính năng kìm hãm, ngăn ngừa và ức chế sự phát triển của chúng [3]. Dung dịch sát khuẩn tay có chứa cồn: Dịch pha chế có chứa cồn dƣới dạng chất lỏng, gel hoặc kem bọt dùng để xoa/chà tay nhằm tiêu diệt hoặc làm giảm sự phát triển của vi sinh vật. Các loại dung dịch này có thể chứa một hoặc nhiều loại cồn pha theo công thức đƣợc công nhận của các hãng dƣợc phẩm [1]. Dự phòng sau phơi nhiễm: Biện pháp ngăn ngừa lây truyền các tác nhân gây bệnh đƣờng máu sau phơi nhiễm.
Đậy nắp kim tiêm bằng hai tay: Kỹ thuật đậy nắp kim một tay: nhân viên y tế cầm bơm kim tiêm bằng một tay và đƣa đầu nhọn của kim vào phần nắp đặt trên một mặt phẳng sau đó dùng hai tay đậy lại [3]. Kỹ thuật vô khuẩn: Là các kỹ thuật không làm phát sinh sự lan truyền của 5 vi khuẩn trong quá trình thực hiện nhƣ: vệ sinh tay, mang trang phục phòng hộ cá nhân, sử dụng chất khử khuẩn da, cách mở các bao gói vô khuẩn, cách sử dụng dụng cụ vô khuẩn [3]. Phơi nhiễm nghề nghiệp: Phơi nhiễm nghề nghiệp là sự tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) có chứa tác nhân gây bệnh trong khi ngƣời bệnh thực hiện nhiệm vụ dẫn đến nguy cơ lây nhiễm bệnh. Phƣơng tiện phòng hộ cá nhân: Phƣơng tiện phòng hộ cá nhân bao gồm găng tay, khẩu trang, áo khoác phòng thí nghiệm, áo choàng, tạp dề, bao giày, kính bảo hộ, kính có tấm chắn bên, mặt nạ.
Mục đích sử dụng phƣơng tiện phòng hộ cá nhân là để bảo vệ NVYT, ngƣời bệnh, ngƣời nhà ngƣời bệnh và NVYT khỏi bị nguy cơ phơi nhiễm và hạn chế phát tán mầm bệnh ra môi trƣờng bên ngoài. Tổ chức Y tế Thế giới không khuyến cáo sử dụng khẩu trang, găng tay, kính bảo vệ mắt, quần áo bảo vệ trong thực hiện tiêm. Các phƣơng tiện phòng hộ cá nhân này chỉ sử dụng trong trƣờng hợp ngƣời tiêm có nguy cơ phơi nhiễm với máu, dịch tiết, chất tiết (trừ mồ hôi) [9]. Vật sắc nhọn: Bất cứ vật nào có thể gây tổn thƣơng xâm lấn da hoặc qua da; vật sắc nhọn bao gồm kim tiêm đầu kim truyền dịch dao mổ thủy tinh vỡ ống mao dẫn bị vỡ và đầu dây nẹp nha khoa bị phơi nhiễm.
Thùng đựng chất thải sắc nhọn: Còn gọi là “hộp đựng chất thải sắc nhọn”, “hộp kháng thủng” hay “hộp an toàn”. Hộp đựng chất thải sắc nhọn đƣợc sản xuất bằng chất liệu cứng, chống thủng, chống rò rỉ đƣợc thiết kế để chứa chất thải sắc nhọn một cách an toàn trong quá trình thu gom, hủy bỏ và tiêu hủy. Xử lý vật sắc nhọn sau khi tiêm: Phân loại chất thải tại nguồn, cô lập ngay các vật sắc nhọn vào hộp kháng thủng đủ tiêu chuẩn, không đậy lại nắp kim, không uốn cong hoặc bẻ gãy kim. Vệ sinh tay: Việc rửa tay bằng nƣớc và xà phòng hoặc các chất sát khuẩn.
Khuyến cáo áp dụng khi thực hiện kỹ thuật vô khuẩn. Tiêu hủy: Việc chủ định chôn lấp đốt thải bỏ chất đống vứt bỏ tất cả các loại chất thải. Trong tài liệu này tiêu hủy chỉ việc lƣu giữ, xử lý dụng cụ, tiêm truyền lấy 6 mẫu bệnh phẩm máu dịch để tránh tái sử dụng hoặc tránh gây thƣơng tích. Tổn thƣơng do kim tiêm: Vết thƣơng do kim tiêm đâm.
Nguyên tắc thực hành tiêm tĩnh mạch an toàn Để đảm bảo tiêm tĩnh mạch an toàn cho ngƣời bệnh, NVYT và cộng đồng, năm 2012 trong hƣớng dẫn TAT, BYT đƣa ra nguyên tắc thực hành tiêm cụ thể nhƣ sau: Không gây nguy hại cho ngƣời nhận mũi tiêm Thực hiện “5 đúng”: đúng ngƣời bệnh, đúng thuốc, đúng liều, đúng đƣờng tiêm và đúng thời gian, để bảo đảm an toàn cho ngƣời bệnh.