CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu nước ngoài Trong bối cảnh quốc tế, các nghiên cứu téng quát và trường hợp về sự hài lòng của giáo viên và các yếu tố ảnh hưởng đến nó đã được thực hiện rất nhiều, tạo nên một nguồn tham khảo đồ sộ, uy tín và da dang. Điền hình có thé kể đến, nghiên cứu của Xiaofeng và cộng sự (2008) với nhận định rằng: Nâng cao sự hài lòng của giáo viên sẽ giảm khả năng họ rời đi cũng như giúp họ tối ưu hóa hiệu quả làm việc. Trong nghiên cứu về sự hài lòng của giáo viên này, các tác giả đã sử dụng dữ liệu từ hàng loạt các cuộc khảo sát quốc gia được thực hiện tại Hoa Kỳ, bao gồm những cuộc khảo sát của Chính Phủ, cho thay kết quả nghiên cứu rất đáng tin cậy.
Mô hình đa cấp đã được sử dụng dé xử lý dữ liệu khảo sát, với 3 yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của giáo viên gồm: lãnh đạo, sự hợp tác của đồng nghiệp, kiểm soát giáo viên và các yếu tố nhân khâu học khác như giới tính, số năm giảng day, dân tộc, tuổi, ngành giảng day tình trạng nghề nghiệp (Xiaofeng và cộng sự,2008). Nghiên cứu “Teachers’ job satisfaction levels” của Zùlfi Demirtas (2010) cũng cho ra khang định tương tự, tuy nhiên không có sự khác biệt có ý nghĩa về sự hài lòng giữa những người có thâm niên nghề nghiệp và ngành giảng dạy khác nhau. Kim và các cộng sự (1994) thực hiện nghiên cứu trên 2054 giáo viên tai Mỹ bằng phương pháp hỗn hợp lại cho rằng: Mức lương hiện tại, cơ hội thăng tiễn, Thử thách nghề nghiệp, Quyền ra quyết định chuyên môn, Điều kiện làm việc, Tương tác với đồng nghiệp và tương tác với sinh viên lần lượt là các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của giáo viên (Kim và các cộng sự, 1994). Từ đó có thé nhận thấy, kết luận về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng đối với công việc của giáo viên trong các nghiên cứu nhìn chung tương đồng nhưng vẫn có đôi nét mâu thuẫn.
Ví dụ như, Sims (2017,2018) khi thực hiện luận án tiễn sĩ, với dữ liệu có được từ The 2013 TALIS ! đã phân tích dit liệu giáo viên ở 34 quốc gia trên toàn thế giới. Và nhận thấy rằng: điều kiện làm việc (kỷ luật học sinh, đồng nghiệp.) và tuổi tác có mối quan hệ tích cực với sự hài lòng trong công việc của giáo viên ở tất cả các quốc gia. Trong khi Đặc điểm công việc (Chuyên môn nghề nghiệp, kiến thức, kinh nghiệm giảng dạy và cơ hội phát triển. Ngược lại, tại Anh, đặc điểm công việc có thể ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc (Worth & De Lazzari,2017).
Tóm lại, nghiên cứu trước đây về tác động của các nhân tô đến sự hài lòng trong công việc của giáo viên vẫn còn mâu thuẫn và có thé phụ thuộc vào các đặc điểm cụ thé của quốc gia về hệ thống trường học cũng như điều kiện thị trường lao động đối với giáo viên (Kukla- Acevedo,2009). Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước. Tại Việt Nam, mặc dù không quá nhiều nhưng sự hài lòng trong công việc của giáo viên, cũng như các yếu tố ảnh hưởng trong nghiên cứu trước đây được xem xét rất chỉ tiết và có chiều sâu bởi nhiều tác giả. Chẳng hạn, Hồ Thanh Mỹ Phương cùng cộng sự (2023) thông qua nghiên cứu “Sự hài lòng trong công việc của giáo viên phổ thông tại Việt Nam” đã đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 6 nhân t6 ảnh hưởng đến sự hài lòng của giáo viên.
Trong đó, nguyên nhân cốt lõi của việc giáo viên không hài lòng trong công việc là: 1) An sinh nghề nghiệp; 2) Môi trường làm việc; 3) Trách nhiệm công việc (Mỹ Phương và cộng sự, 2023). Nổi bật trong các nghiên cứu trường hợp, kết quả nghiên cứu trên 228 giáo viên mam non tại huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp của Nguyễn Hong Hà và cộng sự (2021). Cho thấy có 5 nhóm yếu té tác động đến sự hài lòng trong công việc của giáo viên, gồm: Lãnh đạo, Đồng nghiệp, Điều kiện làm việc, Sự công nhận và Lương phúc lợi. Thêm vao đó, sự hai lòng với nghê nghiệp của giáo viên là nhân tô ! The 2013 TALIS: (The 2013 Teaching and Learning International Survey)- Khảo sát Quốc tẾ về Dạy và Học năm 2013 được thực hiện bởi OECD trên hàng nghìn giáo viên và hiệu trưởng của các quốc gia trực thuộc về các vấn dé xoay quanh công việc của ho trong đó có các yếu tố tác động đến sự hài lòng.
quan trọng giúp giữ chân họ gắn bó với trường và làm việc hăng say hơn (Nguyễn Hồng Hà va cộng sự ,2021). Tương tự, Âu Quang Hiếu, Trần Thị Thu Hương (2023), đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng đơn thuần dé xác định các yếu tố có ảnh hưởng rat cao tới sự hài lòng đối với công việc của giáo viên tiêu học tại Hà Nội theo lần lượt là: Chính sách nhà trường (77.25%), Đặc điểm công việc (66.75%), Thu nhập từ công việc (62%). Tuy nhiên, khi được hỏi về mức độ ảnh hưởng của yếu tô Môi trường làm việc tới sự hài lòng trong công việc thì chỉ có 7.5% giáo viên đánh giá rất cao (Âu Quang Hiếu và cộng sự,2023). Đặc biệt có nghiên cứu của Phan Thị Mai Hương và cộng sự đã khảo sát giáo viên ở cả ba cấp, tiểu học, Trung học cơ sở, THPT công lập ở khắp các tỉnh thành Việt Nam vào năm 2021.
Hai tác giả đã sử dụng cả thang đo đơn mục và đa mục cũng như 4 mô hình nghiên cứu trong bài nghiên cứu của mình. Sự hài lòng về nghề nghiệp nói chung giống nhau ở giáo viên cả ba cấp dạy của giáo viên phổ thông là sự hài lòng với môi trường văn hóa của nhà trường và sự hài lòng với học sinh. Yếu tố tác động mạnh nhất đen sự hài lòng với nghề nghiệp của giáo viên ở ba cấp dạy là khá khác nhau. Ở giáo viên tiêu học, đó là sự hài lòng với môi trường văn hóa nhà trường; ở giáo viên THCS là hài lòng với học sinh; đối với giáo viên THPT là sự hài lòng với năng lực của bản thân (Phan Thị Mai Hương và cộng sự,2021).
Có thể nhận định rằng: các nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy tính da dang và khá khác biệt về các thành phan tạo nên sự hài lòng với nghề nghiệp của giáo viên 1. Khoảng trồng nghiên cứu. Kết quả tông quan nghiên cứu cho thay: Các nghiên cứu cả trong và ngoài nước về các nhân tố anh hưởng đến sự hài lòng của giáo viên được các tác giả nghiên cứu trong bối cảnh các địa phương, quốc gia khác nhau. Kết quả là các yếu tố tác động và mức độ tác động của chúng có sự biến đổi giữa các nghiên cứu khác nhau.
Dù cho vẫn còn những yếu tổ bat biến như: gia tăng sự hài long sẽ tăng hiệu quả làm việc. Chang hạn, nghiên cứu của Kim và các cộng sự (1994) khi nghiên cứu ở Mỹ chỉ ra có 3 nhân tố ảnh hưởng. Trong khi đó, Nguyễn Hồng Hà và cộng sự (2021), trong nghiên cứu Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của giáo viên mầm non trên địa bàn huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, lại cho thay có 5 nhân tố. Các nghiên cứu ở Việt Nam về lĩnh vực này chưa nhiều, đặc biệt là đối với các tinh miền Trung và nghiên cứu tổng hợp cho giáo viên cả bốn cấp từ mầm non đến THPT.
Trong khi đó, điều kiện làm việc của giáo viên tại miền Trung day nắng, gió, khắc nghiệt và thiếu thốn vẫn còn nhiều bat cập. Tình trạng chung về sự hài lòng của các giáo viên vẫn chưa được nghiên cứu day đủ. Cuối cùng, các nghiên cứu chủ yếu sử dụng một phương pháp nghiên cứu (thường là định lượng) khiến việc tìm hiểu nguyên do sâu xa cho sự không hài lòng của các giáo viên vẫn chưa thực sự rõ ràng. Và đây là khoảng trống dé tác giả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng đối với công việc của giáo viên các trường từ mầm non đến Trung học phổ thông công lập tại Hà Tĩnh.
Trong bài nghiên cứu này, tác gia tập trung vào Hà Tĩnh - “đất học” miền Trung, cùng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng. Nhằm có một cái nhìn sâu sắc và đầy đủ nhất về tình hình sự hài lòng của đội ngũ giáo viên tại Hà Tĩnh. Cơ sở lý luận Trong phần này, chúng ta xem xét kỹ hơn khái niệm về sự hài lòng trong công việc của giáo viên, cũng như giáo viên được mô tả trong nghiên cứu trước đây. Đồng thời, các lý thuyết về sự hài lòng mà tác giả sử dụng trong đề tài này của mình.
Giáo viên và các khái niém liên quan. Trường mẫu giáo là nơi giáo dục trẻ em từ 3 đến 6 tuổi và có các lớp mẫu giáo. Trường tiêu học cung cấp giáo dục phổ thông cho các học sinh từ lớp 1 đến lớp 5. Trường trung học cơ sở giáo dục phổ thông cho học sinh từ lớp 6 đến lớp 9.
Trường trung học phổ thông dành cho học sinh từ lớp 10 đến lớp 12. Trường công lập là trường do Nhà nước thành lập, chịu trách nhiệm về cơ sở vật chất và kinh phí cho các hoạt động thường xuyên (Tổng Cục Thống Kê Việt Nam,2019). Giáo viên là người chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động dạy học và đánh giá học sinh (Phan Thị Mai Hương và cộng sự,2021). Trong đó, Giáo viên mâm non/ tiêu hoc/THCS /THPT là những người làm công tác giảng dạy, giáo duc tai trường mam non/ tiểu hoc/THCS/THPT thuộc hệ thong giáo dục quốc dân theo quy định của Bộ GD&PT.
(Nguyễn Hồng Hà và cộng sự ,2021) Điều 72 của Luật Giáo Dục 2019, đã quy định về trình độ chuẩn đào tạo của giáo viên như sau: a) Giáo viên mầm non phải có bằng tốt nghiệp cao đăng sư phạm trở lên. b) Giáo viên tiêu học, trung học co sở, và trung học phô thông phải có bằng cử nhân trong lĩnh vực đào tạo giáo viên hoặc cùng trình độ cao hơn. Trong trường hợp môn học cụ thê thiếu giáo viên có bằng cử nhân đào tạo giáo viên, họ phải có bằng cử nhân trong lĩnh vực tương ứng và chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm (Bộ GD&DT,2019). Theo Trần Thị Tuyết Oanh và các cộng sự (2005), đặc điểm của nghề giáo viên được mô tả như sau: Vé mục đích: Mục tiêu chính của lao động sư phạm là giáo dục thế hệ trẻ để họ phát triển phâm chat và năng lực cần thiết cho xã hội.