Mở đầu Chƣơng 2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chƣơng 3. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4. Kết quả nghiên cứu Chƣơng 5.
Kết luận và kiến nghị LV Quản lý kinh tế 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chƣơng 2 trình bày cơ sở lý thuyết và định hƣớng mô hình nghiên cứu cho luận văn. Tác giả đề cập đến các khái niệm liên quan, đƣa ra tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây và cuối cùng đề xuất một mô hình nghiên cứu phù hợp để áp dụng đƣa đến kết quả nghiên cứu.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm sự hài lòng trong công việc Nhiều chuyên gia đã nghiên cứu về vấn đề hài lòng công việc và đã đƣa ra các định nghĩa về sự hài lòng trong công việc. Mặc dù sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học, cũng nhƣ trong cuộc sống hàng ngày, vẫn chƣa có khái niệm thống nhất về sự hài lòng công việc. Ngoài ra, thực tế cũng không có định nghĩa cuối cùng về công việc.
Vì vậy trƣớc khi có thể đƣa ra một định nghĩa về sự hài lòng trong công việc, cần phải xem xét bản chất và tầm quan trọng của công việc làm cho tác LV Quản lý kinh tế giả khác nhau có các cách tiếp cận khác nhau để xác định sự hài lòng trong công việc. Các định nghĩa đƣợc đề cập nhiều nhất về sự hài lòng công việc nhƣ sau: Anderson (2001) định nghĩa sự hài lòng công việc là một trạng thái tình cảm thú vị hoặc tích cực do kết quả của quá trình gắn bó công việc hoặc kinh nghiệm làm việc của một ngƣời. Anderson (2001) ghi nhận rằng định nghĩa này kết hợp cả nhận thức và cảm xúc, Anderson cho rằng các kết quả sự hài lòng của công việc là do sự tƣơng tác của nhận thức lẫn ảnh hƣởng của suy nghĩ và cảm xúc. Robbins (2005) đồng quan điểm với với Anderson (2001) khi xác định sự hài lòng công việc nhƣ một tập hợp các cảm xúc mà một cá nhân nắm giữ đối với công việc của mình.
Một ngƣời có mức độ hài lòng công việc cao sẽ có những cảm xúc tích cực đối với công việc trong khi một ngƣời không hài lòng với công việc của mình sẽ giữ những cảm xúc tiêu cực đối với nó. Do đó việc làm hài lòng là kết quả của phản ứng tổng thể đối với một công việc. 8 Sự hài lòng công việc đƣợc nhìn nhận trong phạm vi sự khác biệt giữa những gì mong đợi so với những gì thực tế đƣợc trong môi trƣờng làm việc. Hewstone và Stroebe (2001) xác định sự hài lòng trong công việc nhƣ một phản ứng từ sự so sánh thực tế của các kết quả thực tế với kết quả mong muốn.
Về khía cạnh này, việc thực hiện công việc đòi hỏi phải đáp ứng đƣợc những mong đợi và nguyện vọng của cá nhân về các vấn đề khen thƣởng và hoàn thành xuất sắc. Nếu những nhu cầu này đƣợc đáp ứng, nhân viên sẽ hài lòng với kết quả của công việc và sự hài lòng cao hơn sẽ khuyến khích nhân viên thực hiện nhiệm vụ của họ hiệu quả hơn, do đó làm tăng năng suất của tổ chức. Saiyadain (2007) định nghĩa sự hài lòng trong công việc là trạng thái cuối cùng của cảm giác, cảm giác đƣợc trải nghiệm sau khi một nhiệm vụ đƣợc hoàn thành. Cảm giác này có thể là tiêu cực hoặc phụ thuộc vào kết quả của công việc đƣợc thực hiện.
Tƣơng tự, sự hài lòng công việc là tập hợp cảm xúc và niềm tin mà mọi ngƣời có về công việc hiện tại của họ. Mức độ hài lòng công việc có thể đi từ LV Quản lý kinh tế sự hài lòng cực kỳ đến sự hoàn toàn không hài lòng. Con ngƣời cũng có thể có thái độ về các khía cạnh khác nhau của công việc của họ nhƣ là công việc họ làm, đồng nghiệp, ngƣời giám sát hoặc cấp dƣới và mức lƣơng của họ (George, J.R 2008) Darboe (2003) đã xác định sự hài lòng trong công việc khi mà nhân viên mang các cảm xúc tích cực hoặc tích cực về công việc hay môi trƣờng làm việc trong khi Faragher, Cass và Copper (2005) đã thêm một chiều hƣớng khác; bằng cách xác định nó nhƣ là mặt phản ứng sự tích cực về thái độ và cảm xúc của các cá nhân đối với công việc của họ. Sự hài lòng trong công việc có nghĩa là trạng thái tình cảm dễ chịu của cảm giác đó là kết quả của việc thực hiện công việc (Simatwa, 2011).
Nhân viên hoạt động ở các mức độ hài lòng công việc khác nhau. Ngƣời nhân viên có mức độ hài lòng công việc cao cam kết thời gian, năng lực và nỗ lực làm việc của họ mang lại hiệu quả cao (Scott, 2004). 9 Tƣơng tự nhƣ vậy, Schmidt (2007) nhận thấy rằng sự hài lòng công việc liên quan đến sự hiểu biết của một cá nhân về mức độ hấp dẫn của một công việc nếu cả kết quả tích cực và tiêu cực đƣợc cân nhắc với nhau. Đó là một phản ứng tình cảm đối với một công việc mà kết quả từ sự so sánh của ngƣời đó với những kết quả thực tế với kết quả mong muốn, mong đợi hoặc xứng đáng (Okpara, 2006).
Sự hài lòng trong công việc là cảm giác thành công trong công việc. Nhìn chung nó đƣợc nhìn nhận là có liên quan trực tiếp đến năng suất cũng nhƣ phúc lợi cá nhân. Sự hài lòng trong công việc có nghĩa là làm một công việc hoàn thành tốt và đƣợc khen thƣởng cho những nỗ lực đó. Sự hài lòng trong công việc còn hàm ý sự nhiệt tình và hạnh phúc với công việc của một ngƣời.
Sự hài lòng trong công việc là một thành phần quan trọng dẫn đến sự công nhận, thu nhập, thăng tiến, và đạt đƣợc các mục đích khác dẫn đến cảm giác hoàn thành (Kaliski, 2007). Sự hài lòng trong công việc cũng có thể đƣợc định nghĩa là mức độ mà một ngƣời lao động hài lòng với những phần thƣởng họ đạt đƣợc trong công việc của mình (Statt, 2004). LV Quản lý kinh tế Ngoài ra, sự hài lòng công việc có các thành phần cảm xúc, nhận thức và hành vi (Bernstein & Nash, 2008). Thành phần cảm xúc đề cập đến những cảm giác liên quan đến công việc, chẳng hạn nhƣ chán nản, lo lắng, hoặc phấn khích.
Thành phần nhận thức của sự hài lòng công việc liên quan đến niềm tin liên quan đến công việc của một ngƣời, ví dụ, cảm thấy rằng công việc của một ngƣời là đòi hỏi tinh thần và thách thức. Cuối cùng, thành phần hành vi bao gồm hành động của con ngƣời liên quan đến công việc của họ, có thể bao gồm việc đi trễ, ở muộn, hoặc giả vờ bị ốm để tránh làm việc (Bernstein & Nash, 2008). Có hai loại sự hài lòng công việc dựa trên mức độ cảm xúc của nhân viên về công việc của họ. Loại đầu tiên, và đƣợc nghiên cứu nhiều nhất, là sự hài lòng công việc tổng thể, đề cập đến cảm giác tổng thể của nhân viên về công việc của họ (ví dụ: "Nhìn chung, tôi yêu công việc của tôi") (Mueller & Kim, 2008).
Thứ hai là hài lòng về khía cạnh công việc, có nghĩa là cảm nhận về các khía cạnh công việc cụ thể, chẳng hạn nhƣ tiền lƣơng, lợi ích và chất lƣợng mối quan hệ với đồng nghiệp 10 của bạn (ví dụ: "Nhìn chung, tôi yêu công việc của mình, nhƣng lịch trình của tôi rất khó quản lý") (Mueller & Kim, 2008). Sự hài lòng công việc của giáo viên là sự hài lòng của giáo viên trong khi giảng dạy và mối quan hệ nhận thức giữa mong muốn và cung cấp cho một giáo viên (Zambylas và Papanastasiou, 2004). Sự hài lòng trong công việc là một biến phức tạp và bị ảnh hƣởng bởi các yếu tố tình huống của công việc cũng nhƣ các đặc điểm của cá nhân (Sharma & Ghosh: 2006). Đó là một khái niệm phức tạp và đa chiều có thể có các ý nghĩa khác nhau tùy mỗi ngƣời.
Sự hài lòng trong công việc thƣờng liên quan đến động cơ, nhƣng bản chất của mối quan hệ này không rõ ràng. Sự hài lòng không giống nhƣ động cơ. Sự hài lòng trong công việc là nhiều hơn về một thái độ. Ví dụ, nó còn liên quan đến cảm giác cá nhân về thành tựu mang tính định lƣợng hoặc định tính (Mullins, 2005).
Trên cơ sở các định nghĩa trên, trong nghiên cứu này, khái niệm về sự hài lòng công việc của giáo viên đề cập đến thái độ, nhận thức và cảm xúc của giáo LV Quản lý kinh tế viên đối với công việc của họ; nếu giáo viên có thái độ tích cực hoặc cảm xúc tốt về công hoặc cảm xúc tốt về công việc của họ, những phẩm chất này sẽ đƣợc dùng để mô tả một chiều hƣớng hài lòng.2 Khái niệm giáo viên tiểu học Giáo viên là ngƣời giảng dạy, giáo dục cho học sinh, lên kế hoạch, tiến hành các tiết dạy học, thực hành và phát triển các chƣơng trình học nằm trong lịch giảng dạy của nhà trƣờng không chỉ về mặt tri thức mà còn tƣ duy đạo đức. Đồng thời cũng là ngƣời đánh giá chất lƣợng từng học trò thông qua các bài kiểm tra, bài thi bằng cách ra đề, chấm điểm khách quan nhất. Những giáo viên giới tỉnh nữ đƣợc gọi là cô giáo, còn giáo viên giới tính nam thƣờng đƣợc gọi là thầy giáo. Trƣờng tiểu học là một cơ sở giáo dục của cấp tiểu học, là cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân.
Trƣờng tiểu học có các lớp từ lớp 1 đến lớp 5 và có tƣ cách pháp nhân và con dấu riêng. Giáo viên tiểu học là những ngƣời có trình độ, kiến thức 11 theo quy định, làm công tác giảng dạy, giáo dục trong trƣờng tiểu học. Giáo viên tiểu học là những giáo viên có bằng tốt nghiệp từ trung cấp sƣ phạm trở lên; dạy các môn học từ lớp 1 đến lớp 5 theo chƣơng trình của hệ thống giáo dục quốc dân do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định 2.2 Khung lý thuyết về sự hài lòng trong công việc Green (2000) đã đƣa ra kết luận rằng có bốn khung lý thuyết về sự hài lòng trong công việc, cụ thể là nội dung hoặc các lý thuyết nhu cầu, các lý thuyết về quá trình, và các mô hình tình huống hài lòng công việc. Nội dung hoặc nhu cầu các lý thuyết (Maslow, 1954, Herzberg, 1966) chủ yếu tập trung vào việc xác định các nhu cầu cụ thể (ví dụ nhƣ thực phẩm, nơi cƣ trú, bầu không khí và giải trí) hoặc các giá trị (tôn trọng, công nhận và đạt đƣợc) thuận lợi nhất cho sự hài lòng trong công việc.