Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thực trạng nhân lực y tế Việt Nam Hiện nay Việt Nam đang đương đầu với nhiều vấn đề về nhân lực y tế: bao gồm tình trạng thiếu hụt cả về chất lượng và số lượng; sự phân bố nhân lực không đồng đều giữa các vùng miền, các tuyến trong một địa phương; nguồn nhân lực y tế đang có sự dịch chuyển một chiều theo hướng từ tuyến dưới lên tuyến trên, từ nông thôn ra thành thị. Hơn nữa hệ thống y tế tư nhân phát triển cũng thu hút một lực lượng nhân lực khá lớn chuyển dịch từ khu vực công sang khu vực tư. Bên cạnh đó nhu cầu nhân lực y tế ngày càng tăng do phát triển dân số, phát triển kinh tế, mở rộng bảo hiểm y tế và phát triển hệ thống các cơ sở y tế địa phương, nhu cầu chăm sóc sức khỏe nói chung, khám chữa bệnh nói riêng của người dân đang ngày càng cao [8], [19].
Theo báo cáo tổng quan chung ngành Y tế năm 2014, Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên vẫn là hai khu vực có tỷ lệ bác sĩ trên một vạn dân thấp nhất cả nước (4,5 và 4,8). Trong giai đoạn 2010 – 2014 tổng số nhân lực y tế trên toàn quốc tăng lên ở cả ba tuyến tỉnh, huyện và xã, nhưng không đồng đều giữa các tỉnh, thành phố. Trong khi ở khu vực đồng bằng, thành thị (Hải Phòng) nhân lực y tế tăng lên ở cả ba tuyến, thì ở các tỉnh miền núi như Cao Bằng, Yên Bái, số tăng nằm ở tuyến tỉnh và huyện, còn số nhân lực y tế tuyến xã không tăng, thậm chí ở Hà Giang còn giảm 11% [19].1: Biến động nhận lực y tế theo tuyến tại một số tỉnh, thành phố và toàn quốc Năm Tên Tỷ lệ tăng (%) 2004 2009 Hà Giang Tỉnh 542 849 57 Huyện 702 1.485 112 Xã 995 886 -11 5 Cao Bằng Tỉnh 557 692 24 Huyện 803 1.054 12 Xã 956 957 0 Hải Phòng Tỉnh 2.249 21 Toàn quốc Tỉnh 76.149 24 Nguồn: Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2011 Theo thống kê của Bộ Y tế, năm 2010 có 344.876 nhân viên y tế trên toàn quốc.555 bác sĩ chiếm tỷ lệ 18,13%; 15.150 dược sĩ chiếm tỷ lệ 4,3%; 52.455 Y sĩ, chiếm tỷ lệ 15,2%; 74.107 điều dưỡng, chiếm tỷ lệ 21,4%; 22.473 dược sĩ trung cấp, chiếm tỷ lệ 6,5%; 14.897 kỹ thuật viên Y, chiếm tỷ lệ 20,2%; 25.289 nữ hộ sinh, chiếm tỷ lệ 7,3%; 69.885 các chuyên ngành khác, chiếm 20,2%.000 dân số là 7,2; số dược sĩ trên 10.000 dân số là 1,76 [18]. Phân theo tuyến, nhân viên y tế tuyến trung ương và bộ ngành là 73.680 chiếm tỷ lệ 21,3%; địa phương là 271.196 chiếm tỷ lệ 78,7%.
Không tính tuyến trung ương thì lao động tỉnh, huyện, xã có 263.256 nhân viên, trong đó: tuyến tỉnh 112.135 chiếm tỷ lệ 42,7%; tuyến huyện là 86.671 chiếm tỷ lệ 32,9%. Nhân viên y tế tuyến xã là 64.734, trong đó tuyến tỉnh 20.353 chiếm tỷ lệ 47,6%; tuyến huyện là 14.942 chiếm tỷ lệ 34,9%. Nhân viên y tế tuyến xã là 7. Thực trạng nhân lực bệnh viện đa khoa tỉnh Hưng Yên 1.
Cơ cấu nhân lực Bệnh viện đa khoa tỉnh Hưng Yên được thành lập từ năm 1967 với tên là Bệnh viện Ấp Dâu, qua nhiều lần đổi tên, sau ngày tái lập tỉnh 01/01/1997, Bệnh viện được đổi tên thành Bệnh viện đa khoa tỉnh Hưng Yên và được Bộ Y tế xếp hạng II với quy mô 400 giường bệnh. Từ ngày 01/01/2009 bệnh viện đa khoa tỉnh Hưng Yên được nâng quy mô lên 500 giường bệnh [26]. Bệnh viện đa khoa tỉnh Hưng Yên là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có nhiệm vụ khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho gần 1,2 triệu dân tỉnh Hưng Yên. Bệnh viện hoạt động với 500 giường bệnh kế hoạch, thực tế khoảng 650 giường bệnh, có những thời điểm tăng lên gần 700 giường, công suất sử dụng giường bệnh lên đến 140%, với 648 cán bộ nhân viên, 09 phòng chức năng (07 BS), 19 khoa lâm sàng (119 BS) và 6 khoa cận lâm sàng (20 BS).
Trình độ nhân lực Theo báo cáo của bệnh viện năm 2014. Bệnh viện hiện có tổng số cán bộ viên chức là 648 người. Trong đó sau đại học là 57 người: Bs CKII 9, ThS Bs 14, ThS Ds 01, Bs CKI 32, Ds CKI 01. Đại học và cao đẳng 237: Bác sĩ 89, Dược sĩ 05, Điều dưỡng 115, khác 28.
Trung cấp 310: Y sĩ 35, KTV 31, dược sĩ 10, điều dưỡng 208, hộ sinh 19, khác 07. Chế độ đãi ngộ Việc thiếu bác sĩ là vấn đề chung của cả nước. Từ nhiều năm nay, ngành y tế Hưng Yên nói chung và bệnh viện đa khoa tỉnh Hưng Yên nói riêng phải đối diện với thực trạng thiếu bác sĩ, dược sĩ có trình độ đại học. Báo cáo của bệnh viện trong những năm gần đây cho thấy số lượng bác sĩ, dược sĩ về nghỉ hưu nhiều hơn số mới được tuyển khiến cho tình trạng thiếu bác sĩ, dược sĩ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng khám, chữa bệnh của bệnh viện [12], [13].
Đứng trước thực trạng này, ngành Y tế Hưng Yên đã thực hiện triệt để các đề án và quyết định của UBND tỉnh về chính sách ưu đãi, tuyên truyền vận động thu hút các đối tượng có trình độ sau đại học gồm bác sĩ chuyên khoa I, II, thạc sĩ, tiến sĩ và bác sĩ, dược sĩ (tốt nghiệp đại học chính quy) về tỉnh công tác nhằm tăng cường nguồn 7 nhân lực y, dược có chất lượng cao và trình độ đại học về công tác tại địa phương. Sở Y tế cũng làm việc với các trường đại học y, dược công lập trong khu vực và tổ chức tuyên truyền sâu rộng về chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với bác sĩ, dược sĩ đại học (hệ chính quy) về tỉnh công tác [10]. Cơ hội học tập và phát triển Để có đội ngũ bác sĩ có trình độ chuyên môn đáp ứng được yêu cầu theo quy định phân tuyến kỹ thuật, các bác sĩ luôn cần phải nâng cao trình độ chuyên sâu, nhưng số lượng đang thiếu, nếu cử người đi lại không có đủ nhân lực để duy trì hoạt động khám chữa bệnh hàng ngày. Một số người tuổi đã cao, không thuận tiện cho việc đi học [14].
Việc thiếu nguồn nhân lực có chuyên môn và trình độ cao ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của bệnh viện nhất là trong việc khai thác và sử dụng trang thiết bị y tế một cách triệt để và hiệu quả. Trong những năm gần đây, bệnh viện đã được quan tâm, đầu tư nhiều thiết bị y tế hiện đại nhưng muốn sử dụng và ứng dụng hiệu quả trong công tác khám chữa bệnh thì cần phải có người sử dụng. Việc thiếu nhân lực dẫn đến thiết bị y tế hiện đại không được sử dụng hết công suất và phát huy hết hiệu quả. Sự hài lòng đối với công việc và các yếu tố liên quan sự hài lòng đối với công việc 1.
Khái niệm về sự hài lòng đối với công việc Định nghĩa của Trường Đại học Oxford về sự hài lòng đối với công việc là cảm giác hay đáp ứng cảm xúc mà con người trải qua khi thực hiện một công việc. Một số nhà nghiên cứu lý luận rằng có thể đạt được một mức độ sự hài lòng đối với công việc chỉ với một vấn đề. Một số khác gợi ý chúng ta có thể có những cảm xúc tiêu cực về một khía cạnh nào đó của công việc (như tiền lương) nhưng cảm xúc tích cực về những mặt khác (như đồng nghiệp). Sự hài lòng đối với công việc cần được xem xét ở cả hai mặt nguyên nhân và ảnh hưởng của các thay đổi về tổ chức.
Thuật ngữ sự hài lòng đối với công việc và động cơ (Motivation) làm việc thường được dùng thay cho nhau, tuy nhiên vẫn có sự khác biệt. Sự hài lòng đối với 8 công việc là đáp ứng cảm xúc của một người đối với tình trạng công việc, trái lại động cơ làm việc là động lực theo đuổi và thỏa mãn nhu cầu [42]. Một số học thuyết và yếu tố tạo sự hài lòng đối với công việc Có nhiều học thuyết khác nhau về sự hài lòng đối với công việc và được tiếp cận dưới nhiều hình thức riêng. Tuy nhiên các học thuyết có cùng chung một kết luận là việc nâng cao sự hài lòng đối với công việc cho người lao động dẫn tới tăng năng suất lao động và thắng lợi cho tổ chức.
Học thuyết nhu cầu của Maslow Maslow cho rằng con người có nhiều nhu cầu mong muốn được thỏa mãn và được sắp xếp theo thứ tự nhất định. Theo ông con người có năm nhu cầu cần được thỏa mãn và được sắp xếp theo thứ tự thỏa mãn từng nhu cầu. Học thuyết của Maslow cho rằng khi mỗi một nhu cầu trong số các nhu cầu trên được thỏa mãn thì nhu cầu tiếp theo trở nên quan trọng hơn. Sự thỏa mãn nhu cầu của các cá nhân đi theo thứ bậc như trên và mặc dù không có nhu cầu nào được thỏa mãn hoàn toàn nhưng một nhu cầu đã được thỏa mãn thì không còn tạo ra sự hài lòng đối với công việc được nữa.
Do vậy Maslow cho rằng để tạo ra được sự hài lòng đối với công việc cho nhân viên người quản lý cần phải hiểu nhân viên đó đang nằm trong thứ bậc nào của nhu cầu [44]. Học thuyết hai yếu tố (Học thuyết Herzberg) Có nhiều học thuyết về sự hài lòng đối với công việc cho thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về tạo sự hài lòng đối với công việc. Tuy nhiên, tất cả các học thuyết đều có một kết luận chung: việc tăng cường sự hài lòng đối với công việc đối với nhân viên dẫn đến nâng cao thành tích trong công việc và các thắng lợi lớn hơn của tổ chức. Frederick Herzberg đưa ra lý thuyết hai yếu tố về sự thỏa mãn công việc và tạo sự hài lòng đối với công việc.
Herzberg chia các yếu tố tạo nên sự hài lòng đối với công việc và sự thỏa mãn trong công việc thành hai nhóm [35]. Nhóm 1: Bao gồm các yếu tố then chốt để tạo sự hài lòng đối với công việc: - Sự thành đạt trong công việc: Sự thỏa mãn của bản thân khi hoàn thành một công việc, giải quyết các vấn đề và nhìn thấy những thành quả từ nỗ lực của mình. 9 - Sự thừa nhận thành tích (khen thưởng phi vật chất): Sự ghi nhận việc hoàn thành tốt công việc. Điều này có thể được tạo ra từ bản thân từng cá nhân hoặc từ sự đánh giá của mọi người.