CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về chất lượng dịch vụ y tế Chất lượng dịch vụ được hiểu và quan niệm theo nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào vị thế của từng người. Chất lượng từ góc độ của người bệnh (NB) hay khách hàng liên quan đến loại hình và tính hiệu quả của chăm sóc (CS), có thể chú trọng hơn vào thái độ thân thiện, được tôn trọng, sự thoải mái, sự sạch sẽ và tính sẵn có của DV tương đồng với chi phí. Nhân viên y tế hoặc các cơ sở y tế lại quan tâm nhiều hơn đến qui trình tác nghiệp của việc cung cấp dịch vụ y tế (DVYT), khả năng chẩn đoán và điều trị một ca bệnh.
Nhà quản lý có thể cho rằng chất lượng là sự tiếp cận, năng suất, tính phù hợp, khả năng có thể chấp nhận được và hiệu quả trong cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK). Nhà quản lý quan tâm nhiều tới chi phí cho việc cung cấp DVYT chuẩn, có chất lượng và khả năng chi trả của các đối tượng [14]. Theo ý kiến của hội nghị bàn tròn quốc gia về chất lượng, viện y khoa Massachusetts, Hoa kỳ thì: “Chất lượng chăm sóc là mức độ mà nhờ đó các DVYT cho các cá nhân và công chúng làm tăng khả năng có thể đạt được các kết quả sức khỏe mong đợi và phù hợp với kiến thức chuyên môn hiện tại” [14]. Có nhiều khái niệm về chất lượng DVYT, nhưng chung quy lại thì chất lượng DVYT có thể là: - Có hiệu quả, khoa học, việc chăm sóc phải thực hiện theo các tiêu chuẩn đã qui định.
- Thích hợp với NB. - NB tiếp cận được và chấp nhận với sự hài lòng, ít tốn kém so với cách điều trị khác [14]. Khái niệm chung sự hài lòng Khái niệm sự hài lòng cũng như nhiều định nghĩa về tâm lý học khác, rất dễ hiểu nhưng lại khó định nghĩa, sự hài lòng là một khái niệm bao trùm. Một định 5 nghĩa đơn giản và thực tế của sự hài lòng là mức độ mong muốn mà người ta nhận được [14].
Theo Oliver (1999) và Zineldine (2000) thì sự hài lòng của khách hàng là sự phản hồi tình cảm/ toàn bộ cảm nhận của khách hàng đối với nhà cung cấp dịch vụ (DV) trên cơ sở so sánh sự khác biệt giữa những gì họ nhận được so với mong đợi trước đó. Khái niệm về sự hài lòng của thân nhân người bệnh Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về sự hài lòng của thân nhân người bệnh (TNNB) hay người sử dụng dịch vụ với chất lượng DVYT, các nghiên cứu trên thế giới thường sử dụng 4 khái niệm của Linder – Pelz (1982), Fitzpatric (1993), Ke Ping và cộng sự (1999), Burke và cộng sự (2003). Theo Linder – Pelz (1982) sự hài lòng là sự đánh giá tích cực của mỗi cá nhân đối với mỗi khía cạch khác nhau trong việc khám chữa bệnh (KCB) [31]. Đây là một trong những khái niệm đầu tiên được đưa ra về sự hài lòng.
Năm 1993 Fiztpatric đã đưa ra khái niệm về sự hài lòng của NB được đánh giá dựa trên những tình cảm của người bệnh/thân nhân người bệnh đối với cơ sở cung cấp dịch vụ [32]. Khác với Linder – Pelz với quan điểm dựa trên những đánh giá mang tính khách quan theo chiều hướng tích cực từ phía người sử dụng dịch vụ. Theo Ke – Ping (1999) để đánh giá chất lượng cuộc sống thì sự hiểu biết của người sử dụng dịch vụ là sự phán quyết chủ quan, còn sự hài lòng của người sử dụng dịch vụ là phán quyết khách quan [33]. Năm 2003, Burke khi tiến hành nghiên cứu về sự không hài lòng với chăm sóc y tế ở những phụ nữ nhiễm HIV đã xác định: “Sự hài lòng của thân nhân người bệnh được sử dụng phổ biến trong việc đo lường chất lượng DVYT, như là một cách thức để đánh giá DV thông qua đo lường nhận thức của thân nhân người bệnh”.
Khái niệm này của tác giả Burke đã được nhiều nhà nghiên cứu cho rằng là phù hợp bởi nó không chỉ mang tính khái quát mà còn thể hiện rõ ràng chức năng của sự hài lòng của thân nhân người bệnh và đặt tính tự nhiên của khái niệm này dựa trên “Nhận thức của thân nhân người bệnh” [34]. 6 Nhìn chung, tuy có sự khác biệt giữa các tác giả về khái niệm sự hài lòng với chất lượng dịch vụ CSSK, nhưng vẫn có điểm tương đồng đó là tất cả đều xác định sự hài lòng như yếu tố khách quan xuất phát từ cảm nhận của NB khi phải chịu tác động của các dịch vụ có chất lượng tốt hay không. Theo mô hình của BYT hướng dẫn kiểm tra chất lượng BV năm 2015 đã đưa ra cách đánh giá sự hài lòng theo hướng tiếp cận là [5]: - Khả năng tiếp cận DV của NB. - Sự minh bạch thông tin và thủ tục khám bệnh, điều trị.
- Cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ NB. - Thái độ ứng xử,năng lực chuyên môn của NVYT. - Kết quả cung cấp dịch vụ. Tầm quan trọng sự hài lòng của thân nhân người bệnh Đối với bệnh viện Nhi Đồng 1 là bệnh viện đặc thù chỉ tiếp nhân bệnh nhân Nhi nên sự hài lòng của thân nhân người bệnh phản ánh kết quả đầu ra của các dịch vụ chăm sóc y tế, đánh giá uy tín, chất lượng phục vụ bệnh viện.
Chỉ số hài lòng này giúp đo lường sự đáp ứng của bệnh viện đối với những mong đợi của thân nhân người bệnh, giúp cải tiến chất lượng. Trong xu thế mới thân nhân người bệnh là khách hàng để nâng hiệu suất hoạt động BV tạo nguồn thu nhập, phát triển chuyên môn thì chúng ta cần phải tiếp thị bệnh viện. Trong nguyên tắc tiếp thị BV thì việc làm hài lòng của thân nhân người bệnh là nguyên tắc đầu tiên [14]. Do đó sự hài lòng của thân nhân người bệnh để họ trực tiếp tiếp thị cho BV là một tài sản quý giá, là thương hiệu của BV, thị phần tăng lên thu hút NB đến BV điều trị làm phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ điều trị, tăng thêm nguồn thu nhập cho nhân viên trong khi ngân sách nhà nước chưa thể đáp ứng đủ.
Các lý thuyết về nghiên cứu đo lường sự hài lòng Các doanh nghiệp thường dùng chỉ số hài lòng (CSI: Customer Satisfaction Index) làm thước đo đánh giá sự hài lòng. Thụy Điển là quốc gia đầu tiên dùng chỉ số SCSB (Sweden Customer Satisfaction Barometer) để đo mức độ hài lòng. Sự hài 7 lòng được xem như là kết quả đánh giá toàn diện về sử dụng một DV hoặc hoạt động sau bán hàng của doanh nghiệp[22]. Mỹ là quốc gia quan tâm đến chỉ số hài lòng của khách hàng.
Mô hình chỉ số hài lòng ACSI (American Customer Satisfaction Index) của Mỹ được nhiều nhà quản lý kinh tế áp dụng [22]. Mô hình này đưa ra giả định rằng giá trị cảm nhận chịu tác động bởi chất lượng cảm nhận và sự mong đợi của khách hàng. Giả định này có thể lý giải rằng khi mong đợi khách hàng càng cao sẽ có tác động đến tiêu chuẩn sản phẩm càng cao và ngược lại. Vì thế, chất lượng của sản phẩm và DV cung cấp cho khách hàng phải thỏa mãn dựa trên sự hài lòng của khách hàng.
Các quốc gia ở châu Âu cũng có những mô hình để đo chỉ số hài lòng. Phần lớn mô hình ở các nước này thường dùng chỉ số ECSI (European Customer Satisfaction Index) để giải thích các mối tương quan. Các mô hình này đánh giá cao sự cảm nhận của khách hàng có tác động trực tiếp đến sự hài lòng. Giá trị cảm nhận chịu sự tác động của hình ảnh, sự mong đợi, chất lượng sản phẩm và chất lượng DV[22].
Các văn bản hướng dẫn đánh giá sự hài lòng Nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cũng như đáp ứng sự hài lòng của thân nhân người bệnh Bộ Y tế ban hành Thông tư 19/2013/TT- BYT ngày 12/07/2013 về việc hướng dẫn thực hiện quản lý dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện. Theo đó, các BV sẽ triển khai thực hiện lấy ý kiến và đánh giá sự hài lòng của thân nhân người bệnh và NVYT đối với BV. Ngày 06 tháng 11 năm 2013, BYTđã ra quyết định số 4448/QĐ-BYT về việc phê duyệt đề án “Xác định phương pháp đo lường sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ y tế công”. Với mục tiêu chung là tiến hành thường xuyên việc đo lường sự hài lòng của người dân trên cơ sở đó khắc phục những bất cặp trong cung cấp DV y tế công, góp phần nâng cao chất lượng DV y tế công nhằm phát huy vai trò chủ đạo của các cơ sở y tế công lập trong công tác bảo vệ, CS và nâng cao sức khỏe nhân dân[1].
Tháng 12 năm 2013, BYT đã ban hành bộ tiêu chí đánh giá chất lượng BV theo Quyết định số 4858/QĐ-BYT, ngày 03 tháng 12 năm 2013, với quan điểm chỉ đạo là:“Lấy người bệnh làm trung tâm của hoạt động chăm sóc và điều trị” [3]. Sự 8 hài lòng là một trong 83 nội dung của Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng BV và ngày càng được nhận biết như một khía cạnh quan trọng để đánh giá chất lượng BV hiện nay. Ngày 06 tháng 11 năm 2015 BYT ban hành quyết định số 4745/ QĐ-BYT, về việc hướng dẫn kiểm tra đánh giá chất lượng BV cuối năm 2015. Có đưa ra các khía cạnh cần đánh giá sự hài lòng của thân nhân người bệnh bao gồm: - Khả năng tiếp cận dịch vụ của NB.
- Sự minh bạch thông tin và thủ tục khám bệnh, điều trị. - Cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ NB. - Thái độ ứng xử,năng lực chuyên môn của NVYT. - Kết quả cung cấp dịch vụ.
Những nghiên cứu đánh giá sự hài lòng của thân nhân người bệnh và các yếu tố liên quan đến sự hài lòng trên thế giới và ở Việt nam 1. Các nghiên cứu đánh giá sự hài lòng trên thế giới và ở Việt Nam Năm 2008, nghiên cứu về hài lòng NB của Press Ganey trên các bê ̣nh nhân suy giảm miễn dich ̣ ta ̣i bê ̣nh viê ̣n Roswell Park - Buffalo - Mỹ cho thấ y tỷ lê ̣ hài lòng chung của NB về sự chăm sóc của NVYT là 97%, trong đó tỷ lê ̣ hài lòng về sự thân thiê ̣n, nhã nhă ̣n lich ̣ sự của BS là 96%, thời gian BS dành cho NB là 99%, sự quan tâm của BS đố i với những lo lắ ng của NB là 99% [5].