mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm những nội dung chính nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về sự hài lòng của khách hàng Chƣơng 2: Thực trạng địa bàn nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Bình luận kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Đƣợc sự hƣớng dân, giúp đỡ tận tình của cán bộ hƣớng dân khoa học PGS. Nguyễn Thị Nhƣ Liêm, trên cơ sở lý luận về dịch vụ công và hiểu biết đƣợc tầm quan trọng của sự hài lòng khách hàng, tác giả đã sử dụng mô hình đo lƣờng chất lƣợng dịch vụ, thang đo SERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (1985, 1988) và kế thừa một số yếu tố đo lƣờng khác từ các nghiên cứu trƣớc đây về dịch vụ công và dịch vụ hải quan điện tử để làm tiền đề cho nghiên cứu của mình. Theo bài viết của “Parasuraman, Zeithaml and Berry, A Conceptual Model of Service Quality and Its Implications for Future Research, Journal of Marketing; Vol.49 (Fall 1985), nghiên cứu đã chỉ ra rằng chất lƣợng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã Luan van 6 sử dụng qua dịch vụ, đã đƣa ra mô hình 5 khoảng cách và 5 thành phần chất lƣợng dịch vụ, mô hình đo lƣờng chất lƣợng dịch vụ dựa trên chênh lệch giữa kỳ vọng và cảm nhận của khách hàng về chất lƣợng dịch vụ.
Theo nghiên cứu của Mohammed Ateeq Alanezi, Ahmad Kamil và Shuib Basri (2010) “A proposed instrument dimensions formeasuring e- government service quality” - Công cụ đo lƣờng CLDV của chính phủ điện tử. Nghiên cứu này đã dựa trên mô hình lý thuyết năm thành phần CLDV và thang đo SERVQUAL kết hợp với mô hình TAM (Technology Accepted Model - Mô hình chấp nhận công nghệ) để xây dựng mô hình đo lƣờng CLDV của chính phủ điện tử. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Lam (2011) về “Đánh giá sự hài lòng của doanh nghiệp đối với thủ tục HQĐT: nghiên cứu trường hợp Cục Hải quan Bình Dương”. Mô hình nghiên cứu với 5 yếu tố tác động ảnh hƣởng đến Sự hài lòng của doanh nghiệp gồm: (1)Hệ thống khai báo HQĐT, (2)Năng lực phục vụ của công chức Hải quan, (3)Mức độ an toàn, (4)Hiểu nhu cầu doanh nghiệp, (5)Cải tiến phƣơng thức quản lý.
Luan van 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ HÀI LÕNG CỦA KHÁCH HÀNG 1. DỊCH VỤ CÔNG VÀ DỊCH VỤ HẢI QUAN ĐIỆN TỬ 1. Dịch vụ công a. Khái niệm Dịch vụ công mới đƣợc sử dụng ở nƣớc ta trong thời gian gần đây, song có thể thấy khái niệm này xuất hiện ngày càng nhiều hơn trong các sách báo, các phƣơng tiện thông tin đại chúng.
Trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc cũng dề cập đến khái niệm này. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX dã nêu: “Xây dựng một nền hành chính nhà nƣớc dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bƣớc hiện đại hoá. Định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ theo hƣớng bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực trên phạm vi toàn quốc, cung cấp dịch vụ công”. Theo từ điển Ptiet Laousse của Pháp (1992) định nghĩa: “Dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung do cơ quan Nhà nƣớc hoặc tƣ nhân đảm nhiệm”.
Jean-Philippe Brouant và Jacque Ziller (1994) cho rằng: “Một dịch vụ công thƣờng đƣợc định nghĩa nhƣ một hoạt động do ngành hành chính đảm nhiệm để thỏa măn một nhu cầu về lợi ích chung”. Các tác giả này phân tích rằng, ban đầu chỉ có ngành hành chính đảm trách các dịch vụ công. Nhƣng các nhiệm vụ về lợi ích chung ngày càng nhiều đă dẫn tới việc một số tƣ nhân cũng tham gia vào việc cung ứng các dịch vụ này. Theo định nghĩa của Jean- Philippe Brouant và Jacque Ziller (1994), ngành hành chính đảm nhiệm việc cung ứng dịch vụ công.
Tuy nhiên, phạm trù "ngành hành chính" ở đây có thể dẫn đến sự suy luận rằng, sẽ chỉ có những cơ quan hành chính cung cấp các dịch vụ này. Trên thực tế, các tổ chức kinh tế, sự nghiệp… cũng là những đơn vị cung ứng dịch vụ công. Ở Việt Nam thì dịch vụ công có thể hiểu theo nghĩa Luan van 8 rộng và nghĩa hẹp nhƣ sau: - Theo nghĩa rộng: dịch vụ công là những hàng hóa, dịch vụ nhà nƣớc can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng. Theo đó, dịch vụ công là những hoạt động nhằm thực hiện chức năng vốn có của Chính phủ, bao gồm các hoạt động từ ban hành chính sách, pháp luật, tòa án,…cho đến những hoạt động y tế, giáo dục, giao thông công cộng.
- Theo nghĩa hẹp: dịch vụ công đƣợc hiểu là những hàng hóa, dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầu của các tổ chức, công dân mà chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng. Có thể thấy rằng, dù đƣợc tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau thì các quan niệm về dịch vụ công đều có tính chất chung là những hoạt động phục vụ lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân do nhà nƣớc trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền cho các cơ sở ngoài nhà nƣớc thực hiện. Nói cách khác, dịch vụ công đƣợc hiểu là những giao dịch trực tiếp về dịch vụ giữa Nhà nƣớc (hoặc các tổ chức đƣợc Nhà nƣớc ủy nhiệm) và công dân với tƣ cách là khách hàng. Một cách hiểu rộng hơn thì khi Nhà nƣớc đứng ra với tƣ cách là ngƣời bảo đảm cung cấp các dịch vụ công thì các dịch vụ đó đƣợc gọi là các dịch vụ công Đặc trƣng cơ bản của dịch vụ công: - Thứ nhất, đó là những hoạt động phục vụ cho lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân - Thứ hai, do Nhà nƣớc chịu trách nhiệm trƣớc xã hội (trực tiếp cung ứng hoặc uỷ nhiệm việc cung ứng).
Ngay cả khi Nhà nƣớc chuyển giao dịch vụ này cho tƣ nhân cung ứng thì Nhà nƣớc vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này, khắc phục các điểm khuyền khuyết của thị trƣờng. - Thứ ba, là các hoạt động có tính chất phục vụ trực tiếp, đáp ứng nhu Luan van 9 cầu, quyền lợi hay nghĩa vụ cụ thể và trực tiếp của các tổ chức và công dân. - Thứ tƣ, mục tiêu nhằm bảo đảm tính công bằng và tính hiệu quả trong cung ứng dịch vụ. Dịch vụ công trực tuyến Căn cứ khoản 4 điều 3 Nghị định 43/2011/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2011, quy định: “Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nƣớc đƣợc cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trƣờng mạng.” Dịch vụ công trực tuyến chia ra nhiều cấp độ nhƣ sau: Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1: là DVC bảo đảm cung cấp đầy đủ các thông tin về TTHC và các văn bản có liên quan quy định về TTHC đó Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2: là DVC trực tuyến mức độ 1 và cho phép ngƣời sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu.
Hồ sơ sau khi hoàn thiện đƣợc gửi trực tiếp hoặc qua đƣờng bƣu điện đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: là DVC trực tuyến mức độ 2 và cho phép ngƣời sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ đƣợc thực hiện trên môi trƣờng mạng. Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả đƣợc thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ.
Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: là DVC trực tuyến mức độ 3 và cho phép ngƣời sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) đƣợc thực hiện trực tuyến. Việc trả kết quả có thể đƣợc thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đƣờng bƣu điện đến ngƣời sử dụng. Từ ngày 01/03/2017, Tổng cục Hải quan vận hành chính thức hệ thống cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên phạm vi toàn quốc để tiếp nhận, xử lý Luan van 10 các thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan tại địa chỉ: http://pus.vn Hiện nay, Tổng cục Hải quan có 168 thủ tục hành chính, trong đó có 72 thủ tục hành chính đƣợc triển khai trực tuyến mức 4- tức là cho phép doanh nghiệp thực hiện qua mạng internet các thủ tục liên quan đến thông quan hàng hóa; nộp thuế, lệ phí; thủ tục đối với phƣơng tiện vận tải đƣờng biển. Dịch vụ hải quan điện tử Hải quan điện tử là một hệ thống, trong đó cơ quan hải quan áp dụng các phƣơng pháp, phƣơng tiện, trang thiết bị hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin để điều hành hoạt động của mình và cung cấp các dịch vụ cho ngƣời khai hải quan và các bên có liên quan khác trên môi trƣờng mạng.
Dịch vụ HQĐT là dịch vụ công trực tuyến bao gồm dịch vụ hành chính công và dịch vụ khác, do cơ quan hải quan cung cấp trên môi trƣờng mạng. Nói cách khác, dịch vụ HQĐT cho phép ngƣời dân và DN sử dụng dịch vụ hải quan thông qua việc nối mạng máy tính của mình với cơ quan hải quan. Dịch vụ HQĐT đƣợc chia thành 04 mức độ tuỳ theo mức độ cung cấp các thông tin cũng nhƣ các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ đƣợc thực hiện trên môi trƣờng mạng. Dịch vụ HQĐT có những đặc điểm riêng biệt sau đây: - Là một loại dịch vụ do cơ quan hải quan (cơ quan Nhà nƣớc) trực tiếp thực hiện với mục tiêu chính là phục vụ lợi ích cộng đồng DN và nhu cầu của tất cả công dân.
Lợi nhuận không phải là điều kiện tiên quyết trong hoạt động của dịch vụ HQĐT. - Việc trao đổi dịch vụ HQĐT không thông qua quan hệ thị trƣờng đầy đủ. Dịch vụ hải quan điện tử và dịch vụ hải quan truyền thống chủ yếu có sự khác biệt về các tiêu chí nhƣ: Thông tin khai báo; Hồ sơ hải quan; phƣơng Luan van 11 thức tiếp nhận khai báo và cách thức xử lý thông tin. Thủ tục hải quan điện tử Trên thực tế, không có khái niệm, định nghĩa thống nhất về TTHQĐT.
Hải quan các nƣớc trên thế giới, tùy theo quan điểm, đặc điểm, mức độ phát triển của quốc gia để tiến hành triển khai thực hiện TTHQĐT theo mô hình riêng của mình.