LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Tại Việt Nam, nhà ở đang là một vấn đề nan giải, nguyên nhân chủ yếu do tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và sự đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ. Sự tăng giá chóng mặt của nhà ở trong những năm vừa qua tạo ra trở ngại lớn cho việc ổn định nhà ở của các hộ gia đình có thu nhập thấp và các thế hệ trẻ. Bên cạnh đó, với sự phát triển nóng của thị trường bất động sản, rất nhiều doanh nghiệp chuyển ngành nghề kinh doanh sang lĩnh vực này cùng với hàng ngàn doanh nghiệp thành lập mới đã cho ra đời hàng triệu công trình nhà ở tại khắp các địa phương.
Với sự phát triển nhanh chóng như vậy, chất lượng nhà ở là một vấn đề cấp thiết khách hàng luôn quan tâm. Mặt khác, đứng trên khía cạnh doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, thông qua phản hồi của khách hàng sử dụng nhà ở, doanh nghiệp sẽ biết được giá trị thực tế sản phẩm của mình, lợi thế cạnh tranh với đối thủ hoặc biết được các công việc cần phải làm để nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Tuy nhiên, với việc tốc độ đô thị hóa và sự phát triển bùng nổ của thị trường bất động sản hiện nay dẫn tới việc đầu tư xây dựng các công trình nhà ở tràn lan, chất lượng không đồng đều ở mọi phân cấp nhà ở. Rất nhiều doanh nghiệp không đủ năng lực đứng ra đầu tư xây dựng nhưng thiếu kinh nghiệm, năng lục tài chính và quản lý dẫn tới chất lượng sản phẩm nhà ở không đảm bảo, các dịch vụ tiện ích đi kèm không có hoặc thiếu đồng bộ, môi trường sống, cảnh quan xung quanh, vệ sinh … không đảm bảo.
Điều này đòi hỏi phải thực hiện các nghiên cứu, đánh giá về chất lượng nhà, chất lượng sử dụng dịch vụ. Chính vì vậy, các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản cần phải xác định những nhân tố nào tác động đến sự hài lòng khách hàng và các khách hàng hiện tại có hài lòng về sản phẩm, dịch vụ của mình hay không? Việc nắm bắt những nhu cầu, nhận thức của khách hàng là cơ sở cho chiến lược hoạch định cải tiến chất lượng sản phẩm, dịch vụ phù hợp nhằm nâng cao mức độ hài lòng khách hàng, góp phần giúp các doanh nghiệp duy trì lượng khách hàng hiện tại và mở rộng thị phần 2 tìm kiếm khách hàng mới. Trong môi trường cạnht tranh khốc liệt hiện nay, khách hàng là nhân tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp. Sản phẩm của công ty bất động sản nào dành được mối quan tâm và sự tin tưởng của khách hàng thì công ty đó sẽ thắng lợi và phát triển.
Đặc biệt trong tình trạng dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến khó lường như giai đoạn hiện nay, thị trường bất động sản có dấu hiệu trầm lắng, chiến lượng kinh doanh hướng đến khách hàng đang trở thành chiến lược kinh doanh quan trọng hàng đầu của các công ty bất động sản. Làm thế nào để mang lại cho khách hàng sự hài lòng tốt nhất luôn là vấn đề mà các công ty bất động sản luôn cố gắng thực hiện với tất cả khả năng của mình. Vì vậy, nhgiên cứu về sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm của công ty bất động sản là công việc quan trọng phải thực hiện thường xuyên và liên tục để có thể đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị - là một trong những đơn vị đi đầu trong lĩnh vực đầu tư và kinh doanh bất động sản thuộc Bộ Xây dựng chưa có nhiều nghiên cứu chính thức, cụ thể về sự hài lòng khách hàng về sản phẩm nhà ở của mình.
Do đó, HUD cần phải nghiên cứu và tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng nhà ở, dịch vụ và thực hiện được vai trò tích cực trong việc thực hiện chiến lược nhà ở quốc gia đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt. Xuất phát từ sự cần thiết của vấn đề đặt ra, tác giả đã chọn đề tài “Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở của Tổng công ty Đầu tư Phát triển nhà và đô thị”. Ở nghiên cứu này, tác giả sẽ tìm ra các nhân tố tác động và mức độ tác động của các nhân tố đến sự hài lòng, từ đó đánh giá mức độ hài lòng chung của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở và đề xuất các giải pháp để HUD xem xét, cải tiến, thực hiện nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất cho Tổng công ty. Mục tiêu nghiên cứu - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở; - Phân tích và đánh giá sự độ hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà 3 ở của HUD.
- Đề xuất giải pháp để nâng cao sự độ hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở của HUD. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở của HUD. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về thời gian: + Đối với dữ liệu thứ cấp, tác giả thu thập các văn bản, tài liệu thực tế tại HUD trong giai đoạn 2017 – 2019. + Đối với dữ liệu sơ cấp: tác giả tiến hành phỏng vấn các chuyên gia và điều tra khảo sát khách hàng từ 23/4/2020 đến 20/7/2020 (thời gian này tình hình dịch bệnh Covid-19 tại Hà Nội và cả nước nói chung đã được kiểm soát và đã được UBND thành phố Hà Nội gỡ lệnh giãn cách xã hội).
- Phạm vi về không gian: Các dự án nhà ở, khu đô thị của HUD tại miền Bắc và miền Trung. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương: - Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở. - Chương 2: Thực trạng về sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở của HUD. - Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm nhà ở của HUD.
4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI SẢN PHẨM NHÀ Ở 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa, vai trò của nhà ở 1.1 Khái niệm về nhà ở Theo Luật nhà ở 2014, nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân. Có một số loại nhà ở như sau: - Nhà ở riêng lẻ là nhà ở được xây dựng trên thửa đất ở riêng biệt thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, bao gồm nhà biệt thự, nhà ở liền kề và nhà ở độc lập. - Nhà chung cư là nhà có từ 2 tầng trở lên, có nhiều căn hộ, có lối đi, cầu thang chung, có phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, bao gồm nhà chung cư được xây dựng với mục đích để ở và nhà chung cư được xây dựng có mục đích sử dụng hỗn hợp để ở và kinh doanh.
- Nhà ở thương mại là nhà ở được đầu tư xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua theo cơ chế thị trường. - Nhà ở công vụ là nhà ở được dùng để cho các đối tượng thuộc diện được ở nhà công vụ theo quy định của Luật này thuê trong thời gian đảm nhận chức vụ, công tác. - Nhà ở để phục vụ tái định cư là nhà ở để bố trí cho các hộ gia đình, cá nhân thuộc diện được tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở, bị giải tỏa nhà ở theo quy định của pháp luật. - Nhà ở xã hội là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định của Luật này.
Nhìn chung, có thể hiểu nhà ở là tài sản có giá trị, được xây dựng để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân. Như vậy, khi doanh nghiệp 5 đầu tư xây dựng các dự án nhà ở và bán lại cho các hộ gia đình, cá nhân để ở thì lúc này nhà ở trở thành một hàng hóa của hoạt động đầu tư kinh doanh. Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 03:2012/BXD về nguyên tắc phân loại, phân cấp công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật đô thị, nhà ở được phân loại như sau: 1) Nhà chung cư - Chung cư cao tầng; - Chung cư thấp tầng; - Chung cư mi ni; - Chung cư hỗn hợp (chức năng ở kết hợp với văn phòng và các dịch vụ công cộng khác); 2) Nhà ở riêng lẻ - Biệt thự: biệt thự đơn lập, biệt thự song lập, biệt thự cao cấp, biệt thự du lịch; - Nhà ở liên kế: nhà liên kế mặt phố (nhà phố), nhà liên kế có sân vườn; - Nhà ở nông thôn truyền thống; 1.2 Đặc điểm sản phẩm nhà ở Nhà ở là một loại hàng tiêu dùng sinh hoạt cơ bản nhưng có những đặc điểm khác với các loại hàng tiêu dùng sinh hoạt khác là: - Nhà ở không thể di dời được, nó gắn liền với đất, được xây dựng trên đất, điều này chỉ vị trí của nó được phân bố ở đâu. Vị trí nhà ở gắn liền với sự thuận tiện về mặt giao thông di chuyển tới nơi mong muốn cũng như là điều kiện môi trường sống, hạ tầng kỹ thuật, tiện nghi và khả năng sinh lời, bởi vậy vị trí của nhà đất có tính chất quan trọng và ảnh hưởng lớn nhất tới giá trị tài sản.
- Nhà ở là một tài sản có tính bền vững, thời gian sử dụng dài, hao mòn chậm. Điều này có nghĩa nhà ở là một sản phẩm đầu tư an toàn và lâu dài, có thể coi như của để dành, là tài sản thừa kế đối với nhiều người dân có thu nhập thấp và trung bình. - Nhà ở là tài sản có giá trị lớn so với thu nhập của đa số người dân. - Nhà ở rất phong phú và đa dạng cả về số lượng, chất lượng.
Điều này một 6 mặt là do nhu cầu sử dụng của mỗi người dân, do sự quy hoạch phát triển đô thị của chính phủ và sự khác nhau bởi khí hậu, địa hình, mức độ phát triển kinh tế giữa các vùng miền trên cả nước.