Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số đặc điểm giải phẫu của hệ thống ống tủy răng 1. Đặc điểm chung về giải phẫu của hệ thống ống tủy răng Tủy răng là một khối tổ chức liên kết mạch máu và thần kinh nằm trong một hốc ở giữa răng gọi là hốc tủy răng. Hình dạng của tủy răng nói chung tương tự như hình thể ngoài của răng.
Tủy gồm tủy buồng và tủy chân. Tủy buồng của răng nhiều chân được giới hạn bởi trần tủy, sàn tủy và các thành bên. Mỗi chân răng thường có một ống tủy. Tủy chân thông với tổ chức liên kết quanh chóp răng bởi lỗ chóp răng.1: Giải phẫu hệ thống ống tủy (Nguồn: Cohen’s pathways of the pulp, 2016 [19]) Sàn buồng tủy: là ranh giới giữa tủy buồng và tủy chân.
Các răng cối lớn có sàn buồng tuỷ điển hình, các răng cối nhỏ sàn buồng tuỷ thường không rõ, các răng một chân không có sàn buồng tuỷ. Trên mặt sàn buồng tủy có miệng của các ống tủy chính là đường vào của ống tuỷ. Khoảng cách giữa trần và sàn buồng tuỷ có thể thay đổi theo từng độ tuổi, có thể cách xa hoặc gần sát nhau. Khi tuổi tăng lên thì trần và sàn buồng tuỷ tiến gần lại với nhau.
4 Ống tủy chân răng: Bắt đầu từ sàn buồng tuỷ và kết thúc ở lỗ chóp răng. Ống tủy được thành 3 phần: 1/3 cổ, 1/3 giữa và 1/3 chóp. Theo Weine, hệ thống ống tủy trong mỗi chân răng được chia làm 4 dạng khác nhau [42]: - Dạng I: một ống tủy đi từ buồng tủy tới lỗ chóp răng, có một lỗ chóp. - Dạng II: hai ống tủy đi từ buồng tủy đến đoạn chóp răng thì hòa làm một, có một lỗ chóp.
- Dạng III: hai ống tủy đi từ buồng tủy đến lỗ chóp, có hai lỗ chóp. - Dạng IV: một ống tủy đi từ buồng tủy đến đoạn chóp răng thì chia thành hai nhánh riêng biệt, có hai lỗ chóp.2: Các dạng ống tủy theo Weine (Nguồn: Human Teeth: Key Skills and Clinical Illustrations, 2019 [42]) Ống tủy phụ và ống tủy bên: Mỗi chân răng thường có một ống tủy, song ngoài ống tủy chính ra ta còn có thể thấy nhiều ống tủy phụ, những nhánh phụ này có thể mở vào vùng chóp răng bởi các lỗ phụ. Lỗ chóp răng: Sự thắt lại ở chóp là mốc rất quan trọng trong nội nha, có thể sử dụng để xác định chiều dài làm việc của ống tủy. Một chân răng, thậm chí một ống tủy, có thể có nhiều lỗ chóp răng.
Giải phẫu ở điểm tận cùng chân răng Thông thường vị trí lỗ chóp không nằm ngay tại điểm tận cùng của chân răng. Ở những răng cửa trước, khoảng cách từ lỗ chóp tới điểm tận cùng của chân răng là 0,5mm đến 2mm. Ở những răng cối, khoảng cách này là 0,5mm đến 1mm. 45% những răng cửa giữa hàm trên có lỗ chóp nằm ngay tại điểm tận cùng của chân răng, 25% ở những răng cửa giữa hàm dưới và 30% ở những răng cối phía sau [1].
Điều này cho thấy cần phải đo chiều dài chân răng và kết thúc chiều dài làm việc trong điều trị nội nha cách điểm tận cùng của chân răng trên phim tia X khoảng từ 0,5mm đến 1mm, nhất là trong trường hợp răng có chân cong ở vùng chóp. Lỗ chóp thường rộng theo chiều ngoài trong hơn là gần xa và có thể có hình oval, tròn, hình bán nguyệt hoặc chóp nhọn. Lỗ chóp được bao bọc bởi lớp xê măng chân răng và lớp xê măng này dày theo tuổi từ 0,5mm đến 0,8mm. Nếu cố đưa trâm đến điểm tận cùng của chân răng trên phim tia X thì coi như đã đưa dụng cú quá chóp, sẽ trám dư và có nguy cơ gây đau sau điều trị [1].3: Giải phẫu điểm tận cùng chân răng (Nguồn: Biomedical engineering online, 2010 [41]) 6 1.
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng răng viêm quanh chóp mạn 1. Đặc điểm lâm sàng Triệu chứng lâm sàng thường thầm lặng và nghèo nàn, dễ bỏ qua hay được phát hiện tình cờ khi chụp X quang. Răng đổi màu, màu xám đục ở ngà răng ánh qua lớp men. Vùng đáy hành lang tương ứng với chóp răng có thể có lỗ dò.
Gõ răng không đau hoặc đau nhẹ ở vùng chóp. Răng có thể lung lay khi tiêu xương ổ răng nhiều [3]. Đặc điểm cận lâm sàng Đặc điểm mô bệnh học: tình trạng viêm mạn tính vùng quanh chóp có thể kích thích sự hình thành nang hay u hạt: - U hạt là hậu quả của quá trình tủy hoại tử có sự xâm nhập của vi khuẩn lan ra vùng chóp răng. U hạt đơn giản là phản ứng viêm quá sản của mô liên kết vùng quanh chóp răng.
Vi thể đây là khối tổ chức viêm, chứa các tế bào viêm mạn tính như lympho, tương bào, đại thực bào,. U hạt biểu mô là sự phát triển u hạt của những tế bào biểu mô như mảnh vụn biểu mô Malassez trong dây chằng nha chu, biểu mô lát tầng từ di tích của bao Hertwig [14]. - Nang chân răng là nang do viêm, phát triển từ u hạt biểu mô. Nang thường có dạng hình cầu hay hình trứng, được lót bởi biểu mô lát tầng không sừng hóa, lòng nang chứa dịch tiết và mảnh tế bào, thường có các tinh thể cholesterol., nang chân răng gồm 2 loại: nang chân răng thực sự và nang túi chân răng.
Nang chân răng thực sự cách biệt với lỗ chóp răng bởi lớp vỏ liên kết xơ dày. Còn ở nang túi chân răng lớp biểu mô lót lòng nang liên tiếp với lỗ chóp răng tạo nên lỗ thông giữa ống tủy răng và lòng nang. Loại nang túi chân răng này được cho là sẽ lành thương sau khi răng nguyên nhân được điều trị nội nha tốt, Trong khi đó, nang chân răng thực sự sẽ tồn tại sau điều trị nội nha, chỉ hết sau khi cắt bỏ nang cùng vỏ liên kết xơ [35]. 7 Đặc điểm X quang: - Rất có giá trị để chẩn đoán VQC mạn tính.
Có vùng thấu quang quanh chóp, hình dạng có thể là hình tròn, bầu dục, hình liềm hay hình dạng khác, giới hạn rõ hay không rõ. Tổn thương có thể ở trung tâm chóp răng hoặc kết hợp với 1-2 mặt bên chân răng tùy trường hợp. - Nhiều nghiên cứu cho thấy tổn thương quanh chóp răng là u hạt thường có hình ảnh thấu quang ranh giới không rõ, khoảng dây chằng nha chu dày, phiến cứng gián đoạn. Vị trí u hạt có thể ở giữa chóp răng, mặt bên chóp răng hoặc chạy dọc theo chân răng.
Hình dạng điển hình của u hạt là hình liềm. Đường kính tổn thương thường nhỏ hơn 10mm. Tổn thương có ranh giới rõ, mật độ thấu quang đồng nhất, dạng hình tròn hay bầu dục thì tỷ lệ là nang cao hơn nhiều so với u hạt [15]. Phương pháp điều trị nội nha 1.
Nguyên tắc điều trị Nguyên tắc điều trị cơ bản bao gồm 3 yếu tố: - Vô khuẩn trong các bước điều trị nội nha. - Chuẩn bị cho ống tủy thuận lợi cho việc trám bít kín hệ thống ống tủy và tuân thủ nguyên tắc cơ sinh học trong làm sạch và tạo hình ống tủy. - Trám bít kín hệ thống ống tủy đến ranh giới xê măng-ngà của chóp răng theo 3 chiều trong không gian. Một số cách xác định chiều dài ống tủy răng Xác định chiều dài của ống tuỷ bằng phim X quang cận chóp: đặt trâm vào trong ống tủy với chiều dài đã định trước trên phim chẩn đoán.
Tiến hành chụp phim. Khi trâm đi quá hoặc thiếu chiều dài có thể dùng công thức: 𝐿2 𝑥 𝐿𝑎 𝐿1 = 𝐿𝑏 8 - L1: Chiều dài thực sự của răng (mm). - La: Chiều dài của răng đo trên phim X quang (mm). - L2: Chiều dài thực sự của dụng cụ trên răng (mm).
- Lb: Chiều dài của dụng cụ đo trên phim X quang (mm). Máy định vị chóp: nên đo nhiều lần nếu máy báo cùng một giá trị thì đáng tin cậy, sau đó để nguyên trâm và chụp phim kiểm tra lại. Làm sạch và tạo hình hệ thống ống tuỷ răng 1. Làm sạch hệ thống ống tủy răng Loại bỏ những yếu tố cặn bã hữu cơ, vi khuẩn, sản phẩm chuyển hóa của vi khuẩn, sợi tạo keo, mùn ngà, sợi tủy, tạo ra một khoang vô khuẩn để tiếp nhận chất trám bít.
Các dung dịch làm sạch hệ thống ống tủy: - Oxy già: hiện tượng giải phóng nguyên tử oxy từ dung dịch oxy già làm tan rã hết các mảnh mô hoại tử, đặc biệt là các tế bào mủ từ mô tủy, đưa các thành phần này ra khỏi hệ thống ống tủy. - NaOCl: là dung dịch bơm rửa được sử dụng rộng rãi nhất, có tác dụng diệt khuẩn, hòa tan mô tủy và collagen. - EDTA: có tác dụng hòa tan lấy đi mô canxi, mùn ngà sót lại trong ống tủy, làm trơn thành ống tủy. - Các chất làm trơn: có tác dụng làm trơn dụng cụ trượt trong lòng ống tủy, rất hiệu quả khi dùng phối hợp với NaOCl.
- CHX: được sử dụng ở dạng dung dịch 2%. Nó được nhiều nghiên cứu chứng minh là hiệu quả hơn trong việc tiêu diệt Enterococcus faecalis và Candida albicans so với canxi hydroxit và NaOCl. Ngày nay, các dung dịch bơm rửa thường được sử dụng cùng với các dụng cụ rung siêu âm/sóng âm để tăng hiệu quả làm sạch ống tủy, nâng cao tỷ lệ thành công trong việc điều trị nội nha [11], [27], [30]. Tạo hình hệ thống ống tủy răng Nguyên tắc cơ học: Năm 1974, Schilder đã nêu ra 5 nguyên tắc cơ học cho việc tạo hình hệ thống ống tủy theo 3 chiều trong không gian [4]: - Tạo hình ống tủy dạng thuôn liên tục về phía chóp răng.
- Đường kính nhỏ nhất tại lỗ chóp răng có mốc tham chiếu là điểm cách chóp răng trên X quang 0,5 – 1 mm. Nguyên tắc này không được áp dụng trong trường hợp nội tiêu chóp răng. - Tạo được dạng thuôn với thành khoang tủy trơn nhẵn cho dòng chảy của gutta percha chịu tác động của lực kháng trở nhỏ nhất. Dạng thuôn liên tục của khoang tủy phải được tạo hình theo đường cong tự nhiên của ống tủy.
- Giữ đúng vị trí nguyên thủy của lỗ chóp răng. - Giữ đúng kích thước nguyên thủy của lỗ chóp răng. Nguyên tắc sinh học: ngoài 5 nguyên tắc cơ học trên, Schilder còn đưa ra 5 nguyên tắc sinh học sau [4]: - Phần tác động của dụng cụ nội tủy chỉ được giới hạn trong lòng hệ thống ống tủy, tránh gây tổn thương mô quanh chóp răng. - Tránh đẩy các yếu tố như vi khuẩn, độc tố vi khuẩn, mô tủy hoại tử và mùn ngà xuống mô quanh chóp răng.