Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu và phân loại răng khôn hàm dưới 1. Giải phẫu răng khôn hàm dưới Răng khôn hay răng cối lớn thứ ba trên cung hàm, bắt đầu mọc và hoàn chỉnh ở người từ 18 đến 25 tuổi. Quá trình hình thành phát triển răng khôn hàm dưới qua các giai đoạn gồm (1) hình thành thân răng (từ 12-15 tuổi), (2) giai đoạn hình thành chân răng (từ 18-25 tuổi).
Trong quá trình phát triển, cành đứng xương hàm dưới bị đẩy lùi ra phía xa, mầm răng cũng bị xoay chuyển theo, giai đoạn này có nhiều yếu tố tác động đến răng khôn hàm dưới, làm cho răng có thể không mọc lên được bình thường mà lệch hay ngầm [35]. Giải phẫu răng khôn hàm dưới 4 Một số nguyên nhân gây nên răng khôn hàm dưới mọc lệch: - Tại chỗ: + Mầm răng không đủ các yếu tố để mọc: không có cơ quan tạo men, không có dây chằng Sharpey, do giai đoạn hình thành túi răng không đầy đủ, tủy răng thiểu sản nuôi dưỡng kém, do răng sữa bị viêm, áp xe sớm ảnh hưởng mầm răng. + Thiếu chỗ để mọc. + Do thân răng không vượt qua được niêm mạc, xương ổ răng.
+ Do lợi: Lợi ở phía trên quá dày, sừng hóa, cản trở quá trình mọc răng - Do sự phát triển của hệ thống sọ mặt: do kém hoặc rối loạn phát triển sọ mặt, đặc biệt là xương hàm dưới. - Nguyên nhân toàn thân: do còi xương, suy dinh dưỡng, do hormone nội tiết rối loạn, thiếu máu… 1. Phân loại răng khôn hàm dưới Phân loại răng khôn hàm dưới nhằm mục đích chẩn đoán mức độ khó của quá trình nhổ răng, từ đó có thể tiên lượng và lập kế hoạch điều trị bệnh nhân tốt hơn. Phân loại Pell – Gregory và Winter năm 1982 dựa trên độ nghiêng của trục răng và vị trí răng khôn so với mặt phẳng nhai răng 7 và bờ trước cành đứng xương hàm dưới.
Phân loại này cũng được các nhà lâm sàng ứng dụng rộng rãi [6], [27], [34]. - Tương quan với cành đứng xương hàm dưới Gọi a: khoảng cách từ mặt xa răng 7 đến bờ trước cành đứng xương hàm dưới. Gọi b: chiều dài gần xa thân răng khôn +Loại I: a > b, phía xa răng 7 có đủ khoảng cho phép răng khôn có thể mọc lên hoàn toàn nếu hướng mọc thích hợp. +Loại II: a < b, khoảng cách giữa răng 7 và cành đứng quá nhỏ không cho phép răng khôn mọc hoàn toàn.
5 +Loại III: a rất nhỏ hoặc bằng 0, phần lớn toàn bộ thân răng khôn nằm hoàn toàn trong cành đứng Hình 1. Tương quan với cành đứng xương hàm dưới ( Nguồn: Mukul N. Padhye [26]) - Độ sâu so với mặt nhai răng 7 Có 3 vị trí để đánh giá độ sâu của răng khôn + A: điểm cao nhất của răng khôn nằm ngang hoặc cao hơn mặt nhai răng 7 + B: điểm cao nhất của răng khôn nằm ở khoảng giữa mặt nhai và cổ răng 7 + C: điểm cao nhất của răng khôn nằm thấp hơn cổ răng 7 6 Vị trí A Vị trí B Vị trí C Hình 1. Độ sâu so với mặt nhai răng số 7 ( Nguồn: Phan Thành Tường (2007), “Nghiên cứu lâm sàng, X quang và kết quả phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới lệch”) Bảng 1.
Đánh giá độ khó nhổ theo Roy I năm 2015 [28] A. Bảng Pederson Score 1. Góc nghiêng của răng (trục răng khôn) Nghiêng gần 1 Ngang 2 Thẳng 3 Nghiêng xa 4 2. Độ sâu răng khôn so với răng 7 Vị trí A 1 Vị trí B 2 Vị trí C 3 3.
Tương quan với cành đứng Loại I 1 Loại II 2 Loại III 3 B. Độ sâu điểm đặt nạy 0-3 mm ( hơi khó) 1 7 4-6 mm ( khó trung bình) 2 > 6 mm ( rất khó) 3 C. Độ rộng của chân răng khôn Ốm (A>= B) 1 Hình củ hành (B>A) 2 Dày (đối với răng nhiều chân B>A, B> độ dày của tất cả các 3 chân cộng lại) (D) Độ cong của chân răng khôn 1 chân thẳng 2 tất cả chân đều cong về phía xa 3 chân xa cong về phía xa 4 các chân cong về phía nhau 5 chân gần cong về phía xa 8 6 chân xa cong về phía gần 7 chân gần cong về phía gần 8 cả hai chân đều cong về phía gần 9 cả hai chân cong xa nhau Bảng 1.2 Đánh giá độ khó nhổ theo Roy I, năm 2015 Chỉ số Q1 Q2 Q3 Chỉ số Pederson 4 5 6 Chỉ số mới 8 10 13 Thời gian nhổ 15.5 22 32 (phút) < Q1 Dễ nhổ Q1-Q3 Khó nhổ trung bình >Q3 Khó nhổ 1. Đặc điểm lâm sàng và X quang 1.
Các biến chứng răng khôn hàm dưới - Đau: Có thể do răng ngầm chèn ép vào răng 7, gây đau lan đến vùng tai, vùng thái dương, đau nhiều về ban đêm gây mất ngủ, xáo trộn sinh hoạt bình thường và ảnh hưởng đến sức khỏe toàn thân. - Nhiễm khuẩn: Do vi khuẩn tập trung trong khoang giữa túi quanh thân răng và răng, biểu hiện trong miệng bằng sưng nướu phủ quanh thân răng khôn, quá 9 trình nhiễm khuẩn có thể lan rộng gây sưng hàm và tạo thành những ổ mủ trong miệng hoặc ngoài mặt, ở mức độ nhẹ có thể là viêm nướu giữa răng khôn và răng kế cận, nặng có thể gây viêm mô tế bào. - Khít hàm: Do viêm vùng cơ cắn nên bệnh nhân không há miệng được hay há bị hạn chế gây cản trở chức năng ảnh hưởng đến ăn uống và tâm lý, thường đi kèm với biến chứng nhiễm khuẩn. - Sâu mặt xa răng 7: Do vắt thức ăn và khó chải răng nên khi răng khôn hàm dưới mọc lệch dễ gây sâu răng 7, có trường hợp sâu vỡ lớn răng 7, trong quá trình nhổ răng khôn, do lực bẩy mạnh có thể làm gãy vỡ luôn cả răng 7.
- Tiêu xương mặt xa răng số 7: Răng ngầm trong xương có thể làm tiêu chân răng số 7 kế bên, có thể làm răng số 7 lung lay.4: Tiêu xương mặt xa răng 7 trên phim X quang 1. Chỉ định nhổ răng khôn hàm dưới Chỉ định cho nhổ răng khôn hàm dưới được thực hiện dựa trên chỉ định của Steed MB (2014) [32]. Tác giả chia chỉ định nhổ răng khôn theo 4 nhóm một cách cụ thể như sau: 10 - Nhóm A: có sự hiện diện của triệu chứng và bệnh lý + Viêm quanh thân răng + Sâu răng khôn + Nhiễm khuẩn - Nhóm B: có triệu chứng nhưng không có bệnh lý Răng khôn hàm dưới loại B ít gặp hơn răng khôn các loại khác, và việc xếp vào nhóm này là rất khó. Trường hợp cụ thể trên lâm sàng bao gồm: đau âm ỉ vùng góc hàm phía sau do răng khôn đang chuẩn bị mọc lên ở một cung hàm có đủ khoảng trống cho răng khôn mọc đúng vị trí, có thể thực hiện đầy đủ chức năng.
Một số các răng khôn khác cũng được phân vào nhóm này là những răng ở vùng góc hàm gây cơn đau chuyển vị lên cơ mặt hoặc đau loạn cảm (không điển hình). - Nhóm C: không có triệu chứng nhưng có bệnh lý + Viêm nha chu. + Nang liên quan đến răng. - Nhóm D: không có triệu chứng và bệnh lý + Nhổ răng không có chức năng ăn nhai ( không có răng đối và mọc trồi).
+ Nhổ theo yêu cầu phục hình. + Nhổ theo yêu cầu chỉnh hình. + Nhổ theo yêu cầu phẫu thuật hàm mặt. X quang Chụp phim Panorama (phim toàn cảnh) để xác định mức độ mọc lệch của răng khôn, định hướng độ khó khi nhổ.5: Khảo sát răng khôn trên phim Panorama 1.
Các phương pháp nhổ răng khôn Tùy vào 4 mức độ theo phân loại của Campbell et al. (1998) [15] mà có các phương pháp can thiệp khác nhau. Mức độ 1: Nhổ răng thông thường, không cần hỗ trợ bằng tay khoan hay cắt. Mức độ 2: Nhổ răng có cắt xương hay chia cắt răng.
12 Mức độ 3: Nhổ răng có cắt xương và răng. ( Nguồn: Phan Thành Tường (2007), “Nghiên cứu lâm sàng, X quang và kết quả phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới lệch”) Mức độ 4: Nhổ răng khó, có cắt răng và xương kết hợp nhiều thủ thuật. Cấu tạo của máy Hình 1.6 Máy Piezotome - Tay cầm để phẫu thuật với màn hình cảm ứng, nhờ công nghệ phát sóng siêu âm giúp điều khiển chuyển động của các mũi cắt một cách chính xác. 13 - Piezotome được trang bị thiết bị điều khiển bằng chân, có thể kích hoạt tăng dần theo từng bậc năng lượng, giúp rút ngắn thời gian và mức năng lượng sóng siêu âm được điều chỉnh chính xác trong quá trình phẫu thuật nhổ răng khôn.
- Hệ thống bơm phục vụ cho việc phun nước làm mát, làm cho các mũi cắt của Piezotome không rơi vào tình trạng quá nóng, không gây hoại tử tế bào xương. Cơ chế hoạt động của máy Piezotome - Sự biến điện cho phép tần số của các bước sóng siêu âm thay đổi thuận tiện, mang đến sự êm dịu trong suốt quá trình phẫu thuật, giúp tái tạo tế bào một cách tối ưu, giảm đau hiệu quả sau khi nhổ răng, hỗ trợ quá trình lành thương nhanh chóng. - Với tần số được chọn lọc, các bác sĩ sẽ đưa đầu máy siêu âm đi vòng quanh chân răng, lúc này các dây chằng nha chu sẽ tự động đứt ra. Chân răng tách khỏi xương ổ răng.
Bác sĩ tiến hành nhổ răng với lực nhẹ nhàng. - Các thao tác không gây xâm lấn đến nướu nên bệnh nhân giảm thiểu đau đớn so với phương pháp truyền thống [14].7 Bộ 6 mũi cắt xương cơ bản trong máy Piezotome 14 1. Ưu điểm của nhổ răng bằng máy Piezotome - Không đau: Công nghệ Piezotome với tác động của sóng siêu âm bao quanh vùng răng cần nhổ, bóc tách mô nướu khỏi chân răng một cách nhẹ nhàng nhất, và việc loại bỏ chân răng ra khỏi mô nướu hết sức đơn giản. Đồng thời với kỹ thuật này cũng không xảy ra hiện tượng sót chân răng.
- An toàn: Công nghệ nhổ răng siêu âm Piezotome hầu như không tác động vào dây thần kinh, mạch máu quanh vùng chân răng, mà xác định chính xác vị trí răng cần nhổ, định hình được cấu trúc xương hàm để giúp cho việc nhổ răng an toàn. - Rút ngắn thời gian nhổ răng: Nhờ ứng dụng năng lượng sóng siêu âm để cô lập chân răng và nướu giúp việc nhổ bỏ chân răng diễn ra dễ dàng hơn. Toàn bộ quá trình nhổ răng diễn ra chỉ từ 15 – 30 phút. - Nhanh lành thương: Với tác động khóa mạch máu nhanh chóng, giúp cho những tổn thương tức thời hay sau đó từ việc nhổ răng được hồi phục tối ưu.