Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu sinh lý và tổ chức vùng quanh răng 1. Giải phẫu răng trước hàm trên 1. Răng cửa giữa hàm trên Mặt ngoài Mặt trong Mặt ngoài Mặt trong Mặt cắn Mặt cắn Mặt gần Mặt xa Mặt gần Mặt xa Hình 1.
1: Giải phẫu răng cửa giữa hàm trên (Nguồn: Textbook of Dental Anatomy and Oral Physiology Including Occlusion and Forensic Odontology, 2013 [32]) Răng cửa giữa hàm trên có dạng hình thang, phía đáy lớn ở phía cắn. Chiều cao thân răng là 10,5 mm, chiều gần xa thân răng là 8,5 mm. Nhìn từ phía ngoài, bờ cắn răng cửa giữa có 3 nụ tương ứng 3 thuỳ phân cách bằng 2 rãnh. Thuỳ gần và thuỳ xa xấp xỉ nhau và lớn hơn thuỳ giữa.
Các rãnh thuỳ rất cạn, mờ dần và mất hẳn ở phần ba cổ răng. Điểm lồi tối đa gần ở phần ba cắn, điểm lồi tối đa xa ở phần ba cắn nơi phần ba giữa. Góc cắn gần khá vuông, góc 4 cắn xa tròn hơn. Đường viền gần khá thẳng, đường viền xa hơi cong.
Đường cổ răng là một cung tròn đều đặn lồi về phía chóp. Mặt ngoài lồi nhiều ở phần ba cổ răng, phần ba giữa và phần ba cắn khá phẳng, có 3 thùy. Răng cửa bên hàm trên Mặt ngoài Mặt trong Mặt ngoài Mặt trong Mặt cắn Mặt cắn Mặt gần Mặt xa Mặt gần Mặt xa Hình 1. 2: Giải phẫu răng cửa bên hàm trên (Nguồn: Textbook of Dental Anatomy and Oral Physiology Including Occlusion and Forensic Odontology, 2013 [32]) Răng cửa bên hàm trên có dạng hình thang, phía đáy lớn ở phía cắn nhưng hình dạng thường tròn hơn so với răng cửa giữa.
Thân răng có chiều cao khoảng 9 mm, chiều gần xa khoảng 6,5 mm. Nhìn từ phía ngoài, răng cửa bên nhỏ hơn răng cửa giữa theo chiều gần xa và chiều nhai nướu. Bờ cắn cong lồi nhẹ, chỗ lồi nhất thiên về phía gần, nối với đường viền gần và đường viền xa, tạo thành các góc gần khá tròn và góc xa tròn rõ. Đường viền gần cong, đỉnh của đường cong ở phần ba nối phần ba giữa, trùng với điểm lồi tối đa gần.
Đường cổ răng cong đều đặn nhưng hẹp hơn so với răng cửa giữa. Điểm lồi tối 5 đa gần nằm ở phần ba cắn nối phần ba giữa. Điểm lồi tối đa xa nằm ở phần ba giữa. Mặt ngoài có hai rãnh dọc, chia mặt này thành ba thuỳ.
Răng nanh hàm trên Răng nanh hàm trên có chiều cao thân răng là 10 mm, chiều gần xa thân răng là 7,5 mm. Nhìn từ phía ngoài, đường viền gần cong lồi, điểm tiếp giáp gần nằm ở phần ba cắn nối phần ba giữa. Đường viền xa cong lồi nhiều hơn, điểm tiếp giáp xa ở phần ba giữa hơi thiên về phía cắn. Cả đường viền gần và xa hội tụ mạnh về phía cổ răng để tạo đường cổ răng cong lồi đều đặn về phía chóp.
Bờ cắn có một múi với đỉnh nhọn đặc trưng, đỉnh múi thiên về phía gần. Góc cắn gần rõ hơn, góc cắn xa tròn hơn. Mặt ngoài hình thành một gờ rõ chạy từ đỉnh múi về phía cổ răng. Ở hai bên gờ có hình hai lõm dọc, giới hạn ba thuỳ mặt ngoài.
Thuỳ gần nhỏ hơn thuỳ xa, thuỳ giữa lớn nhất. Mặt ngoài Mặt trong Mặt ngoài Mặt trong Mặt cắn Mặt cắn Mặt xa Mặt gần Mặt gần Mặt xa Hình 1. 3: Giải phẫu răng nanh hàm trên (Nguồn: Textbook of Dental Anatomy and Oral Physiology Including Occlusion and Forensic Odontology, 2013 [32]) 6 1. Giải phẫu mô nha chu Mô nha chu là tập hợp những cấu trúc bao quanh răng gồm: mô nướu, dây chằng nha chu, xê măng chân răng và xương ổ răng.
Nướu là vùng đặc biệt của niêm mạc miệng được giới hạn ở phía cổ răng bởi bờ nướu và phía chóp răng bởi niêm mạc miệng. Ở phía ngoài của cả hai hàm và ở phía trong của xương hàm dưới, nướu liên tục với niêm mạc xương ổ răng bởi đường tiếp nối niêm mạc – nướu. Ở phía khẩu cái, nướu liên tục với niêm mạc khẩu cái cứng. Về mặt giải phẫu, dây chằng nha chu là mô liên kết có cấu trúc đặc biệt, nối liền xê măng với xương ổ răng.
Cấu trúc mô học của dây chằng nha chu bao gồm các tế bào, mô liên kết, chất căn bản, mạch máu và thần kinh. Khe nướu Nướu viền Nướu rời Rãnh nướu rời Xê măng Dây chằng Nướu dính nha chu Xương ổ Ranh giới nướu – răng niêm mạc Niêm mạc di động Hình 1. 4: Giải phẫu mô nha chu (Nguồn: Bệnh học quanh răng, 2013 [4]) Xương ổ răng: là một bộ phận của xương hàm gồm hai bản xương, bản ngoài và bản trong và xương xốp nằm giữa hai bản xương trên. Tình trạng sâu răng và chấn thương răng 1.
Sâu răng Theo nghiên cứu của Trần Thị Phương Đan và cộng sự (2015) về tình hình sâu răng ở người lớn với tỷ lệ và chỉ số sâu mất trám lần lượt theo từng nhóm tuổi như sau: 93% và 7,67% (35 - 44 tuổi); 98,1% và 14,67 (65 - 74 tuổi) [3]. Nghiên cứu của Huỳnh Thúy Phương và cộng sự (2015) về tình trạng bệnh răng miệng và nhu cầu điều trị của sinh viên chính quy năm nhất trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm học 2014 - 2015” cho thấy trong 1493 sinh viên tham gia cho kết quả tỷ lệ sâu răng là 53,9%, trong đó nữ chiếm 56,1% cao hơn nam là 50,9%. Có 51,8% sinh viên năm nhất có nhu cầu điều trị sâu răng [13]. Chấn thương răng Theo nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Hạnh và cộng sự ghi nhận có 314 ca chấn thương răng, chiếm 9,9%.
Nam giới có tỷ lệ chiếm 62,8%, nữ giới là 37,2%. Độ tuổi gặp cao nhất từ 18 - 55 tuổi với 58,3%. Răng chấn thương hay gặp nhất là răng cửa hàm trên, chiếm 77,3% trong đó chủ yếu là hai răng cửa giữa chiếm 72,4%. Nguyên nhân chấn thương răng thường gặp nhất là tai nạn xe máy chiếm 47,1% và tai nạn sinh hoạt chiếm 36,6% [7].
Đặc điểm lâm sàng và X quang răng vỡ lớn 1. Đặc điểm lâm sàng, X quang sâu răng - Triệu chứng cơ năng: bệnh nhân không ê buốt hoặc chỉ ê buốt khi có kích thích, ngừng kích thích thì hết ê buốt. Trường hợp xoang sâu đã ảnh hưởng tủy răng bệnh nhân sẽ có cảm giác đau nhức tùy mức độ. - Đặc điểm lâm sàng: nhìn, thăm khám bằng thám trâm.
Nhìn: lỗ sâu đổi màu, màu sắc thay đổi tùy giai đoạn tiến triển của tổn thương. Khám bằng thám trâm thấy đáy lỗ sâu gồ ghề, cứng hoặc có nhiều ngà mềm, ngà mủn, đôi khi chỉ thấy được dấu hiệu mắc thám trâm. Chỉ dùng thám trâm khi thực sự có lỗ sâu và lỗ sâu không liên quan đến tủy. 8 Sự khác biệt giữa sâu ngà nông và sâu ngà sâu là chiều sâu của lỗ sâu.
Nếu tổn thương sâu dưới 2mm là sâu ngà nông. Nếu tổn thương có chiều sâu từ 2mm trở lên chưa lộ tuỷ là sâu ngà sâu. 5: Đặc điểm lâm sàng sâu răng (Nguồn: Dental Caries: The Disease and its Clinical Management, 2008 [23]) - X quang: thường dùng phim quanh chóp hoặc phim cánh cắn. Trên phim các dấu hiệu thấu quang ở mặt bên hoặc mặt nhai chỉ có thể cho phép chẩn đoán là có sự mất khoáng chứ không chẩn đoán được lớp bề mặt đã bị phá hủy và sự hình thành lỗ sâu, trừ khi tổn thương phá hủy rộng.
6: Đặc điểm X quang sâu răng (Nguồn: Radiology for the Dental Professional, 2010 [27]) 1. Đặc điểm lâm sàng, X quang chấn thương răng Chấn thương răng là những thương tổn xảy ra đối với mô cứng của răng, ảnh hưởng đến chức năng và thẩm mỹ. 9 Gãy men: chỉ ảnh hưởng đến men răng, không có triệu chứng đau hay khó chịu. Khi quan sát vết gãy chỉ thấy toàn màu trắng, nếu có xuất hiện các đường chuyển màu vàng hay đỏ là vết gãy đã ảnh hưởng đến ngà hay tủy.
Gãy men – ngà nhưng chưa ảnh hưởng tủy: nặng hơn gãy men đơn thuần nhưng chưa có triệu chứng của tủy. Gãy men – ngà và ảnh hưởng tủy: có các dấu hiệu gồm đau, khó chịu, nhạy cảm nóng lạnh,. X quang được sử dụng là phim quanh chóp và phim mặt nhai Hình 1. 7: Đặc điểm lâm sàng và X quang chấn thương răng (Nguồn: Restorative Dentistry, 2011 [20]) 1.
Các phương pháp điều trị phục hình răng vỡ lớn 1. Phương pháp phục hồi bằng Composite trực tiếp Chất trám Composite được dùng để liên kết và được đặt trực tiếp vào phần mô răng còn lại nhằm bảo tồn cấu trúc răng. Quá trình thực hiện trực tiếp trên lâm sàng, trong một lần hẹn, tốn ít thời gian và chi phí. Theo Coelho (2015) nghiên cứu lâm sàng hồi cứu đánh giá hiệu quả của việc sử dụng Composite tái tạo trực tiếp ở răng cửa thuộc nhóm tủy còn sống và nhóm đã nội nha.
Tổng cộng có 196 đơn vị trên 86 bệnh nhân, thất bại 39/196 10 đơn vị, có 83,2% miếng trám ở răng cửa giữa hàm trên. Tuổi thọ trung bình của miếng trám Composite là 3,5 năm chiếm tỷ lệ 80,1%. Tỷ lệ thất bại hàng năm đối với răng tủy còn sống là 4,9% và 9,8% đối với răng đã qua nội nha. Răng nội nha có nguy cơ thất bại cao hơn theo thời gian so với răng còn tủy sống, nguyên nhân chính đưa đến sự thất bại là vỡ miếng trám.
Việc sử dụng Composite cho thấy đạt kết quả tốt trong hồi phục thẩm mỹ hiện nay, tuy nhiên đối với răng tủy sống thì hiệu quả cao hơn [21]. (2017) cho thấy tỷ lệ thất bại hằng năm của mặt dán Composite trực tiếp lên đến 4,1% và tỷ lệ tồn tại thấp với 53%, tùy thuộc vào vị trí và kích thước cần phục hồi. Thất bại của phục hồi do nhiều yếu tố như vật liệu sử dụng, tình trạng sâu thứ phát, nguyên nhân chủ yếu là do gãy vỡ miếng trám [42]. 8: Phục hồi Composite trực tiếp (Nguồn: Restorative Dentistry, 2011 [20]) 1.
Phương pháp làm mặt dán bằng Composite (Componeer) Hình 1. 9: Mặt dán Composite (Nguồn: Clinical Experience with a System of Direct Componeer (Coltene/Whaledent, Switzerland) Composite Veneers. Work Difficulties and Ways of Overcoming Them, 2014 [18]) 11 Đây là phương pháp phục hồi bằng cách sử dụng những mặt dán Composite có khuôn mẫu sẵn. Mặt dán Composite có cách sửa soạn tương đối khác so với mặt dán sứ, kém thẩm mỹ hơn, đơn giản hơn về độ dày sửa soạn và vật liệu gắn.
Phương pháp này thường sử dụng phục hồi răng tức thì.