ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một quốc gia có hệ thực vật phong phú, đặc biệt là nơi trồng và khai thác nhiều các loài thực vật có tác dụng chữa bệnh. Tiềm năng nghiên cứu và sử dụng dược liệu cổ truyền để chữa bệnh đang được quan tâm trong những năm gần đây. Phổ biến nhất là sử dụng dược liệu điều trị các bệnh lý về đường hô hấp ngày càng được ưu tiên trong giai đoạn thời tiết giao mùa.) Schott là vị thuốc được sử dụng khá phổ biến trong Y học cổ truyền để điều trị các bệnh ho, đờm, ho lâu ngày, hen suyễn, nôn mửa, bụng đầy trướng [1], [3], [8]. Nghiên cứu dược lý hiện đại chứng minh được tác dụng giảm đau, chống viêm, trị tiêu chảy [9], chống giun chỉ [12], kháng khuẩn [13] của củ Chóc (Bán hạ nam).
Tuy nhiên, nghiên cứu về mặt hóa học lại rất hạn chế. Nghiên cứu tại Việt Nam mới chỉ sơ bộ định tính xác định được các nhóm chất có mặt trong cây, các nghiên cứu về chiết xuất, phân lập xác định trong củ Chóc (Bán hạ nam) có các hợp chất sau: các acid béo, các sterol là stigmast-5,22-dien-24R-3-ol, β-sitosterol, 3-O-β-D-glucopyranosyl-stigmasterol, terpen-glucosid và typhotrilozid A [4], [6]. Gần đây nhất, nhóm nghiên cứu tại Viện Dược liệu đã chiết xuất, phân lập xác định cấu trúc trong Typhonium trilobatum (L.) Schott có chứa corymbosid – 1 flavonoid lần đầu được phân lập từ dược liệu củ Chóc (bán hạ nam). Kết quả nghiên cứu gợi ý flavonoid là một trong những nhóm chất chính của củ Chóc (Bán hạ nam).
Đến nay, chuyên luận củ Chóc (Bán hạ nam) trong Dược điển Việt Nam V chưa có chỉ tiêu định lượng chất đánh dấu của dược liệu này [1], nên việc kiểm tra giám sát chất lượng củ Chóc (Bán hạ nam) gặp nhiều khó khăn. Xuất phát từ những thực tế trên, khoá luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu xây dựng quy trình định lượng corymbosid trong củ Chóc (Bán hạ nam) [Typhonium trilobatum (L.) Schott] bằng phương pháp HPLC” được thực hiện với hai mục tiêu sau: 1. Xây dựng và thẩm định quy trình định lượng corymbosid trong củ Chóc (Bán hạ nam) Typhonium trilobatum (L.) Schott bằng phương pháp HLPC. Áp dụng quy trình định lượng đã xây dựng để kiểm tra hàm lượng corymbosid trong một số mẫu củ Chóc (Bán hạ nam) thu thập trên thị trường Việt Nam.
Tổng quan về củ Chóc (Bán hạ nam) - Typhonium trilobatum (L. Đặc điểm thực vật Tên khoa học: Typhonium trilobatum (L. Củ Chóc (Bán hạ nam) - Typhonium trilobatum (L. Củ Chóc (Bán hạ nam) là cây thảo, loại cỏ không có thân, sống hàng năm, cao 20 - 30 cm.
Thân củ hình cầu đường kính tới 2 cm, có những khía ngang. Lá mọc từ củ, có cuống dài pha màu đỏ tím nhạt, phần gốc loe ra thành bẹ gốc lá hình tim, hay hình mác, hoặc chia 3 thùy dài 4 - 15 cm, rộng 3,5 - 9 cm; thùy giữa to hình thoi, hai thùy bên hẹp hơn, xòe ngang, đầu lá nhọn, mép uốn lượn, gân mặt dưới lá đôi khi cũng có màu đỏ tím. Cụm hoa là một bông mo, ngắn hơn lá, mo có phần ống dài 17 - 27 mm hình trứng hoặc bầu dục thuôn màu lục pha đỏ tím, phân thùy thành bản rộng thuôn nhọn dần ở đầu, mặt ngoài màu lục nhạt, mặt trong màu đỏ hồng; trục hoa màu hồng, phần mang hoa cái hình trụ ngắn, phần mang hoa không sinh sản dài hơn, phần không mang hoa dài gấp đôi phần mang hoa không sinh sản, phần mang hoa đực dài 5 - 9 mm có nhiều hoa, phần cuối trục hình giùi, thẳng, gốc hơi loe rộng, hoa có mùi khó ngửi, nhất là về chiều. Mùa hoa tháng 5 – 7.
Quả mọng, hình trứng dài 6 mm [3], [8]. Phân bố, sinh thái và bộ phận dùng 1. Phân bố và sinh thái Ở Việt Nam, cây củ Chóc (Bán hạ nam) mọc hoang ở khắp những nơi đất ẩm từ nam chí bắc [3]. Phân bố tương đối rộng rãi từ đồng bằng đến trung du và miền núi (dưới 1000m), trong đất liền cũng như ở một số đảo lớn [8].
2 Trên thế giới, cây phân bố ở Nhật Bản [3], Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Ấn Độ [8], Assam, Bangladesh, Nepal, Sri Lanka [15]. Củ Chóc (Bán hạ nam) có thân ngầm dạng củ, thường mọc ở đất ẩm trong vườn, bãi sông, ruộng trồng hoa màu và nương rẫy. Hằng năm, cây thường mọc khoảng cuối tháng 2 hoặc đầu tháng 3. Sau khi ra hoa quả, phần trên mặt đất tàn lụi vào tháng 6 - 7.
Cây mọc từ hạt, được một năm, củ còn nhỏ. Song ở những củ có đường kính trên 4 cm (chưa xác định được tuổi) thường có hiện tượng thối gốc [8]. Bộ phận dùng Thân rễ già [1]. Thu hái và chế biến 1.
Thu hái Củ Chóc (Bán hạ nam) thu hoạch từ mùa hạ đến thu đông [3]. Rễ củ thu hoạch vào tháng 8 hoặc tháng 9, khi cây lụi [1]. Chế biến [2] - Phương pháp chế biến củ Chóc (Bán hạ nam) phiến Cách thực hiện: Thân rễ của cây củ Chóc được rửa sạch, cắt bỏ rễ con, cạo bỏ vỏ, đồ chín, thái phiến dày 3 - 5 mm, phơi hay sấy khô. - Phương pháp chế biến củ Chóc (Bán hạ nam) chế gừng Mục đích: Tăng tính ấm cho vị thuốc (tăng tính dương).
Tăng tác dụng chỉ ho, hóa đờm. Làm giảm tính ngứa, tính kích thích cổ họng của vị thuốc. Làm sạch và thơm vị thuốc. Công thức: Chế biến 1,0 kg củ Chóc (Bán hạ nam) chế gừng Củ Chóc (Bán hạ nam) phiến 1,0 kg Gừng tươi 100 g Phèn chua 100 g Nước vo gạo vừa đủ Cách thực hiện: Củ Chóc (Bán hạ nam) phiến được ngâm trong dịch nước vo gạo 2 ngày, mỗi ngày thay nước một lần.
Gạn bỏ dịch ngâm, rửa nhẹ đến sạch. Phèn chua được tán thành bột mịn, hòa tan hoàn toàn trong 3 lít nước sạch. Ngâm tiếp củ trong 2 ngày đến khi không còn “nhân trắng đục”. Vớt ra, phơi khô.
Củ Chóc (Bán hạ nam) đã phơi khô được tẩm với dịch nước gừng tươi. Trộn, ủ đến khi thấm đều vào phiến thuốc. Sao đến khi màu vàng đậm, không còn vị ngứa. - Phương pháp chế biến củ Chóc (Bán hạ nam) chế nước vôi trong Mục đích: Loại bớt các chất ngứa, hạn chế hỏng, thối rữa.
3 Công thức: Chế biến 1,0 kg củ Chóc (Bán hạ nam) chế nước vôi trong Củ Chóc (Bán hạ nam) phiến 1,0 kg Nước vôi trong vừa đủ. Cam thảo 150 g Cách thực hiện: Cam thảo nấu với 3 lít nước trong 2 giờ. Gạn lấy dịch. Ngâm củ Chóc (Bán hạ nam) trong dịch cam thảo trong 2 ngày.
Vớt ra, ngâm tiếp với nước vôi khoảng 3 ngày. Nếm thấy hết vị ngứa thì vớt ra, rửa nhiều lần bằng nước sạch, phơi hoặc sấy đến khô. Dược liệu củ Chóc (Bán hạ nam) trong Y học cổ truyền Tính vị: Cay, ôn [1]. Quy kinh: Tỳ, vị và phế [1].
Công năng, chủ trị: Công năng: Hóa đờm hàn, giáng nghịch chỉ nôn [2], hóa đàm táo thấp, giáng nghịch chỉ ho [1]. Chủ trị: Ho có nhiều đờm loãng do viêm phế quản, hen phế quản; đầy trướng bụng, nôn, buồn nôn, táo bón thể dương hư; rối loạn mỡ máu [2], trừ thấp trệ ở người béo bệu [1]. Cách dùng, liều lượng: Dùng 12-16 g/ngày dưới dạng thuốc sắc, phối hợp với vị thuốc khác. Khi bị nôn dùng củ Chóc (Bán hạ nam) chế gừng, dùng cho phụ nữ có thai thì phải phối hợp với Hoàng cầm, Bạch truật.
Kiêng kỵ: Không dùng trong trường hợp người ra nhiều mồ hôi [2], người âm hư, ho khan, khạc máu. Thận trọng khi dùng cho người mang thai. Không phối hợp với Phụ tử [1]. Bảo quản: Để nơi khô ráo, thoáng mát, tránh mối mọt, nấm mốc [2].
Thành phần hóa học Củ Chóc (Bán hạ nam) chứa 69,9% nước, 1,4% protein, 0,1% chất béo, 1% chất sợi, 26% carbohydrat, 1,6% các chất vô cơ, 35mg% calci, 20mg% phospho, 1,3mg% sắt, 9mg% natri, 237mg% kali. Ngoài ra còn có 0,07mg% thiamin, 0,7mg% niacin, 78mg% caroten, 17,5mg% acid folic, 3,7% pp, fluorin, 0,8 ppm iodin, 22,85 mg% cholin (dạng muối clorid) [8]. Dịch chiết cồn củ Chóc chứa -sitosterol, 2 sterol khác chưa xác định. Củ chóc chứa alcaloid và stigmasterol [6], [8].
Tác giả Phùng Hòa Bình và các cộng sự xác định thành phần hóa học củ Chóc (Bán hạ nam) mọc ở Việt Nam có alcaloid, sterol, acid amin, coumarin, saponosid, acid hữu cơ, tinh bột và chất nhày [5], [6]. Các kết quả định tính, định lượng trong nghiên 4 cứu về thành phần hóa học củ Chóc (Bán hạ nam) của tác giả Phùng Hòa Bình được trình bày ở bảng 1. Kết quả định tính, định lượng thành phần hóa học củ Chóc (Bán hạ nam) [6] STT Thành phần Định tính Định lượng 1 Alcaloid + Alcaloid toàn phần: 0,35% Coumarin toàn phần: 0,20% 2 Coumarin + Coumarin tự do: 0,12% 3 Sterol + Sterol toàn phần: 0,01% 4 Saponosid + Saponoid toàn phần: 0,18% 5 Flavonoid +/- x 6 Tanin - - 7 Acid amin + x 8 Chất nhầy + x 9 Acid hữu cơ + x 10 Tinh bột + x Chú thích: (+) Dương tính, (-) Âm tính, (+/-) Chưa xác định, (x) Không đề cập Nghiên cứu sàng lọc hóa thực vật về củ Chóc (Bán hạ nam) có thêm phát hiện mới khi đã thu được một hỗn hợp các acid béo gồm: acid hexadecanoic, acid 11,14- octadecadienoic, acid 9,12-octadecadienoic, acid cis-linoleic, acid docosanoic và phân lập được 5 hợp chất hữu cơ, trong đó có 3 sterol là stigmast-5,22-dien-24R-3-ol, β-sitosterol, 3-O-β-D-glucopyranosyl-stigmasterol, 1 hợp chất terpen-glucozit và 1 hợp chất cerebrozid đặt tên là typhotrilozid A [4]. Nghiên cứu mới nhất của Swaraj Kumar Babu và các cộng sự đã phân lập và xác định được acid linoleic và acid palmitic có trong củ Chóc (Bán hạ nam) [12].
Nghiên cứu sơ bộ về hóa thực vật loài Typhonium trilobatum (L.) Schott của Shahriar và các cộng sự có mặt flavonoid, carbohydrat, phenol và alcaloid. Đặc biệt khi chiết xuất thân rễ bằng ethanol có mặt flavonoid ở mức độ vừa phải [18]. Các hợp chất phân lập được từ củ Chóc (Bán hạ nam) Tên hợp chất Công thức cấu tạo TLTK acid [4], hexadecanoic [12] (acid palmitic) acid 11,14- [4] octadecadienoic acid 9,12- [4] octadecadienoic [4], acid cis-linoleic [12] acid docosanoic [4] 6 stigmasterol (stigmast-5,22- [4], [6] dien-24R-3-ol) β-sitosterol [4], [6] 3-O-β-D- glucopyranosyl- [4] stigmasterol 7 1. Tác dụng sinh học Tác dụng diệt ký sinh trùng Swaraj Kumar Babu và các cộng sự đã phân lập và xác định hoạt chất sinh học trong dịch chiết thô từ thân rễ Typhonium trilobatum (L.) Schott chứa acid linoleic và acid palmitic có tác dụng diệt ký sinh trùng; cụ thể sử dụng ký sinh trùng giun chỉ Brugia malayi để xác định hoạt tính sinh học khi so sánh thuốc chống giun chỉ được sử dụng trên lâm sàng là Ivermectin và Diethylcarbamazine với dịch chiết thô.