Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Giáo dục có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội, là nền tảng vững chắc cho sự phát triển nhanh và bền vững của các quốc gia. Vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và nâng cao chất lượng quản lý HĐDH nói riêng trong các nhà trường từ lâu đã trở J.Comenxki (1592-1670) cho thành vấn đề quan tâm của các nước trên thế giới. Nhà sư phạm người Mỹ, John Dewey (1859-1925), đề cao hoạt động đa dạng của học sinh, đặc biệt là hoạt động thực tiễn, “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục, nói không phải là dạy, nói ít hơn, chú ý nhiều đến việc tổ chức hoạt động của học sinh”.
Đây là ý tưởng khởi nguồn cho triết lý “Lấy học sinh làm trung tâm trong giáo dục” [6]. Những nghiên cứu trên thế giới tập trung vào một số vấn đề sau đây: Sự hình thành và phát triển của xu hướng dạy học tiếp cận năng lực: Tiếp cận năng lực trong giáo dục nói chung, dạy học nói riêng được hình thành phát triển rộng khắp ở Mỹ vào những năm 1970 và trở thành một phong trào với những nấc thang mới trong những năm 1990 ở Anh, Úc, New Zealand, xứ Wales. Tiếp cận năng lực là “cách thức để chuẩn bị lực lượng lao động cho một nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu” [13] và là “một câu trả lời mạnh mẽ đối với những vấn đề mà các nhà trường, cán hân, tổ chức đang phải đối mặt trong thế kỷ XXI” [13]. Đặc trưng và ưu thế của dạy học tiếp cận năng lực: K.Paprock [20] đã chỉ ra năm đặc tính cơ bản của tiếp cận này: Tiếp cận năng lực dựa trên triết lý người học là trung tâm; Tiếp cận năng lực thực hiện việc đáp ứng các đòi hỏi của chính sách; Tiếp cận năng lực là định hướng cuộc sống thật; Tiếp cận năng lực rất linh 7 hoạt và năng động; Những tiêu chuẩn của năng lực được hình thành một cách rõ ràng.Kerka [17], những ưu thế đó là: Tiếp cận năng lực cho phép cá nhân hóa việc học; Tiếp cận năng lực chú trọngvào kết quả đầu ra; Tiếp cận năng lực tạo ra những linh hoạt trong việc đạt tới các kết quả đầu ra, theo những cách thức riêng phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh của cá nhân; Tiếp cận năng lực còn tạo khả năng cho việc xác định một cách rõràng những gì cần đạt được và những tiêu chuẩn cho việc đo lường các thành quả học tập của người học.
Mô hình năng lực trong dạy học: Từ hiểu biết về năng lực, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng những mô hình năng lực khác nhau trong tiếp cận của mình. Morley&Vilkinas đã tổng kết được 16 đặc tính xác định năng lực, đó là: Tầm nhìn và sứ mạng; Thực hiện; Chiến lược; Quản lý con người; Quan hệ công chúng, cộng đồng; Sự phức tạp; Quan hệ với các quá trình chính trị; Tính trách nhiệm; Thành tựu; Năng lực trí tuệ, tư duy; Các đặc tính cá nhân, đặc biệt là tự quản; Chính sách; Kỹ năng quan hệ qua lại giữa các cá nhân; Thay đổi; Truyền đạt; Quản lý nguồn lực. Trên cơ sở các năng lực chung, mỗi lĩnh vực quản lý đòi hỏi những năng lực riêng [14]. Các tác phẩm như: “Ảnh hưởng của kiến thức Toán học của giáo viên đối với việc dạy dỗ thành quả học sinh” của H.Ball (2007); “Năng lực và các ý tưởng học Toán và nguồn cảm hứng cho sự phát triển của giảng dạy và học tập toán học ở Đan Mạch” của Đại học Roskilde, Đan Mạch, tháng 10 năm 2011; “Chính sách dạy học và hoạt động của lớp học: Cải cách Toán học ở California” của Cohen & Hill (1998) đã nhấn mạnh vai trò quản lý đối với nâng cao chất lượng HĐDH môn Toán.
Ở Việt Nam có thể kể đến các công trình của các tác giả như Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, “Đo lường và đánh giá trong giáo dục” [10] của tác giả Trần Khánh Đức; Trần Kiểm đã nhấn mạnh vai trò của quản lý dạy học trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường phổ thông. Tài liệu “Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục” của tác giả Trần Kiểm đã khái luận về phương 8 pháp luận macxit, tư tưởng Hồ Chí Minh, các cách tiếp cận hiện đại, ví dụ, sơ đồ PERT, 5 tiêu chuẩn SMART, thang bậc nhu cầu do Maslow đề ra … Tác phẩm “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” [16] của tác giả Phan Trọng Ngọ và tác phẩm “phương pháp dạy học môn Toán” của tác giả Lê Văn Tiến, các tác phẩm trên đã trình bày đầy đủ về PPDH dạy học nói chung và PPDH môn Toán nói riêng và các tình huống điển hình trong DH môn Toán ở trường phổ thông hiện nay. Thế kỷ XXI, Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu như: “Những khái niệm cơ bản về Quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Ngọc Quang, “Quản lý giáo dục” của tác giả Đặng Quốc Bảo, “Đại cương về khoa học quản lý của tác giả Nguyễn Quốc Chí Nguyễn Thị Mỹ Lộc và còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác về lĩnh vực giáo dục. Môn Toán trong trường phổ thông có vai trò quan trọng, được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu như “Phương pháp dạy học đại cương môn Toán của tác giả Nguyễn Bá Kim.
“Vận dụng lý luận vào thực tiễn dạy học môn Toán ở trường phổ thông” của tác giả Bùi Văn Nghị, các công trình của tác giả Trần Phương, Trần Văn Hạo, Võ Đại Mau. Với tác phẩm “Giáo trình PPDH môn Toán ở THPT theo hướng tích cực” tác giả Bùi Thị Hường đã đi sâu vào nghiên cứu PPDH nhằm PTNL HS. Nếu HS chủ động, tích cực, tự giác, biết phương pháp dạy học môn Toán, tự nghiên cứu thì học sinh sẽ nhanh chóng nắm vững tri thức, phát triển toàn diện nhân cách [19]. Quản lý HĐDH môn Toán cũng được nhiều học viên cao học nghiên cứu như “Quản lý HĐDH môn Toán ở các trường THPT huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình” của tác giả Vũ Văn Đương năm 2012; “Quản lý HĐDH môn Toán ở các trường THPT huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định”, … Các công trình nghiên cứu nói trên đã chỉ ra được thực trạng của HĐDH môn Toán, thực trạng quản lý HĐDH môn Toán.
Trong phạm vi nghiên cứu các đề tài đều nêu rõ những hạn chế, bất cập nhất định, mà nguyên nhân chủ yếu và cũng đã nêu rõ tầm quan trọng, vai trò của HĐDH môn Toán, các biện pháp của nhà quản lý trong việc tổ 9 chức, quản lý HĐDH môn Toán của học sinh. Tuy nhiên về phương diện quản lý HĐDH môn Toán theo hướng PTNL HS, hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu và có hệ thống. Trong đề án này, có kế thừa những kết quả nghiên cứu đi trước, tiếp tục nghiên cứu sâu về cơ sở lý luận của HĐDH môn Toán, thực trạng quản lý HĐDH môn Toán, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý HĐDH môn Toán và dạy học theo hướng PTNLHS ở các trường THPT huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Khái niệm chính của đề án 1.
Hoạt động dạy học Hoạt động dạy học gồm hai mặt của quá trình đó là dạy và học luôn đi kèm biện chứng với nhau. Hoạt động dạy: “là hoạt động của giáo viên nhằm tạo ra, tổ chức và hướng dẫn hoạt động học của học sinh, nhờ đó mà ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của người học” [11]. Hoạt động học: “ là một hoạt động của học sinh nhằm chiếm lĩnh giá trị tri thức văn hóa của nhân loại, nhờ đó mà hình thành và phát triển những năng lực và nhu cầu của mỗi người” [11]. Theo tác giả Lê Văn Tiến (2016) thì hoạt động học “ là một hoạt động nhận thức độc đáo của người học, thông qua đó người học chủ yếu thay đổi chính bản thân mình và ngày càng có năng lực hơn trong hoạt động tích cực nhận thức và cải biến hiện thực khách quan” [21].
Như vậy, hoạt động dạy học “là hệ thống những hành động phối hợp, tương tác giữa giáo viên và học sinh, trong đó, dưới tác động chủ đạo của giáo viên, học sinh tự giác, tích cực, chủ động lĩnh hội hệ thống tri thức khoa học,kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành thế giới quan khoa học và những phẩm chất của nhân cách. Quản lý hoạt động dạy học Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục thực chất là tác động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể 10 chất theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất trường THPT xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới’’ [18]. Tác giả Trần Kiểm cũng khẳng định: “QLGD là tổ chức các HĐDH. Có tổ chức được các HĐDH, thực hiện được các tính chất của nhà trường Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [13].
Quản lý HĐDH là những tác động có mục đích, có kế hoạch của CBQL trường học vào QTDH để QTDH vận động tối ưu góp phần hình thành, phát triển toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu giáo dục. Năng lực Theo Từ điển tiếng Việt: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó”; “Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [2]. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới (OECD) quan niệm “Năng lực là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể” [3]. Theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí.
thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [4].