ĐẶT VẤN ĐỀ Tang ký sinh hay tầm gửi cây dâu có tên khoa học là Loranthus parasiticus(L. [1] hay Scurrula parasitica L. [3] thuộc họ Tầm gửi (Loranthaceae), là loài sống ký sinh trên cây Dâu tằm (Morus alba L. Trên thế giới cây phân bố chủ yếu ở một số nước Châu Á như Ấn độ, Myanmar, Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philipin [3], các châu lục khác như Châu Phi, Châu Âu, Bắc Mỹ, New Zealand [38].
Tại Việt Nam có thể tìm thấy ở một số tỉnh thành như: Bắc Giang, Hưng Yên, Hà Nội, Đắk Lắk, Đắk Nông. Theo y học Trung Quốc, tang ký sinh có tác dụng kích thích sự tạo máu, để điều trị thiếu máu và chảy máu ở phụ nữ mang thai, và sau khi đẻ, đau kinh và tăng sức khỏe người bệnh mãn tính [3], bổ can thận, mạnh gân xương, thông kinh an lạc [1]. Các nghiên cứu về thành phần hóa học từ loài Scurrula parasitica cho biết nhóm hoạt chất chính là flavonoid, ngoài ra còn có một số nhóm hợp chất khác như hydrocarbon, sesquiterpen, sitosterol… Hiện nay, Dược Điển Việt Nam V chưa xây dựng phương pháp định lượng cho cả flavonoid toàn phần cũng như một số flavonoid có trong Tang ký sinh. Nhóm nghiên cứu tại khoa Hóa phân tích – Tiêu chuẩn tại Viện Dược Liệu đã tiến hành chiết xuất và phân lập và xác định cấu trúc được một số hoạt chất nhóm flavonoid có trong Tang ký sinh như Quercitrin, Quercetin, Avicularin, Kaempferol.
Tại Việt Nam hiện chưa có công bố nghiên cứu định lượng Quercitrin, Quercetin trong dược liệu Tang ký sinh bằng HPLC. Xuất phát từ thực tế trên, khóa luận tốt nghiệp “Xây dựng phương pháp định lượng một số Flavonoid trong dược liệu Tang ký sinh Scurrula parasitica L. bằng phương pháp HPLC” được thực hiện nghiên cứu với các mục tiêu sau: 1. Xây dựng và thẩm định phương pháp định lượng 2 flavonoid: Quercitrin và Quercetin trong dược liệu Tang ký sinh Scurrula parasitica L.
Áp dụng phương pháp đã xây dựng để định lượng Quercitrin và Quercetin trong một số mẫu dược liệu Tang ký sinh thu thập được trên thị trường. Tổng quan về Tang ký sinh Tang ký sinh hay tầm gửi cây dâu có tên khoa học là Loranthus parasiticus (L. [1] hay Scurrula parasitica L. [3] thuộc họ Tầm gửi (Loranthaceae), sống ký sinh trên cây Dâu tằm (Morus alba L.), họ dâu tằm (Moraceae).
Đặc điểm thực vật Tang ký sinh là cây nhỏ, thường xanh, ký sinh trên cây dâu tằm nhờ các rễ mút, cành hình trụ, khúc khuỷu, màu xám hay màu nâu đen. Lá mọc so le, hình bầu dục, dài 3 – 8 cm, rộng 2 - 2,5cm, gốc thuôn hoặc hơi tròn, đầu tù đôi khi hơi lõm, mép hơi lượn sóng, gân phụ cong, cuống lá ngắn. [3] Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành chum rất ngắn gần như bình tán, lá bắc nhỏ hình tam giác, hoa màu đỏ hoặc màu hồng tím, đài hình chùy có bánh răng rất nhỏ, tràng hình trụ, hơi phình ở giữa, có lông, nhị 4, chỉ nhị dài hơn bao phấn, bầu ba. Quả hình bầu dục, có vết tích của đài tồn tại.
[3] Mùa hoa quả: tháng 1 – 3. Hình ảnh cây Tang ký sinh Scurrula parasitica 1. Phân bố, sinh thái và bộ phận dùng của Tang ký sinh Tang ký sinh có vùng phân bố tự nhiên phụ thuộc hoàn toàn vào nơi có trồng cây dâu tằm. Ngoài ra có thể tìm thấy loài này ở một số cây chủ khác như Bưởi (Citrus grandis L.
Tại Việt Nam có thể tìm thấy ở một số tỉnh thành như: Bắc Giang, Hưng Yên, Hà Nội, Đắk Lắk, Đắk Nông [2]. 2 Cây ưa sáng và ưa ẩm, ra hoa quả nhiều hằng năm. Tuy nhiên, ở những vùng trồng dâu tằm rộng lớn cũng hiếm khi gặp tang ký sinh. Hạt giống của cây phát tán có lẽ do chim hoặc một số loài động vật nào đó, trong quá trình ăn và tiêu hóa quả chín đã đưa hạt tang ký sinh sang các cây dâu tằm khác.
Bước đầu hạt phải mắc được vào các kẽ nứt của vỏ hoặc hốc của cây và gặp điều kiện thuận lợi sẽ nảy mầm nhanh, các rễ cây từng bước len lỏi vào trong lớp vỏ cây chủ để hút chất dinh dưỡng nuôi cây. Trong trường hợp các cành lá của cây tang ký sinh được thu hái, phần gốc và rễ ký sinh vẫn bám được trên cây chủ và tiếp tục phát triển. [3] Bộ phận dùng của tang ký sinh là toàn bộ phần cây được thu hái quanh năm, phơi hoặc sấy khô. Thành phần hóa học Một số nghiên cứu về thành phần hóa học của S.
parasitica cho thấy sự có mặt của các nhóm hợp chất như flavonoid, phenol, glycosid, alkaloid và triterpen, acid amin [3], [17], [23], [24]. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng thành phần hóa học của S. parasitica phụ thuộc vào cây chủ mà Scurrula parasitica ký sinh, cây chủ sẽ cung cấp một số thành phần đặc trưng sang cây ký sinh trên chúng thông qua một tương tác đặc trưng của họ Loranthaceae. Năm 2019, một nghiên cứu đã xác định được nhóm glycosid tim từ S.
parasitica và Taxillus chinensis ký sinh trên cây chủ Trúc đào (Nerium indicum), kết quả cho thấy có tổng cộng 29 hợp chất glycosid tim được tìm thấy trong cây ký sinh, trong khi đó trên cây chủ chỉ có 28 hợp chất glycosid tim. [33] Công thức cấu tạo của một số hợp chất được phân lập từ S. parasitica được trình bày trong bảng 1. Các hợp chất phân lập được từ Tang ký sinh TT Tên hợp chất TLTK Flavonoid 1 (+)-Catechin [3], [17], [24], [37] 2 Avicularin (quercetin-3-α-L-arabinofuranosid) [3] 3 Kaempferol 3-O-a-L-rhamnosid [17] 4 Quercetin [3], [6], [17], [24] 5 Quercitrin (Quercetin 3-O-a-L-rhamnosid) [6], [17], [24] 6 Digitoxigenin 3-O-α-L-rhamnosid [23], [24] 7 Gitoxigenin 3-O-α-L-rhamnosid [24] 8 Gitoxigenin 3-O-α-D-glucosid [24] 3 Hydrocarbon 9 Eicosan [17] 10 Octadecan [17] 11 Octacosan [17], [23] 12 Alcol Octacosyl [23] 13 Acid behenic [23] Sesquiterpen 14 Corianin [30] 15 Coriatin [30] 16 Tutin [30] 17 Coriamyrtin [30] Sitosterol 18 3-epi-ursolic acid [23] 19 3-oxolup-20(29)-en [24] 20 Sitosterol [17], [24] 21 Daucosterol [24] Sterol 22 Cycloeucalenol [24] 23 Stigmasterol [24] Triterpen 24 Lupeol [17], [24] 25 Lupeol palmitat [17], [24] 26 Squalen [17] 27 Acid ursolic [23], [24] 28 Uvaol [23] Các hợp chất khác 29 7β,15α-dihydroxylup-20(29)-en-3β-O-palmitat [23], [24] 30 7β-hydroxyl-hop-22(29)-en-3β-O-palmitat [23] 31 AC Trimer [44] 32 1-deoxynojirimycin [15] 4 Hình 1.
Công thức cấu tạo một số hợp chất phân lập từ Tang ký sinh 1. Tác dụng chống oxy hóa Tác dụng chống oxy hóa là một trong những tác dụng đặc trưng của các hợp chất phenolic đối với các loài thuộc họ Loranthaceae hay chính với S. Theo nghiên cứu của Moghadamtousi, S. parasitica có tổng hàm lượng phenol cao nhất trong 50 dược liệu được nghiên cứu (theo phương pháp Folin-Ciocalteu).
5 Ngoài ra, một số nghiên cứu khác đã cho thấy mối tương quan giữa các khả năng chống oxy hóa và nồng độ các hợp chất phenolic [6], [10], [32]. Trong đó các hợp chất quercetin, quercitrin cho thấy tác dụng chống oxy hóa mạnh nhất [3], [16]. Giá trị IC50 của quercitrin là 5,00 µg/ml. Tác dụng chống ung thư Nghiên cứu in vitro trên dịch chiết nước từ cành S.
parasitica chống lại ba dòng tế bào ung thư buồng trứng là SKOV3, CAOV3 và OVCAR-3 cho thấy tác dụng chống lại tế bào ung thư của dịch chiết trên các tế bào mẫu thử [31]. Chống tâm thần phân liệt Trong Y học Trung Quốc, S. parasitica được sử dụng như một bài thuốc cổ truyền trong điều trị sốc gây ra do tâm thần phân liệt. Trong đó các coriaria lacton là hoạt chất chính đóng vai trò quan trọng trong điều trị.
Một nghiên cứu về hoạt tính sinh học của các coriaria lacton cho thấy rutin và coriamyrtin có trong S. parasitica có tác dụng trong liệu pháp sốc điện nhằm kiểm soát tâm thần phân liệt. Tác dụng hạ huyết áp Tang ký sinh dưới dạng lỏng cho chó uống, có tác dụng gây hạ huyết áp trên chó gây mê với liều 2 g/kg thể trọng, gây giãn mạch ngoại biên trong thí nghiệm in vitro, làm giảm nhu động ruột và trương lực cơ trơn ruột thỏ cô lập, làm an thần, kéo dài thời gian gây ngủ gây ra bời hexobarbital. Tác dụng chống độc thận Nghiên cứu tác dụng chống lại độc tính trên thận do cisplatin gây ra ở tế bào HEK 293.
Kết quả cho thấy rằng cao chiết nước S. parasitica có tác dụng trong phục hồi khi tế bào với tỷ lệ phục hồi tối đa là 43,6%. Khả năng sống của tế bào và giá trị EC50 là 3,810 × 10-10 mg/mL [35]. Công năng, chủ trị Theo y học Trung Quốc, Tang ký sinh có tác dụng kích thích sự tạo máu, để điều trị thiếu máu và chảy máu ở phụ nữ mang thai, và sau khi đẻ, đau kinh và tăng sức khỏe người bệnh mãn tính [3], bổ can thận, mạnh gân xương, thông kinh an lạc [1].
Chế biến Hái lấy dược liệu, loại bỏ tạp chất, cắt ngắn, phơi khô trong bóng râm [3]. Tính vị, quy kinh Tang ký sinh có vị đắng, tính bình. Quy vào hai kinh là can và thận [1], [3], có tác dụng bổ gan thận, trừ phong thấp, mạnh gân xương, an thai, lợi sữa [3]. Tổng quan về nhóm chất flavonoid Flavonoid là một nhóm lớn của các hợp chất phenol thực vật có cấu trúc cơ bản là diphenylpropan (C6-C3-C6).
Là một nhóm chất phổ biến trong thực vật, có thể thường gặp ở nhiều loại hoa quả, rau củ, ngũ cốc, phần rễ, hoa, cành và lá của một số loại dược liệu, [21]. Flavonoid cũng là nhóm chất và đóng vai trò tạo nên các nhiều dụng sinh học của Tang ký sinh [21]. Quercetin thuộc nhóm flavonol có thể được tìm thấy phổ biến ở trong nhiều loại rau củ và hoa quả thường ngày như súp lơ, cà chua bi, cải xoăn, hành tây, trà xanh, trà đen, táo, nho, việt quất [20], [21], [27], [29]. Tên gọi Quercetin được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1857 bắt nguồn từ Quercetum, theo tiếng latin có nghĩa rừng sồi [22].
Quercitrin hay Quercetin 3-O-a-L-rhamnosid là dẫn xuất của Quercetin và phần đường 3-O-a-L-rhamnosid. Có một số nghiên cứu cho thấy Quercitrin được tìm thấy ở Yến mạch (Fagopyrum tataricum) và một số loài thuộc họ sồi như Sồi trắng Bắc Mỹ (Quercus alba) và sồi Anh (Quercus robur) [14], [25]. Tổng quan về quercitrin và quercetin Nhiều nghiên cứu cho thấy quercitrin và quercetin là các flavonoid chính có trong Tang ký sinh [3], [6], [17], [21]. Không chỉ có hàm lượng lớn, hai hợp chất quercitrin và quercetin còn được chứng minh là có nhiều tác dụng sinh học.
Do đó, hai hợp chất này được lựa chọn là các chất đánh dấu “marker” để đánh giá chất lượng của dược liệu Tang ký sinh. Tổng quan về hai hợp chất quercitrin và quercetin Quercetin Quercitrin 2-(3,4-dihydroxyphenyl)-5,7- Tên 2-(3,4-dihydroxyphenyl)-3,5,7- dihydroxy-3-[(2S,3R,4R,5R,6S)- IUPAC trihydroxychromen-4-on 3,4,5-trihydroxy-6-methyloxan-2- yl]oxychromen-4-on Công thức cấu tạo Hình 1. Công thức cấu tạo của Hình 1.