chương I của Luật DL Việt Nam: “TNDL là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm DL, khu DL, điểm DL, nhằm đáp ứng nhu cầu DL. Luật cũng nêu rõ TNDL có hai loại: TNDL tự nhiên và TNDL văn hóa:“TNDL tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích DL”. “TNDL văn hóa bao gồm DTLS - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng cho mục đích DL” (Khoản 2, điều 15, chương III, Luật DL Việt Nam). Loại hình du lịch Tổ chức DL thế giới (UNWTO) quan niệm loại hình DL chính là các hình thức DL được tổ chức nhằm thỏa mãn mục đích đi DL của khách.
Cơ sở để phân chia khách DL chính là sự tham gia của họ vào các loại hình khác nhau và động cơ của họ khi trải nghiệm hoạt động DL [16]. Có rất nhiều cách phân chia khác nhau đối với các loại hình DL; trong đó tác giả Nguyễn Minh Tuệ cho rằng có 7 tiêu chí phân loại bao gồm: phạm vi lãnh thổ, nhu cầu của khách, TNDL, đặc điểm địa lý, thời gian của cuộc hành trình (độ dài chuyến đi), phương tiện giao thông, hình thức tổ chức. Sản phẩm du lịch Theo Luật DL Việt Nam (2017) xác định: “Sản phẩm DL là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị TNDL để thỏa mãn nhu cầu của khách DL” [20]. Như vậy, sản phẩm DL bao gồm: dịch vụ DL và TNDL.
Dịch vụ DL là các dịch vụ về ăn, ở, đi lại, mua sắm, vui chơi, chăm sóc sắc đẹp, sức khỏe của họ. Sản phẩm DL thường được đánh giá ở các mức độ hấp dẫn, khả năng tiếp cận và mực độ tiện nghi. Sản phẩm tốt sẽ phải đồng thời đáp ứng nhu cầu của thị trường, khai thác có hiệu quả kinh tế cũng như sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ. Phát triển du lịch PTDL được hiểu là quá trình làm gia tăng về quy mô, cơ cấu của ngành DL theo hướng nâng cao chất lượng và đạt được sự tiến bộ cũng như hiệu quả tích cực.
“PTDL là sự tăng lên về thu nhập, tổng thu DL, quy mô của ngành DL cùng với sự thay đổi chất lượng và cơ cấu ngành DL. PTDL đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của du khách, đem lại hiệu quả kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội ngày càng cao và mở rộng lợi ích cho dân cư địa phương, cho nước làm DL, cho doanh nghiệp hoạt động DL và người dân” [dẫn theo 16]. Dưới góc độ địa lý học, PTDL còn bao gồm cả sự thay đổi về cả “lượng” và “chất” của các hình thức tổ chức lãnh thổ DL như điểm, tuyến, trung tâm DL trong mối tương tác với các khía cạnh khác nhau của hoạt động DL [16]. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển DL 1.
Vị trí địa lý Vị trí địa lí ảnh hưởng tới sự hình thành các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa và chính trị của một lãnh thổ. Vị trí tác động đến PTDL về cả nguồn cung và cầu. Ở khía cạnh cung, vị trí địa lý quy định sự đa dạng của lãnh thổ tự nhiên và phong phú trong các giá trị văn hóa, xã hội; từ đó tạo ra cơ sở tài nguyên DL dồi dào. Ở khía cạnh cầu, vị trí là thước đo khoảng cách tương đối giữa thị trường nguồn khách với điểm đến, ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận điểm DL [13].
Tài nguyên du lịch TNDL tác động tới sự hình thành các sản phẩm DL. Sự hình thành các vùng DL chịu ảnh hưởng lớn từ đặc điểm TNDL. Sự đa dạng, đặc sắc và điển hình của sản phẩm DL phần lớn được tạo nên từ các giá trị tài nguyên mà lãnh thổ sở hữu. a) Tài nguyên du lịch tự nhiên * Địa hình Đặc điểm hình thái địa hình, sự độc đáo của một số dạng địa hình đặc biệt là cơ sở để hình thành những phong cảnh ngoạn mục, hấp dẫn khách DL.
Trong khai thác DL, địa hình miền núi được đánh giá là có ý nghĩa hơn so với dạng địa hình đồng bằng bởi sự phong phú của bề mặt khu vực đồi, núi. Các dạng địa hình ven biển, địa hình cácxtơ là những tài nguyên địa hình rất hấp dẫn du khách. * Khí hậu Khí hậu là nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến khả năng tổ chức các hoạt động DL, thời gian diễn ra các hoạt động DL, sự thuận lợi hay khó khăn cho một số loại hình DL. Các chỉ tiêu sinh khí hậu, sự phân hóa theo mùa, phân hóa không gian đều ảnh hưởng đến việc tổ chức hoạt động DL của lãnh thổ.
Ở những trường hợp nhất định, sự khác biệt về điều kiện khí hậu của điểm đến so với nơi đi của khách là tài nguyên tạo nên sức hấp dẫn DL [16]. Điều kiện thời tiết nói chung của điểm đến ảnh hưởng lớn đến khả năng tổ chức các hoạt động; nhu cầu thực tế của DL đồng thời tác động đến sự ổn định và bền vững của thành phần tự nhiên cũng như các công trình CSVCKT của ngành DL. * Thủy văn Khách DL trong chuyến đi của mình cần được đảm bảo các nhu cầu thiết yếu, trong đó có nhu cầu sử dụng nước sạch. Sự dồi dào và chất lượng nước của điểm đến ảnh hưởng đến khả năng phục vụ nhu cầu thiết yếu đó của khách.
Hơn nữa, các phong cảnh của lãnh thổ gắn với các dòng sông, 13 dòng thác, hồ…đã hình thành nên các giá trị tài nguyên có sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách. Nước khoáng là nguồn nước ngầm có giá trị đối với khai thác thương mại cũng như hình thành các khu nghỉ dưỡng chăm sóc sức khỏe quan trọng của điểm đến. Phát triển DL chăm sóc sức khỏe ở các nguồn nước khoáng rất có sức hấp dẫn đặc biệt đối với khách DL quốc tế [16]. * Sinh vật Vai trò của sinh vật và hệ sinh thái đối với DL là khả năng hình thành các sản phẩm DL sinh thái, nghiên cứu khoa học, DL văn hóa cộng đồng ở các hệ sinh thái bản địa nguyên sinh, hoạt săn bắn, tham quan…Các hệ sinh thái đặc trưng của lãnh thổ, những cánh rừng nguyên sinh được bảo tồn ở các VQG, khu dự trữ sinh quyển…luôn có sức hấp dẫn đặc biệt đối với khách DL.
* Di sản thiên nhiên thế giới Di sản thiên nhiên được xem là tập hợp các yếu tố tự nhiên của một khu vực nhất định tạo nên những thể tổng hợp tự nhiên nổi bật về địa chất, địa mạo hoặc sinh vật có giá trị toàn cầu về thẩm mỹ, khoa học hoặc bảo tồn. Những giá trị độc đáo đó đồng thời cũng là những TNDL tự nhiên đặc sắc, rất hấp dẫn khách DL. b) Tài nguyên DL văn hóa - Di tích lịch sử văn hóa (LSVH) “Di tích LSVH là những công trình xây dựng và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị LSVH và khoa học” [19]. Di tích LSVH bao gồm: di tích khảo cổ, DTLS (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân), di tích kiến trúc nghệ thuật và danh lam thắng cảnh.
Các giá trị lịch sử, văn hóa của những công trình này có ý nghĩa lớn trong việc khơi dậy lòng tự hào dân tộc, lòng yêu nước cũng như mang những thông điệp về truyền thống văn hóa, lịch sử của dân tộc. Chính vì thế, những công trình đó được đánh giá rất cao trong việc mang đến sức hấp dẫn của điểm DL. Ý nghĩa quan trọng của các công trình còn được thể hiện ở cấp phân loại mà nó nhận được ở các cấp: quốc gia, địa phương. 14 Hệ thống công trình văn hóa, lịch sử được xem xét ở các chỉ tiêu về: số lượng và chất lượng di tích trên lãnh thổ.
Chất lượng di tích biểu hiện bằng sự có mặt của các công trình có giá trị quốc tế (di sản thế giới) và quốc gia (di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia) [19] * Lễ hội Lễ hội là nét sinh hoạt văn hóa mang tính cộng đồng và có sức hấp dẫn DL. Về cơ bản, trên lãnh thổ thường có 2 nhóm lễ hội: lễ hội truyền thống và lễ hội hiện đại. Lễ hội truyền thống thường có sự gắn kết với các di tích lịch sử văn hóa. Lễ hội hiện đại có yếu tố mới lạ như các fesival đã và đang góp phần đa dạng các sản phẩm DL ở những địa phương tổ chức: Fesival hoa, festival nghề truyền thống Huế; canavan Hạ Long; lễ hội DL biển…Ở một số vùng, các lễ hội hiện đại ngày càng có sức hút mạnh mẽ đối với khách DL.
Thời gian diễn ra lễ hội và quy mô lễ hội là hai yếu tố cần xem xét khi khai thác tài nguyên này cho mục đích DL [30] * Làng nghề và sản phẩm nghề Làng nghề là tổ chức kinh tế tiểu thủ công nghiệp có mặt ở hầu khắp các địa phương. Sự tồn tại của làng nghề hiện nay được xem như những biểu hiện của văn hóa và sản xuất truyền thống được kết tinh qua các thế hệ làm nghề. DL làng nghề được đánh giá cao trong hấp dẫn du khách thông qua các hoạt động tham quan, trải nghiệm quy trình sản xuất sản phẩm, tiêu dùng sản phẩm nghề. Mặc dù vậy, PTDL làng nghề cần hình thành chuỗi liên kết DL – làng nghề - tiêu thụ sản phẩm để góp phần nâng cao giá trị trải nghiệm và sự hài lòng của khách hàng.
* Các tài nguyên DL văn hóa khác Các giá trị văn hóa biểu hiện ở phong tục tập quán, văn hóa ứng xử, dân ca, dân vũ, văn hóa ẩm thực…đều mang đến những sắc thái riêng của cộng đồng bản địa; tạo ra sự hiếu kỳ của du khách thập phương. Loại hình DL văn hóa, DL cộng đồng đã và đang khai thác dựa trên những giá trị độc đáo của nhóm tài nguyên gắn với dân tộc học này. Các nhân kinh tế - xã hội a) Cơ sở hạ tầng Hệ thống CSHT bao gồm: mạng lưới giao thông, thông tin liên lạc, hệ thống cấp, thoát nước; mạng lưới điện có ảnh hưởng đến khả năng khai thác các tài nguyên DL của lãnh thổ. Vai trò của giao thông thể hiện ở mật độ mạng lưới đường; số lượng và chất lượng phương tiện; các điểm dừng đỗ; sự phong phú trong loại hình giao thông.