Chương 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN LIÊN QUAN TỚI ĐÈ TÀI 1. Một số khái niệm 1. Du lịch Khi nền kinh tế phát triên đời sống của con người được nâng cao, nhu cầu vui chơi, giải trí từ đời sống mọi người hình thành từ đó ngành dịch vụ du lịch ra đời. Thuật ngừ “du lịch” có nhiều cách hiêu khác nhau và chưa thống nhất về khái niệm chung.
Hiện nay, có nhiều tô chức, nhà nghiên cíh.1 trong nước và thế giới có nhiều khái niệm về du lịch khác nhau như: Năm 1811, Lần đầu tiên tại nước Anh với nội dung “Du lịch là sự phối họp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí” [54, Tr 5]. Với khái niệm này du lịch được hiêu là cuộc hành trình thực tế của con người với mục đích chình là vui chơi giải trí. Tại Italia (1963) tô chức Liên Họp Quốc đã đưa ra khái niệm du lịch “Du lịch là tông hợp các mối quan hệ, hiện ưrợng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn ư'r các cuộc hành trình và hru trú cùa cá nhân hay tập thê ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình”. Vậy dịch vụ, kinh tế bắt nguồn tò hành trình đi du lịch của cá nhân, tập đi khỏi nơi cư trú thường xuyên.
Mục đích cùa chuyến du lịch là hòa binh được đưa lên hàng đầu không phải là vui chơi giải trí. Năm 1991 Tại Otawa Canada: Hội nghị quốc tế về Thống Kê Du Lịch đưa ra khái niểm du lịch là hoạt động cùa con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên, trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tô chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là đê tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng đen thăm. Theo liên hiệp quốc tế các tô chức lữ hành chính thức (IUOTO) du lịch được hiêu là hành động du khách đến một nơi khác với địa điêiư cư trú thường xuyên của mình 10 nhằm mục đích không phải đê làm ăn, tóc không phải làm ra một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sổng [53, tr 21] Ngoài ra ở mọi góc độ khác nhau thì có cái nhìn về du lịch khác nhau Dưới góc độ của khách: Du lịch là một trong những hình thirc chuyến đi tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một mrớc này sang một nước khác mà không thay đôi nơi cư trú hay nơi làm việc”. Với góc độ này du lịch nhằm tìm hiểu khám phá nơi đến cùa mình.
Dưới góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan, giải trí, nghi ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thê thao, nghiên círu khoa học và các nhu cầu khác [53, tr 22] Theo khái niệm thì dưới mõi góc nhìn khác nhau thì DL ngoài mục đích trên du khách còn tiêu thụ những dịch vụ nơi đến mà còn là một lĩnh vực kinh tế là không sản xuất, với cách nhìn này du lịch có sự phân định rõ ràng nội hàm của thuật ngữ du lịch thành hai nội dung riêng biệt: Thứ nhất: Là hiện tượng di chuyên con người trong xã hội. Thír hai: Tiêu thụ trong qua trình đến một nơi khác với nhiều mục đích khác nhau. Luật du lịch năm 2017 đưa ra định nghĩa “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi cùa con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghi dưỡng, giải trí, tìm hiêu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” [32, mục 1, Điều 3] đê làm căn cứ cho việc đánh giá phân tích khoa học cho luận văn Ta thấy, dưới cách nhìn nhận nào về khái niệm của du lịch có chứa chứa 2 thành phần cơ bản sau: Thứ 1: Hành động rời khỏi nơi cư trú thuyền xuyên của con người dưới hình thức tập thê hay cá nhân không phải: Làm việc, kiếm tiền hay học tập, mà mục đích chính: Tiềm hiêu văn hóa nơi họ đến, nhằm thòa mãng như cầu mục đích của chuyến đi. Thứ 2: Là ngành kinh tế tông hợp cơ bản nảy sinh trong chuyến đi của con người Ngoài ra, du lịch là một hiện tượng xã hội góp phần nâng vào việc cao dân trí, phục hồi sức khỏe cộng đồng, giáo dục lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc và thúc đây 11 hòa bình quốc tế.
Vì vậy, chúng ta phải có trách nhiệm đổi với du lịch nhir ngành giáo dục hay các lĩnh vực văn hóa khác, cần quán triết các biện pháp khai thác quá mứt các nguồn tài nguyên du lịch đê kinh doanh du lịch, chúng ta muốn phát triên bền vững du lịch trước hết cần phải quan tâm đến bảo vệ nguồn tài nguyên du lịch 1. Du ỉịch biên - đảo Du lịch biên - đảo là loại hình du lịch phát triển dựa vào khai thác tài nguyên và không gian biên - đảo. Dựa vào khái niệm cùng với đặc diêm phát triên loại hình du lịch nay tác giả đưa ra nhận định du lịch biên đảo như sau: Du lịch biên - đảo là loại hình du lịch phát triển được nhờ dựa vào khai thác các tiềm năng du lịch biên - đảo, tài nguyên thiên nhiên và không gian biên - đảo với các dịch vụ du lịch tạo ra các sản phâm du lịch biên - đảo đê phục vụ nhu cầu tham quan du lịch cho du khách. Ngoài ra, Theo Viện Nghiên círu và Phát triển Du lịch (2010): DLBĐ phát triên trên cơ sở khai thác tài ựr nhiên ư'r biên - đảo.
Với đặc thù cùa DLBĐ thường hình thành các loại hình du lịch như: Tam biên, tắm nang, thê thao nước, lặng ngắm san hô, khám phá văn hóa biên thỏa mãn nhu cầu nghi ngơi, chừa bệnh, vui chơi, cùa du khách. Nói cách khác, DLBĐ là loại hình du lịch ờ vùng ven biên, trên bãi biên và vùng đất mặt nước ven biên và các hải đảo. Với cách tiếp cận khái niệm du lịch biên - đảo chúng ta có thê hiêu được hoạt động DLBĐ cũng như yếu tổ khác phục vụ cho các hoạt động du lịch diễn ra tại vùng biên - đảo, trên cơ sở khai thác các tài nguyên ựr nhiên của biên - đảo. Diêm du lịch Theo luật du lịch Việt Nam 2017: “Diêm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch được đầu tư, khai thác phục vụ khách du lịch” [32, mục 7, điều 3].
Diêm du lịch là phân vị nhò nhất trong lãnh thô du lịch tự nhiên hay một công trình du lịch do con người tạo ra hoặc cả hai yêu tổ trên, nó được đầu tư đáp ứng nhu cầu tham quan cùa khách du lịch. Thời gian tham quan hru lại tại diêm du lịch không quá 24 giờ, trừ một số nơi phục vụ nhu cầu cỉữra bệnh hay nhà nghi của các cơ quan [68, Tr 67, 68] 12 Với đề tài nghiên cứu về DLBĐ, điêm du lịch biên - đảo là một địa diêm cụ thê phân bố ở vùng biên, ven biên hoặc trên đảo, ờ đó biên - đảo được khai thác chính. Điêm du lịch hấp dẫn, có các loại hình du lịch đặc trưng có sức hấp dẫn thu hút du khách trong và ngoài nước tìm đen tham quan, tại diêm du lịch có đầy đù cơ sở hạ tầng và các dịch vụ cần thiết đáp ứng nhu cầu cùa du khách. Khu du lịch Theo luật du lịch Việt Nam 2017 KDL “Là khu vực có lĩu thế về tài nguyên du lịch, được quy hoạch, đầu tư phát triên nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng cùa khách du lịch.
KDL bao gồm khu du lịch cấp tinh và khu du lịch quốc gia. Các tiêu chí đê công nhận KDL quốc gia bao gom điều kiện: Có ít nhất 2 tài nguyên nam trong danh mục các khu vực tiềm năng phát triển khu du lịch quốc gia được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trên bản đồ KDL địa hình phải có ranh giới xác định do cơ quan có thâm quyền xác nhận. Ngoài ra trong khu du lịch quốc gia phải đạt chất lương cao, hàng năm có thê phục vụ 500,000 hrợt khách.
Đặc biệt trong KDL quốc gia khu hru trá phải đạt chất lượng 4 sao có chất lượng tốt, đồng bộ đáp ứng được nhu cầu vui chơi, giải trí, nhu cầu ăn uổng cùa khách tham quan tại KDL. Khu du lịch đảm bảo điều kiện về an ninh, trật ựr, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường bao gồm: Hệ thống thu gom và xử lý rác thải, nước thải tập trung theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Tiêu chí được công nhận một khu DL cấp tinh thì khu du lịch đó cần phải đáp ứng các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 26, luật du lịch 2017 như. Diện tích khu DL có tài nguyên tối thiêu là 200 héc ta, các dịch vụ trong KDL phục vụ ít nhất 200.000 lượt khách trong 1 năm, không gian quy hoạch phát triên rõ ràng, mặt bằng phục vụ du khách phải đạt tiêu chuân, đù đáp ứng nhu cầu tham quan, nghi ngơi trong KDL.
Ngoài ra, phải đạt tiêu chuẩn, quy chuân kỳ thuật về du lịch ban hành. Trung tâm du lịch Theo Bùi Thị Hải Yen “Là sự kết hợp các loại hình DL, cùng loại hay khác loại trên cùng một lãnh thô du lịch. Mật độ trên trung tâm lãnh thô tương đối dày, nhiều diêm 13 du lịch tập trung lại với nhau trên cùng một lãnh thô. Ngoài ra, chức năng đặc trưng cùa trong tâm du lịch là sự gan kết lãnh thô về mặt kinh tế, kỹ thuật và tô chức tạo ra sire hút cho khách du lịch đến tham quan (Nội địa, Quốc tế) rất lớn”.
[68, Tr70] Trung tâm du lịch là nơi có quy mô nhất định về diện tích. Ngoài ra csvc và CSHT trong trong tâm du lịch phải tương đối đầy đủ đê đáp ứng nhu cầu cùa du khách khi đến tham quan và lưu trú lại. về độ lớn trong tâm du lịch thường có diện tích tương đương với lãnh thô cấp tinh hay một thành phố trực thuộc [68, Tr 70]. Theo luận văn, trong tâm du lịch biên - đảo là một nơi có không gian về lãnh thô thuộc vùng biên, ven biên, hoặc hải đảo, ở đó tập trong các diêm du lịch, các diêm du lịch biên - đảo.
Các diêm du lịch được khai thác trên cơ sở nguồn tài nguyên du lịch biên - đảo kết hợp với cơ sờ hạ tầng.