Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC VỀ CẤP NƯỚC CHO CÁC ĐẢO DU LỊCH 1. Khái quát chung Nước ta có nhiều đảo có tiềm năng lớn về du lịch và việc nghiên cứu biện pháp cấp nước cho các đảo này luôn được nhiều nhà khoa học và các cấp chính quyền quan tâm nghiên cứu và đầu tư. Dưới đây là khái quát kết quả nghiên cứu, tổng kết từ các công trình khoa học, dự án cấp nước và biện pháp cấp nước cho đảo ở nước ta đã được nghiên cứu, ứng dụng.
Đề tài nghiên cứu khoa học 1. Đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ (Bộ Giáo dục và Đào tạo): “Nghiên cứu mô hình cấp nước cho các khu dân cư ven biển và hải đảo”, Mã số B2006-03-12TĐ do PGS. Nguyễn văn Tín – Viện Khoa học và Kỹ thuật môi trường - Trường Đại học Xây dựng làm chủ nhiệm. Đề tài đã đề xuất ba giải pháp cấp nước sau: 1) Khai thác nước ngầm áp dụng cho các đảo có nước ngầm.
2) Làm hồ chứa để trữ nước mưa cùng hệ thống lọc nước mặt áp dụng cho các đảo có điều kiện làm hồ chứa. 3) Trữ nước mưa bằng các bể chứa. Đối với các bể chứa nước lớn nên xây dựng bằng bê tông cốt thép chống ăn mòn trong môi trường biển bằng tổng hợp các cách sau: - Thay đổi thành phần khoáng của xi măng hoặc dùng xi măng bền sulfat. - Nâng cao độ đặc của bê tông, sử dụng các sản phẩm SP-MFS-92A của Viện Hóa kỹ thuật – Học viện Kỹ thuật quân sự, hoặc Sikamet 163 EX của hãng SIKA, hoặc Darex Super 20 của hãng Grace (Mỹ).
- Biến đổi các sản phẩm thủy hóa: dùng phụ gia khoáng hoạt tính như Puzolan, SiO2. 5 - Ngăn cách bê tông với môi trường nước ăn mòn, gió biển bằng cách sơn mặt ngoài, quét bitum, ốp, dán tạo mặt phủ như Epoxy, composite. - Bảo vệ cốt thép bằng sơn có nguồn gốc từ epoxy hoặc xi măng. Đề tài cũng khuyến cáo các bể chứa nước có dung tích nhỏ nên dùng vật liệu là composite nhưng cần lưu ý là phải sử dụng các phụ gia để bảo đảm độ bền vững đối với tia cực tím.
Đường ống cấp nước nên dùng ống chất dẻo loại uPVC hoặc HDPE. Các ống cần chôn trong đất với độ sâu nhỏ nhất 0,5 m. Đề tài khoa học cấp Bộ (Bộ Nông nghiệp và PTNT): “Nghiên cứu các giải pháp sử dụng hiệu quả nước mưa cho các vùng đô thị”, do ThS. Giang Thị Thu Thảo – Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước làm chủ nhiệm.
Đề tài đã nghiên cứu đề xuất giải pháp thu trữ nước mưa bằng các bể bê tông cốt thép dùng cho công sở có dung tích trữ W ≥ 10,0 m3 và dùng cho hộ gia đình có W ≥ 2,0 m3. Đề tài cũng giới bản thiết kế mẫu hệ thống thu trữ nước mưa từ mái nhà vào các bể chứa, hệ thống lấy nước từ bể chứa cho các mục đích tiêu dùng và sinh hoạt, phương pháp quản lý vận hành hệ thống thu trữ và sử dụng nước mưa. Các giải pháp cấp nước cho các đảo đang được áp dụng Hình 1.1: Thuyền chở nước ngọt từ đất liền ra đảo 6 1) Đảo Cồn Cỏ thuộc tỉnh Quảng Trị có diện tích 230 ha, dân số khoảng trên 500 người (2012). Đảo Cồn Cỏ đã được nâng cấp thành đơn vị hành chính cấp huyện theo Nghị định số 174/2004 NĐ-CP ngày 01/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ.
Từ đó Cồn Cỏ đã được Nhà nước đầu tư nhiều cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế - xã hội. Năm 2006 quy hoạch du lịch đảo Cồn Cỏ được các chuyên gia Cu Ba lập, theo đó diện tích của đảo dành cho du lịch là 40 ha với lượng khách du lịch hàng năm trên 20. Do nằm cách đất liền từ 13 đến 19 hải lý, sông suối rất nhỏ, khả năng sinh thủy thấp nên giải pháp cấp nước cho đảo được lựa chọn là nước mưa và nước ngọt được chở từ đất liền ra. 2) Xã đảo Tam Hiệp thuộc thị xã Hội An tỉnh Quảng Nam, bao gồm toàn bộ Cù Lao Chàm (gồm 8 hòn đảo nhỏ), có diện tích 1.616 ha, dân số khoảng 3.
Hàng ngày xã đảo đón khoảng 1.000 khách du lịch đến thăm. Năm 2003 Khu Bảo tồn thiên nhiên Cù Lao Chàm được thành lập. Năm 2009 Cù Lao Chàm được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Nguồn nước sinh hoạt cung cấp cho đảo lấy từ hồ chứa nước mưa Bãi Bìm.
Nước từ hồ trước khi cấp cho các hộ dùng nước được xử lý qua bể lọc chậm dung tích 200 m3 và hệ thống đường ống cấp nước tự chảy đường kính từ 90 – 110 mm. 3) Đảo Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi cách đất liền 15 hải lý, có diện tích tự nhiên 997 ha, dân số khoảng trên 21. Lý Sơn bao gồm 3 đảo là đảo Lớn (Lý Sơn, cù lao Ré), đảo Bé (cù lao Bờ Bãi) và hòn Mù Cu. Năm 1992 đảo Lý Sơn được Chính phủ nâng cấp thành đơn vị hành chính cấp huyện với 3 xã là An Vĩnh (huyện lỵ - đảo Lớn), An Hải (đảo Lớn) và An Bình (đảo Bé).
Các đảo thiếu nước quanh năm, nguồn nước ngọt cấp cho đảo đều là nước tại chỗ. Lượng nước trữ vào mùa mưa không đủ cấp cho cả năm. Đảo Bé hầu như không có nước ngọt. Đảo Lớn có một số giếng khơi nhưng chỉ sử dụng được trong mùa mưa còn mùa khô bị nhiễm mặn.
Các đảo khác không có nước ngầm. Để có nước sinh hoạt, người dân trên đảo phải sắm bể, lu, vại lớn để chứa nước mưa. Một số gia đình xây bể có dung tích trên 10 m3 để thu trữ nước mưa. 7 Hiện nay trên đảo Lớn đã được Nhà nước đầu tư xây dựng hồ chứa nước Thới Lới có khả năng cung cấp 16.000 m3 nước/ngày đêm cho khoảng 80% dân số trên đảo Lớn.
4) Đảo Thổ Chu là một trong 8 hòn đảo thuộc xã đảo Thổ Châu huyện đảo Phú Quốc tỉnh Kiên Giang, cách đảo Phú Quốc khoảng 55 hải lý, cách Mũi Cà Mau khoảng 85 hải lý. Đảo Thổ Chu có diện tích tự nhiên 1.395 ha, dân số năm 2013 có khoảng gần 2. Đảo Thổ Chu chưa có công trình thủy lợi cấp nước sinh hoạt. Nguồn nước sạch cung cấp cho đảo chủ yếu là nước mưa trữ trong các bể chứa.
Một số nơi lấy nước từ giếng đào nhưng trữ lượng ít, chủ yếu sử dụng trong mùa mưa còn mùa khô thường không có nước hoặc bị nhiễm mặn không sử dụng được. 5) Đảo Hòn Mê thuộc huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hoá, cách đất liền khoảng 5,9 hải lý có diện tích 420 ha. Hiện nay Hòn Mê chưa có dân sinh sống, chỉ có lực lượng quân đội đóng quân. Hòn Mê là một trong 16 khu bảo tồn biển đã được đề xuất trong Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020.
Hòn Mê cũng là một trong những địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn nằm trong quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020. Nguồn nước ngọt cung cấp cho đảo chủ yếu là nước mưa được trữ trong các bể chứa và chở từ đất liền vào. 6) Đảo Lớn (hay hòn Củ Tron) thuộc xã đảo An Sơn nằm trong quần đảo Nam Du huyện đảo Kiên Hải tỉnh Kiên Giang, có diện tích tự nhiên khoảng 1.400 ha, cách bờ biển Rạch Giá trên 32 hải lý. Hiện nay đảo có khoảng 4.
Trên đảo có một hồ chứa nước ngọt do nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương xây tặng và một số giếng đào nhưng về mùa khô cả hồ và giếng đều khô cạn nước. Ngoài nguồn nước nêu trên, nước ngọt cung cấp cho dân trên đảo chủ yếu vẫn là nước mưa trữ trong các bể chứa quy mô hộ gia đình.2: Lu chứa nước ngọt của nhân dân trên đảo 7) Đảo Phú Quý (còn gọi là cù lao Thu hay cù lao Khoai Xứ có diện tích tự nhiên khoảng 1.600 ha, dân số khoảng 27.000 người, là một địa điểm du lịch nổi tiếng của tỉnh Bình Thuận. Chuyên trang du lịch CNN (travel.com) cho hay: Đảo Phú Quý là 1 trong 9 nơi nghỉ dưỡng đẹp nhất của biển Đông, đồng thời là 1 trong 5 nơi nghỉ dưỡng đẹp nhất mà Việt Nam sở hữu như: Côn Đảo, đảo Cát Bà, Vinpearl và Whale Island (Nha Trang). Đảo Phú Quý cách thành phố Phan Thiết tỉnh Bình Thuận khoảng 56 hải lý.
Huyện đảo Phú Quý gồm đảo Phú Quý và 9 đảo nhỏ ở lân cận không có dân sinh sống. Nước ngọt cung cấp cho hơn 27.000 dân của đảo chủ yếu là nước ngầm và nước mưa trữ trong các bể của từng hộ gia đình và trữ trong các hồ chứa nước công cộng có tổng diện tích mặt nước khoảng 90 ha. Đến năm 2013 Nhà nước đã đầu tư cho huyện đảo hơn 120 giếng khoan bơm tay UNICEF để lấy nước sinh hoạt và hai nhà máy nước tại xã Ngũ Phụng và Long Hải với công suất 2.200 m3/ngày đêm, đáp ứng được trên 90% nhu cầu nước ngọt của huyện đảo. Nhận xét chung Hầu hết các đảo có người ở (dân định cư và lực lượng vũ trang) đã và đang được quy hoạch thành các khu du lịch sinh thái biển đều rất khó khăn về nguồn nước ngọt.
Hiện tại, nguồn nước ngọt cung cấp cho các đảo này chủ yếu là nước mưa được trữ lại trong các chum vại lớn và trong các bể chứa có quy mô hộ gia đình hoặc trong các hồ nhân tạo. Một số đảo có diện tích tương đối lớn, có thảm thực vật phong phú, có dòng chảy ngầm đều được đào giếng để lấy nước, đảo nào 9 có điều kiện địa hình, địa chất thuận lợi cho việc làm hồ đều đã được đầu tư xây dựng hồ chứa nước ngọt. Tuy nhiên về mùa khô hầu hết các công trình này (hồ và giếng nước) đều cạn khô nước. Việc sử dụng tàu thuyền chuyên chở nước ngọt từ đất liền ra đảo để bán cho người dân sống ngoài đảo cũng là một giải pháp phổ biến hiện nay.
TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN TIỀN HẢI 1. Tổng quan điều kiện tự nhiên huyện Tiền Hải 1. Vị trí địa lý Huyện Tiền Hải nằm ở phía Đông Nam tỉnh Thái Bình, có tọa độ địa lý từ 20o17’đến 20o28' vĩ độ Bắc; từ 106o27' đến 106o35' kinh độ Đông. Biên giới của huyện như sau: Phía Bắc giáp huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình, ranh giới là sông Trà Lý.
Phía Nam giáp huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định, ranh giới là sông Hồng. Phía Tây giáp huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình. Phía Đông giáp biển Đông. Cồn Vành Hình 1.