Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu về du lịch sinh thái 1. Trên thế giới “DLST là một loại hình du lịch có nguồn gốc từ du lịch thiên nhiên, được xem như một phương pháp hữu hiệu nhằm thỏa mãn lòng khao khát cháy bỏng của con người đến với thiên nhiên, gắn BVMT tự nhiên với phát triển bền vững.” [39] Khi con người bắt đầu quan tâm về vấn đề BVMT, cũng là lúc DLST được nhắc tới ngày càng nhiều hơn, nhất là từ sau hội nghị thượng đỉnh về môi trường tổ chức tại Thụy Điển năm 1972. Nhưng nó chỉ thực sự được nghiên cứu vào thập kỷ 80 của thế kỷ XX, DLST đã được Hector Ceballos Lascurain – một nhà nghiên cứu tiên phong về loại hình du lịch này đưa ra định nghĩa đầu tiên vào năm 1987 – đã thu hút sự quan tâm của nhiều người trên phạm vi toàn thế giới.
Năm 1990, hiệp hội DLST Quốc tế được thành lập. Ở phạm vi quốc gia, một số nước cũng đã thành lập hiệp hội DLST quốc gia như: Brazil, Úc, Vênêzuêla… Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu DLST mang tính lý thuyết cũng như thực tiễn cao như: Ecotourism: Principles, practices & policies for sustainability; Tourism planning; Ecotourism planning for protected areas; The sustainability of ecotourism in Indonesia; Ecotourism and deverlopment, … hầu hết các tài liệu này đều đã đưa ra các quan điểm, các nguyên tắc về DLST. Tuy nhiên tùy thuộc vào mục tiêu, đối tượng khai thác du lịch và tùy từng quốc gia mà có quan niệm khác nhau, nhưng nhìn chung, các tác giả đều cho rằng DLST là một loại hình du lịch tối ưu, đảm bảo thực hiện được hai chức năng: phát triển và bảo tồn. Các quốc gia đứng đầu về DLST hiện nay là Australia, New Zealand, Thụy Điển, Đan Mạch, Thụy Sỹ, Canada, Hoa Kỳ, ở khu vực Đông Nam Á có Mailaisia, Mianma… Do nhu cầu đặc biệt cho chăm sóc sức khỏe con người về thể chất, tinh thần, nâng cao nhận thức về thiên nhiên, cũng như BVMT cho người dân trên toàn cầu, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã lấy năm 2002 là “Năm Quốc tế DLST” nhằm tôn vinh ý nghĩa quan trọng của DLST, những ảnh hưởng và các lợi ích mà DLST mang lại đối với vấn đề BVMT.
Tại Việt Nam DLST mới được nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Vào năm 1995, một dự án thí điểm đầu tiên nằm trong khuôn khổ hợp tác Quốc tế về nghiên cứu, lập quy hoạch cho những cơ hội phát triển du lịch thám hiểm thiên nhiên ở Việt Nam. Với các nhà chuyên môn New Zealand, đây là tiền đề của DLST ở Việt Nam. Từ đó, ta có các chương trình xây dựng quy hoạch phát triển DLST với công cụ có giá trị.
Những đề tài, công trình đã tiếp cận với lĩnh vực du lịch liên quan đến môi trường và con người như: Tài nguyên môi trường và du lịch Việt Nam; Quy hoạch du lịch bền vững; Chiến lược quốc gia về phát triển DLST tại Việt Nam;… Nhìn chung, các công trình này đều mang tính chất định hướng, lý thuyết cao, tính thực tiễn còn hạn chế, hiệu quả áp dụng không cao. Trong nhiều hội thảo đã tiến hành thảo luận về lợi ích cũng như ảnh hưởng của DLST đối với BVMT đã được tổ chức như: Hội thảo về DLST với phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam (1998), Hội thảo Quốc gia về xây dựng chiến lược phát triển DLST ở Việt Nam (1999), Hội thảo khoa học về phát triển DLST trong khu dự trữ sinh quyển “cơ hội và thách thức” (2004)… Với tiềm năng DLST mà thiên nhiên ban tặng, Việt Nam tiến hành quy hoạch DLST trên quy mô toàn quốc dựa trên tiềm năng của các rừng đặc dụng mà tiêu biểu là các VQG: Ba Bể, Ba Vì, Bái Tử Long, Bạch Mã, Côn Đảo, Phong Nha, Tam Đảo, U Minh Thượng… [20] VBG Ba Bể được xếp là một trong 20 thắng cảnh đẹp nhất Việt Nam [30, 31] nhưng do nằm cách xa các khu trung tâm kinh tế, hành chính, văn hóa của cả nước; việc đi lại gặp nhiều khó khăn nên chưa thu hút được khách du lịch cũng như sự quan tâm của các nhà đầu tư. Trong những năm gần đây, điều kiện vật chất, giao thông đi lại được cải thiện, VQG Ba Bể đã bắt đầu thu hút được sự chú ý của các nhà đầu tư, của khách du lịch và của các nhà khoa học. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã và đang được tiến hành trong khu vực, bao gồm: Luận chứng kinh tế - kỹ thuật VQG Ba Bể; Điều tra, đánh giá hiện trạng môi trường, đề xuất giải pháp khai thác hợp lý phục vụ phát triển KT - XH và BVMT vùng hồ VQG Ba Bể; n 6 Nghiên cứu vùng đệm và đề xuất một số giải pháp phát triển bền vững ở VQG Ba Bể; Nghiên cứu KT - XH, nguyên nhân sâu xa của sự suy giảm đa dạng sinh học (ĐDSH) ở hai vùng khác nhau của Việt Nam, nghiên cứu mẫu ở khu vực VQG Ba Bể và KBTTN Na Hang ở phía Bắc và VQG Yok Don ở Tây Nguyên; Quy hoạch phát triển nông – lâm nghiệp và nông thôn huyện Ba Bể giai đoạn 1999 – 2010; … Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và kế thừa các thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước trong lĩnh vực DLST về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, luận văn giải quyết một cách có hệ thống mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn về vấn đề này và vận dụng vào nghiên cứu trong điều kiện khu vực VQG Ba Bể.
Các vấn đề cơ bản về du lịch sinh thái 1. Khái niệm về du lịch sinh thái 1. Du lịch Trên thế giới, khái niệm du lịch được đưa ra từ rất sớm, với rất nhiều khái niệm khác nhau. Các định nghĩa truyền thống chỉ xem du lịch đơn giản như một kỳ nghỉ hoặc một chuyến đi để giải trí, làm phong phú thêm nhận thức của con người.
Theo Dowling & Weiler “Du lịch là sự di chuyển tạm thời của người dân đến ngoài nơi ở và làm việc của họ, là những hoạt động xảy ra trong quá trình lưu lại nơi đến và các cơ sở vật chất tạo ra để đáp ứng những nhu cầu của họ” [41] Hay trong định nghĩa của Pirojnik, một nhà địa lý người Belarus đã đưa ra định nghĩa về du lịch mà trong đó không dùng tới cụm từ di chuyển tạm thời, một trong những yếu tố để phân biệt một chuyến di chuyển bình thường với một chuyến du lịch là sử dụng thời gian nhàn rỗi: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian nhàn rỗi có liên quan đến sự di cư và lưu trú tạm thời ngoài nơi ở thường xuyên nhằm mục đích phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức vằn hóa hoặc hoạt động thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ”. [8] Định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới đã xác định rõ: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. [38] n 7 Ở Việt Nam khái niệm du lịch được định nghĩa chính thức trong Luật Du lịch (2005): “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. [14] Tóm lại, du lịch là hoạt động mang tính không thường xuyên của con người ở ngoài nơi công tác và nơi cư trú, diễn ra vào thời gian rảnh rỗi, nhằm mục đích tham quan, vui chơi giải trí, phục hồi sức khỏe đồng thời nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh.
Tác động của du lịch đến địa bàn hoạt động du lịch là trên mọi khía cạnh và tùy thuộc từng loại hình du lịch cụ thể. Ngược lại thì địa bàn lại quy định sự có mặt của các loại hình du lịch. Tài nguyên du lịch “Tài nguyên du lịch là các thành phần và các tổ hợp khác nhau của cảnh quan tự nhiên, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, tuyến du lịch, khu du lịch, đô thị du lịch…” [14] Tài nguyên du lịch được chia làm hai dạng là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Các tài nguyên này có thể đang được khai thác hoặc chưa khai thác.
Mức độ khai thác tiềm năng tài nguyên DLST phụ thuộc nhiều yếu tố: khả năng nghiên cứu và đánh giá các tiềm năng tài nguyên vốn còn tiềm ẩn, yêu cầu phát triển các sản phẩm DLST, trình độ phát triển khoa học công nghệ tạo các phương tiện khai thác tiềm năng tài nguyên… Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa mạo, địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật, hệ sinh thái (HST), cảnh quan thiên nhiên, di sản thiên nhiên có thể được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn là nhóm tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo do con người sáng tạo ra. Bao gồm truyền thống văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng vào mục đích du lịch. [17, 29] n 8 Tài nguyên du lịch được xem như là tiền đề để phát triển du lịch.
Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu. Và nơi nào có tài nguyên du lịch phong phú thì sẽ có điều kiện thuận lợi để tổ chức nhiều loại hình du lịch với nhiều sản phẩm du lịch có giá trị đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.