Tổng quan luận án
Công trình "Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở Thủ đô Viêng Chăn" được tác giả Sư Lao Sô Tu Ky thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hoàng Thị Bích Loan, bảo vệ năm 2014 tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Luận án thuộc chuyên ngành Kinh tế chính trị, mã số 62 31 01 01.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh khoa học công nghệ, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức phát triển, nguồn lực con người giữ vai trò quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Đối với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, sau nhiều năm chiến tranh và xuất phát điểm kinh tế thấp, mức sống nhân dân còn khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn, chất lượng giáo dục, y tế và chỉ số phát triển con người còn thấp. Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào xác định nguồn lực con người là yếu tố quyết định, ưu tiên hàng đầu; Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX tiếp tục khẳng định phát triển nguồn nhân lực là khâu trọng điểm, đặc biệt trong việc xây dựng và bồi dưỡng trình độ cán bộ. Thủ đô Viêng Chăn giữ vị trí trung tâm kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật và văn hóa - xã hội của Lào, song nguồn nhân lực chất lượng cao tại đây còn hạn chế về số lượng và chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Khoảng trống nghiên cứu được chỉ ra là cho đến thời điểm thực hiện đề tài, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu hoàn chỉnh, có hệ thống về vấn đề phát triển nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội tại Thủ đô Viêng Chăn dưới góc độ kinh tế chính trị.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội; phân tích, đánh giá thực trạng làm rõ cơ sở thực tiễn nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở Thủ đô Viêng Chăn giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2013; từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu và kiến nghị nhằm đảm bảo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô Viêng Chăn đến năm 2020.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội.
- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội của một số địa phương ở Việt Nam.
- Trình bày thực trạng, phân tích, đánh giá thực tiễn nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở Thủ đô Viêng Chăn thời kỳ từ năm 2006 đến năm 2013.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu đảm bảo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô Viêng Chăn đến năm 2020.
- Kiến nghị về tổ chức thực hiện các giải pháp nhằm đảm bảo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở Thủ đô Viêng Chăn đến năm 2020.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở Thủ đô Viêng Chăn dưới góc độ kinh tế chính trị.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Về không gian: Nghiên cứu tại địa bàn Thủ đô Viêng Chăn.
- Về nội dung: Nghiên cứu chủ yếu các mặt thuộc chất lượng nguồn nhân lực như giáo dục, đào tạo, dân số, chăm sóc sức khỏe.
- Về thời gian: Tập trung trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2013.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được cấu trúc theo hai nhóm nghiên cứu chính: các công trình ở nước ngoài và các công trình tại Lào.
Nhóm công trình quốc tế và ở nước ngoài gồm có:
- Báo cáo của World Bank (1993) với nhan đề "The East Asian Miracle: economic growth and public policy" và nghiên cứu của Nancy Birdsall, David Ross, Richarch Sabot (1995) mang tên "Inequality and growth reconsidered: lesson from East Asia", trong đó khẳng định chính sách đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những nguyên nhân giúp các nước Đông Á đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao gấp hai đến ba lần các nước phát triển Âu - Mỹ.
- Báo cáo của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 2005) đưa ra cảnh báo về ba cái bẫy kỹ năng thấp ở các nước đang phát triển: kỹ năng người lao động thấp dẫn đến bẫy tiền lương thấp; công nghệ thấp dẫn đến người lao động không làm chủ được máy móc gây lãng phí; người lao động thiếu sáng kiến, sáng tạo do thiếu tích lũy kiến thức qua giáo dục - đào tạo.
- Các công trình của Paul Moris (1996) "Asia's four little dragons: a comparison of the role of education in their development", Ranis G (1996) "Another look at East Asia Miracle", ấn phẩm của ADB (1990, tái bản 1991) "Human resource policy and economic development", công trình của Landanov và Pronicov (1991) về tuyển chọn và quản lý công nhân viên chức ở Nhật Bản, cùng cuốn sách "International Differences in Growth Rates" (1994) nhấn mạnh vai trò của vốn nhân lực trình độ cao.
- Tại Việt Nam, nhiều công trình lý luận và thực tiễn được phân tích: Bùi Văn Nhơn (2006) trong "Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội"; Phạm Minh Hạc (1996) trong "Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế - xã hội" và Phạm Minh Hạc chủ biên (2007) trong "Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước"; Nguyễn Hữu Dũng (2003) với "Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam"; Trần Khánh Đức (2010) với "Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI"; Trần Kim Hải (1999) với luận án tiến sĩ kinh tế chính trị về sử dụng nguồn lực trong công nghiệp hóa; Phạm Văn Mợi (2010) với luận án về nhân lực khoa học công nghệ ở Hải Phòng; Đào Quang Vinh (2006) với luận án về phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn; các bài viết của Nguyễn Tiệp, Phạm Công Nhất (2007), Vũ Thị Phương Mai (2004), Tăng Minh Lộc (2008) và Bá Vũ Thế.
Nhóm công trình khoa học tại Lào gồm có:
- Đề tài hội thảo khoa học cấp Nhà nước do Ban Tổ chức Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào chủ nhiệm (2007) về công tác phát triển nguồn nhân lực đối với 8 tỉnh miền Bắc và 9 tỉnh miền Trung, Nam nước CHDCND Lào;
- Các bài tham luận hội thảo khoa học Việt - Lào của Nguyễn Hải Hữu (2011) về phát triển nguồn nhân lực ở Lào và Nguyễn Đình Cử (2011) về giải pháp phát triển tài nguyên con người tại Lào;
- Các luận án tiến sĩ liên quan: Đệt Tạ Kon Phi La Phăn Đệt (2004) nghiên cứu về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các ban, ngành ở thành phố Viêng Chăn; Xỉ Tha Lườn Khăm Phu Vông (2005) nghiên cứu về vai trò của chính sách xã hội đối với phát huy nhân tố con người ở Lào; Khăm Phả Phim Ma Sỏn (2010) nghiên cứu về xây dựng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về kinh tế ở tỉnh Bolikhamsai.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình nêu trên tiếp cận nguồn nhân lực ở phạm vi vĩ mô toàn quốc Lào, hoặc chỉ giới hạn ở một nhóm cán bộ lãnh đạo thuộc sở ban ngành của Thành ủy và Ủy ban nhân dân Thành phố Viêng Chăn, hoặc nghiên cứu tại một tỉnh cụ thể khác. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, độc lập và có hệ thống về toàn bộ nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô Viêng Chăn dưới giác độ chuyên ngành kinh tế chính trị. Luận án định vị là công trình đầu tiên giải quyết khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, luận án dựa trên hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về tái sản xuất sức lao động và vai trò của con người trong lực lượng sản xuất, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, nghị quyết của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Nhà nước Lào về con người, cùng các lý thuyết đương đại về vốn con người của các tổ chức quốc tế (ILO, WB).
Tác giả luận án đưa ra định nghĩa tổng hợp: "Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc gia, có khả năng lao động của xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào quá trình lao động; Đó là tổng hợp thể lực, trí lực, tâm lực… của một bộ phận lực lượng lao động xã hội hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó".
Khung tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội được luận án phân chia thành bốn nhóm tiêu chí:
- Nhóm tiêu chí về số lượng và cơ cấu: Đánh giá qua quy mô dân số, tốc độ tăng dân số, tỷ lệ cân đối giữa số người trong độ tuổi lao động (theo chuẩn dân số học là 60 - 64%), số người quá tuổi lao động (10 - 12%) và chưa đến tuổi lao động (26 - 28%), cơ cấu theo giới tính và phân bố khu vực.
- Nhóm tiêu chí về chất lượng: Đánh giá qua thể lực (chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, sức bền cơ bắp); trí lực (trình độ học vấn, tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ đi học, trình độ chuyên môn kỹ thuật theo cấp bậc đào tạo, năng lực sáng tạo); phẩm chất đạo đức cách mạng và truyền thống văn hóa; kinh nghiệm sống, tác phong lao động công nghiệp; chỉ số phát triển con người (HDI) dựa trên ba tiêu chí thành phần: GDP bình quân đầu người, giáo dục và tuổi thọ.
- Nhóm tiêu chí về kết quả đào tạo, bồi dưỡng: Số lượt người được đào tạo nghề, số học sinh tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, sinh viên tốt nghiệp cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ.
- Nhóm tiêu chí về thu hút, sử dụng và trọng dụng: Tỷ lệ lao động có việc làm, phân bổ lao động theo ngành kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp và năng suất lao động.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học;
- Phương pháp lôgíc kết hợp với lịch sử;
- Phương pháp phân tích và tổng hợp;
- Phương pháp tiếp cận hệ thống;
- Phương pháp so sánh đối chiếu;
- Phương pháp thống kê kinh tế;
- Phương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn và phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu đã công bố.
Nguồn dữ liệu của luận án là dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thống kê chính thức của các cơ quan quản lý tại Thủ đô Viêng Chăn, các niên giám thống kê của nước CHDCND Lào, tài liệu báo cáo của các bộ ngành, số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), văn kiện Đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào các thời kỳ và kỷ yếu các hội thảo khoa học liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 trình bày chi tiết ba nội dung: các công trình khoa học có liên quan đến đề tài ở nước ngoài; các công trình khoa học có liên quan đến đề tài ở Lào; đánh giá kết quả các công trình khoa học đã nghiên cứu và chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Tác giả luận án tổng thuật các công trình quốc tế bàn về mối quan hệ giữa đầu tư giáo dục, phát triển kỹ năng và tăng trưởng kinh tế, đồng thời phân tích các mô hình tuyển dụng, quản trị công chức ở các quốc gia như Nhật Bản, Mỹ, các nước Tây Âu và các nước công nghiệp hóa mới ở Đông Á. Điểm lại các công trình nghiên cứu tại Việt Nam và Lào, chương 1 khẳng định các công trình đã cung cấp cơ sở phương pháp luận về phát triển nhân lực trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện việc đảm bảo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội tại Thủ đô Viêng Chăn dưới góc nhìn kinh tế chính trị học.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội
Chương 2 gồm ba tiết nội dung:
- Tiết 2.1 trình bày cơ sở lý luận chung: phân tích khái niệm nguồn nhân lực, phân biệt với sức lao động, nguồn lao động, lực lượng lao động; xây dựng các tiêu chí đánh giá số lượng, chất lượng (thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức, tác phong công nghiệp, chỉ số HDI), kết quả đào tạo và sử dụng nhân lực; phân tích các nhân tố ảnh hưởng (trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục, y tế, chính sách nhà nước).
- Tiết 2.2 luận giải vai trò của nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
- Tiết 2.3 tổng kết kinh nghiệm quốc tế về phát triển nguồn nhân lực và rút ra bài học kinh nghiệm cho Thủ đô Viêng Chăn.
Để minh chứng cho các luận điểm lý luận, chương 2 sử dụng các bảng số liệu so sánh quốc tế và khu vực:
Bảng 2.1: Dự báo tỷ lệ lao động qua đào tạo ở Việt Nam giai đoạn 2000 - 2020 (Đơn vị tính: %)
| Năm |
Tỷ lệ lao động được đào tạo |
Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề |
| 2000 |
20,0 |
13,4 |
| 2005 |
30,0 |
19,0 |
| 2010 |
40,0 |
30,0 |
| 2015 |
55,0 |
40,0 |
| 2020 |
70,0 |
55,0 |
Bảng 2.2: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010 (Đơn vị tính: %)
| Chỉ tiêu |
Năm 2005 |
Năm 2006 |
Năm 2007 |
Năm 2008 |
Năm 2010 |
| Tổng số lao động |
100,00 |
100,00 |
100,00 |
100,00 |
100,00 |
| Không có chuyên môn kỹ thuật |
74,67 |
68,45 |
75,93 |
75,04 |
75,32 |
| Có chuyên môn kỹ thuật |
25,33 |
31,55 |
24,18 |
24,96 |
24,68 |
Bảng 2.3: Chỉ số HDI của Lào và thế giới giai đoạn 2000 - 2010
| Năm |
Chỉ số HDI của Lào |
Chỉ số HDI của thế giới |
| 2000 |
0,354 |
0,526 |
| 2005 |
0,460 |
0,598 |
| 2006 |
0,467 |
0,604 |
| 2007 |
0,475 |
0,611 |
| 2008 |
0,483 |
0,615 |
| 2009 |
0,409 |
0,619 |
| 2010 |
0,497 |
0,624 |
Văn bản trích dẫn số liệu năm 2011 từ Ngân hàng Thế giới xếp Lào vào nhóm nước có thu nhập thấp, GDP bình quân đầu người đứng thứ 128/168 nước; chỉ số HDI năm 2010 đạt 0,497, xếp thứ 122/169 nước. Bảng 2.4 minh họa mối quan hệ giữa GDP và HDI qua trường hợp Singapore với tuổi thọ 77,3 năm, tỷ lệ người lớn biết chữ 91,8%, tỷ lệ đi học nhóm 6 - 23 tuổi 91,8% và GDP đầu người đạt 24.734 USD.
Chương 3: Thực trạng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở Thủ đô Viêng Chăn giai đoạn 2006 - 2013
Chương 3 tập trung phân tích thực chứng qua ba tiết:
- Tiết 3.1: Phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến nguồn nhân lực ở Thủ đô Viêng Chăn. Các dữ liệu được xử lý gồm quy mô, tốc độ tăng trưởng GDP của Thủ đô (Bảng 3.1), tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (Bảng 3.2), diện tích và dân số các đơn vị hành chính của Viêng Chăn năm 2013 (Bảng 3.3).
- Tiết 3.2: Phân tích thực trạng nguồn nhân lực trên các phương diện:
- Tình hình lao động và việc làm các năm 2002, 2010, 2013 (Bảng 3.4);
- Tốt nghiệp các cấp học (Bảng 3.5);
- Quy mô, tốc độ phát triển dân số và cơ cấu dân số Thủ đô (Bảng 3.6, Bảng 3.7);
- So sánh cơ cấu dân số Thủ đô so với cả nước năm 2013 (Bảng 3.8);
- Nguồn nhân lực có chuyên môn kỹ thuật tại Viêng Chăn năm 2002 và 2013 (Bảng 3.9, Biểu đồ 3.1);
- Đào tạo nghề: Số lượng lao động đào tạo nghề các giai đoạn 2005, 2010, 2013 (Bảng 3.10, Biểu đồ 3.3) và cơ cấu trình độ cán bộ, giáo viên dạy nghề năm 2013 (Biểu đồ 3.2);
- Thể lực và y tế: Phân tích chất lượng dịch vụ y tế của Thủ đô giai đoạn 2005 - 2010 (Bảng 3.11);
- Trình độ cán bộ, công chức Thủ đô Viêng Chăn giai đoạn 2001 - 2013 (Bảng 3.12, Biểu đồ 3.4);
- Cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế (Bảng 3.13).
- Tiết 3.3: Đánh giá chung. Tác giả chỉ rõ các mặt làm được (quy mô lao động tăng, cơ cấu chuyển dịch theo hướng công nghiệp - dịch vụ, trình độ cán bộ từng bước được chuẩn hóa) và các hạn chế tồn tại (tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn lớn, thiếu hụt đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề và chuyên gia quản lý, chất lượng mạng lưới y tế chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao thể lực nhân dân).
Chương 4: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở Thủ đô Viêng Chăn đến năm 2020
Chương 4 kết cấu thành hai tiết:
- Tiết 4.1: Xác định phương hướng chủ yếu đảm bảo nguồn nhân lực, gắn liền với mục tiêu dự kiến tổng sản phẩm và cơ cấu kinh tế Thủ đô Viêng Chăn đến năm 2030 (Bảng 4.1), hướng tới mục tiêu đưa nước CHDCND Lào thoát khỏi tình trạng nước nghèo và cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020.
- Tiết 4.2: Đề xuất hệ thống các giải pháp chủ yếu:
- Nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân Thủ đô về vai trò của nguồn nhân lực;
- Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và cao đẳng;
- Đẩy mạnh mạng lưới đào tạo nghề, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng của các ngành kinh tế Thủ đô;
- Cải cách chính sách tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ và thu hút nhân tài vào khu vực công và các ngành kinh tế trọng điểm;
- Tăng cường đầu tư cho hệ thống y tế cơ sở, nâng cao thể lực và chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân;
- Hoàn thiện cơ chế phối hợp quản lý nhà nước về nguồn nhân lực trên địa bàn Thủ đô.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án hệ thống hóa và làm rõ khái niệm nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội dưới góc độ kinh tế chính trị học Mác - Lênin. Luận án xác lập khung tiêu chí đánh giá gồm bốn nhóm (số lượng - cơ cấu, chất lượng, kết quả đào tạo, kết quả sử dụng) và phân tích các nhân tố tác động đến nguồn nhân lực trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Lào. Công trình luận giải tính tất yếu khách quan và vai trò của việc phát triển nguồn lực con người đối với sự phát triển của Thủ đô Viêng Chăn.
Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bức tranh toàn diện và hệ thống dữ liệu thực chứng về nguồn nhân lực tại Thủ đô Viêng Chăn trong giai đoạn 2006 - 2013. Luận án phân tích cụ thể các chỉ số về dân số, lao động, việc làm, cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn kỹ thuật, mạng lưới đào tạo nghề, chất lượng dịch vụ y tế và thực trạng đội ngũ cán bộ công chức quản lý nhà nước. Từ việc nhận diện các mặt đạt được cùng các điểm nghẽn về chất lượng nguồn lao động, luận án đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp có cơ sở khoa học nhằm đảm bảo nguồn nhân lực đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô đến năm 2020.
Về kiến nghị, tác giả đề xuất chính quyền Thủ đô Viêng Chăn và các bộ ngành liên quan của Lào cần dành tỷ lệ ngân sách thỏa đáng cho giáo dục và y tế, xây dựng chiến lược đào tạo nghề dài hạn, đồng thời hoàn thiện chính sách tiền lương và đãi ngộ để thu hút cán bộ có trình độ chuyên môn cao.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án thể hiện ở phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian: Dữ liệu thực tiễn được khảo sát dừng lại ở mốc năm 2013, chưa phản ánh các biến động kinh tế - xã hội của Thủ đô Viêng Chăn trong các năm tiếp sau.
- Về không gian và phạm vi nội dung: Luận án chỉ tập trung vào phạm vi địa giới Thủ đô Viêng Chăn, không mở rộng phân tích so sánh sâu với toàn bộ 17 tỉnh thành còn lại của Lào. Đồng thời, do tiếp cận từ góc độ kinh tế chính trị, luận án chủ yếu khảo sát các chiều cạnh vĩ mô về chất lượng nguồn nhân lực (dân số, giáo dục đào tạo, y tế, đội ngũ công chức), chưa đi sâu vào vi mô quản trị nhân sự trong các doanh nghiệp tư nhân hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại địa bàn.
Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, cập nhật chuỗi số liệu sau năm 2013; nghiên cứu đánh giá tác động của quá trình hội nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) đối với sự dịch chuyển lao động kỹ thuật cao tại Thủ đô Viêng Chăn; và nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế phân bổ lao động giữa khu vực kinh tế nhà nước và khu vực tư nhân.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Kinh tế chính trị, Quản lý kinh tế và Khoa học quản lý;
- Giảng viên giảng dạy các môn lý luận chính trị, kinh tế phát triển trong hệ thống các trường đại học và đặc biệt là hệ thống các trường chính trị - hành chính của nước CHDCND Lào;
- Các nhà hoạch định chính sách, cán bộ lãnh đạo tại Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thủ đô Viêng Chăn và Ban Tổ chức Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào trong việc xây dựng quy hoạch cán bộ, kế hoạch phát triển mạng lưới giáo dục nghề nghiệp và chiến lược dân số - việc làm.
Nội dung đáng tham khảo nhất trong luận án gồm hệ thống tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực ở Chương 2 và hệ thống số liệu thực trạng về phân bố lao động, trình độ công chức và đào tạo nghề ở Thủ đô Viêng Chăn giai đoạn 2006 - 2013 ở Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
-
Tác giả luận án định nghĩa "nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội" như thế nào?
Luận án xác định nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc gia, có khả năng lao động của xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào quá trình lao động; đó là tổng hợp thể lực, trí lực, tâm lực của một bộ phận lực lượng lao động xã hội hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương.
-
Ba cái bẫy kỹ năng thấp theo cảnh báo của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) được luận án trích dẫn gồm những gì?
Theo tài liệu ADB (2005) được luận án trích dẫn, ba cái bẫy kỹ năng thấp gồm:
- Một là: Kỹ năng của người lao động thấp, lao động ít được đào tạo khiến năng suất và năng lực cạnh tranh thấp; nếu khai thác lợi thế chi phí lương thấp sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn.
- Hai là: Trình độ công nghệ thấp, công nhân thiếu kỹ năng để vận hành máy móc thiết bị hiện đại, không khai thác hết công suất gây lãng phí, làm mất động lực đổi mới thiết bị.
- Ba là: Người lao động ít sáng kiến, sáng tạo do thiếu tích lũy kiến thức và kỹ năng qua quá trình giáo dục - đào tạo.
-
Chỉ số phát triển con người (HDI) của Lào giai đoạn 2000 - 2010 biến động như thế nào theo bảng số liệu của luận án?
Theo Bảng 2.3 trong luận án, chỉ số HDI của Lào tăng liên tục từ 0,354 (năm 2000) lên 0,460 (năm 2005), 0,467 (năm 2006), 0,475 (năm 2007), 0,483 (năm 2008), đạt 0,409 (năm 2009) và 0,497 (năm 2010). So với mức trung bình thế giới năm 2010 là 0,624, HDI của Lào ở mức thấp, xếp thứ 122 trên tổng số 169 nước.
-
Cơ cấu dân số đảm bảo cho dân số ổn định được luận án viện dẫn từ các nhà dân số học gồm những tỷ lệ nào?
Luận án trích dẫn quan điểm dân số học thế giới cho rằng một cơ cấu thích hợp để đảm bảo dân số ổn định và nền kinh tế phát triển cân đối bao gồm: 60 - 64% số người trong độ tuổi lao động, 10 - 12% số người quá tuổi lao động và 26 - 28% số người chưa đến tuổi lao động.
-
Luận án sử dụng những chỉ tiêu cụ thể nào để đánh giá trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động?
Luận án xác định ba chỉ số so sánh: tỷ lệ lao động đã qua đào tạo (từ sơ cấp, công nhân kỹ thuật đến sau đại học) so với lực lượng lao động đang làm việc; tỷ lệ lao động được đào tạo theo cấp bậc so với tổng số lao động đang làm việc của cả nước; tỷ lệ thể hiện qua cơ cấu công nhân kỹ thuật / trung học chuyên nghiệp / cao đẳng, đại học (tại các nước phát triển đạt tỷ lệ tương ứng là 10 / 4 / 1).
Kết luận
Luận án tiến sĩ kinh tế của Sư Lao Sô Tu Ky đã giải quyết vấn đề nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở Thủ đô Viêng Chăn từ góc độ kinh tế chính trị học. Tác giả kết hợp khung lý luận Mác - Lênin với việc xử lý số liệu thực tế giai đoạn 2006 - 2013 để làm rõ các mặt số lượng, cơ cấu, trình độ chuyên môn, y tế và cán bộ quản lý của Thủ đô. Các phương hướng và giải pháp đề xuất đến năm 2020 cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác quy hoạch, đào tạo và sử dụng lao động của chính quyền Thủ đô Viêng Chăn và nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.