Luận án tiến sĩ về ngữ nghĩa và ngữ dụng câu hỏi tu từ tiếng Việt

Luận án tiến sĩ phân tích ngữ nghĩa ngữ dụng câu hỏi tu từ tiếng việt luận án ts lý luận ngôn ngữ 62 22 01 01, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức

Chuyên ngành

Lý luận ngôn ngữ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2013

197
4
2

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: HỎI VÀ CÂU HỎI TU TỪ - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN

1.1. Câu hỏi và câu hỏi tu từ

1.2. Câu hỏi tu từ và hệ thống phân loại câu hỏi tiếng Việt

1.3. Những quan niệm về câu hỏi tu từ

1.4. Câu hỏi tu từ - những nghiên cứu và những vấn đề tồn tại

1.5. Lý thuyết hành động ngôn từ và hành động hỏi

1.5.1. Lý thuyết hành động ngôn từ

1.5.2. Hành động trực tiếp và hành động gián tiếp

1.5.3. Hành động hỏi và câu hỏi

1.6. Tình thái trong ngôn ngữ

1.6.1. Khái niệm tình thái

1.6.2. Các kiểu ý nghĩa tình thái

1.7. Lập luận trong ngôn ngữ

1.8. Đa thanh trong ngôn ngữ

1.9. Tiểu kết

2. CHƯƠNG 2: THÀNH TỐ HỎI TRONG CÂU HỎI TU TỪ

2.1. Những khuôn hỏi thường gặp trong câu hỏi tu từ

2.2. Các kiểu cấu trúc hỏi cơ bản của câu hỏi tu từ có giá trị khẳng định

2.3. Các kiểu cấu trúc hỏi cơ bản của câu hỏi tu từ có giá trị phủ định

2.4. Câu hỏi tu từ được cấu tạo bởi những cấu trúc hỏi đặc biệt

2.5. Ý nghĩa hỏi trong câu hỏi tu từ

2.6. Cơ chế và điều kiện hình thành ý nghĩa hỏi trong câu hỏi tu từ

2.7. Những bằng chứng về sự tồn tại ý nghĩa hỏi trong câu hỏi tu từ

2.8. Chất vấn – một chiến thuật đối thoại của câu hỏi tu từ

2.9. Thành tố hỏi trong câu hỏi tu từ và câu hỏi chính danh

2.10. Đại từ nghi vấn trong câu hỏi tu từ và câu hỏi chính danh

2.11. Sự khác biệt về tình thái hỏi trong câu hỏi tu từ và câu hỏi chính danh

2.12. Tiểu kết

3. CHƯƠNG 3: MỆNH ĐỀ NGẦM ẨN TRONG CÂU HỎI TU TỪ

3.1. Đặc trưng ngữ cảnh của câu hỏi tu từ

3.2. Cơ chế hình thành các mệnh đề ngầm ẩn trong câu hỏi tu từ

3.3. Các chủ thể ý kiến trong câu hỏi tu từ

3.4. Câu hỏi tu từ có phải là những phát ngôn đa thanh điển hình?

3.5. Các chủ ngôn trong câu hỏi tu từ

3.6. Tình thái đánh giá ngầm ẩn trong câu hỏi tu từ

3.6.1. Đặc trưng tình thái đánh giá ngầm ẩn trong câu hỏi tu từ

3.6.2. Các phương tiện ngôn ngữ tham gia vào việc thể hiện những đánh giá tình thái trong câu hỏi tu từ

3.7. Tiểu kết

4. CHƯƠNG 4: CÂU HỎI TU TỪ TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP

4.1. Câu hỏi tu từ dưới góc độ lý thuyết hành vi ngôn ngữ

4.2. Câu hỏi tu từ với chức năng biểu hiện các hành vi ngôn ngữ gián tiếp

4.3. Câu hỏi tu từ thực hiện chức năng bác bỏ

4.4. Câu hỏi tu từ thực hiện chức năng từ chối hay chấp thuận gián tiếp

4.5. Câu hỏi tu từ thực hiện chức năng phản bác trước những hành động, việc làm của người khác

4.6. Trong những ngữ cảnh nhất định, câu hỏi tu từ có thể thực hiện một số hành động gián tiếp khác

4.7. Câu hỏi tu từ có thể đồng thời thực hiện những hành động gián tiếp khác nhau

4.8. Câu hỏi tu từ với chức năng lập luận trong ngôn ngữ

4.9. Câu hỏi tu từ - một đặc trưng văn hóa giao tiếp của người Việt

4.10. Tiểu kết

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

NGUỒN NGỮ LIỆU PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu ngữ nghĩa và ngữ dụng câu hỏi tu từ trong tiếng Việt

Nghiên cứu ngữ nghĩa và ngữ dụng của câu hỏi tu từ trong tiếng Việt là một lĩnh vực quan trọng trong ngôn ngữ học. Câu hỏi tu từ không chỉ đơn thuần là những câu hỏi mà còn mang trong mình những giá trị ngữ nghĩa sâu sắc. Chúng thường được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày và trong các tác phẩm văn học, thể hiện sự phong phú của ngôn ngữ Việt. Việc tìm hiểu về chúng giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hình thức và nội dung, cũng như vai trò của chúng trong giao tiếp.

1.1. Định nghĩa và đặc điểm của câu hỏi tu từ

Câu hỏi tu từ là những câu có hình thức nghi vấn nhưng không yêu cầu câu trả lời. Chúng thường ngầm chứa những phán đoán khẳng định hoặc phủ định. Đặc điểm này khiến cho câu hỏi tu từ trở thành một công cụ giao tiếp mạnh mẽ, thể hiện thái độ và cảm xúc của người nói.

1.2. Vai trò của câu hỏi tu từ trong giao tiếp

Câu hỏi tu từ đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện ý kiến, cảm xúc và thái độ của người nói. Chúng không chỉ giúp tạo ra sự tương tác mà còn làm phong phú thêm ngữ cảnh giao tiếp, từ đó nâng cao hiệu quả truyền đạt thông điệp.

II. Những thách thức trong nghiên cứu ngữ nghĩa và ngữ dụng câu hỏi tu từ

Mặc dù câu hỏi tu từ đã được nghiên cứu, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc phân tích và hiểu rõ ngữ nghĩa của chúng. Các nhà nghiên cứu thường gặp khó khăn trong việc xác định các yếu tố ngữ dụng và ngữ nghĩa liên quan đến câu hỏi tu từ. Điều này đòi hỏi một phương pháp nghiên cứu chặt chẽ và hệ thống.

2.1. Khó khăn trong việc phân loại câu hỏi tu từ

Việc phân loại câu hỏi tu từ thành các nhóm khác nhau dựa trên ngữ nghĩa và ngữ dụng là một thách thức lớn. Các nhà nghiên cứu cần phải xác định rõ ràng các tiêu chí phân loại để có thể hiểu rõ hơn về chức năng của chúng trong giao tiếp.

2.2. Thiếu hụt tài liệu nghiên cứu

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về câu hỏi tu từ, nhưng tài liệu vẫn còn hạn chế. Điều này gây khó khăn cho việc tổng hợp và hệ thống hóa các kiến thức hiện có, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển của lĩnh vực này.

III. Phương pháp nghiên cứu ngữ nghĩa và ngữ dụng câu hỏi tu từ

Để nghiên cứu ngữ nghĩa và ngữ dụng của câu hỏi tu từ, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp. Các phương pháp này bao gồm phân tích ngữ nghĩa, phân tích ngữ dụng và nghiên cứu trường hợp cụ thể trong giao tiếp.

3.1. Phân tích ngữ nghĩa của câu hỏi tu từ

Phân tích ngữ nghĩa giúp xác định các giá trị ngữ nghĩa của câu hỏi tu từ trong các ngữ cảnh khác nhau. Điều này bao gồm việc tìm hiểu các mệnh đề ngầm ẩn và ý nghĩa của chúng trong giao tiếp.

3.2. Nghiên cứu ngữ dụng trong giao tiếp

Nghiên cứu ngữ dụng giúp hiểu rõ hơn về cách thức mà câu hỏi tu từ được sử dụng trong giao tiếp thực tế. Điều này bao gồm việc phân tích các tình huống giao tiếp cụ thể và vai trò của câu hỏi tu từ trong đó.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu câu hỏi tu từ trong tiếng Việt

Nghiên cứu câu hỏi tu từ không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn. Chúng có thể được áp dụng trong việc dạy và học ngôn ngữ, cũng như trong việc phát triển kỹ năng giao tiếp.

4.1. Ứng dụng trong giáo dục ngôn ngữ

Việc hiểu rõ về câu hỏi tu từ có thể giúp giáo viên và học sinh nâng cao kỹ năng giao tiếp. Các bài học có thể được thiết kế để giúp học sinh nhận diện và sử dụng câu hỏi tu từ một cách hiệu quả.

4.2. Ứng dụng trong giao tiếp hàng ngày

Câu hỏi tu từ có thể được sử dụng để thể hiện thái độ và cảm xúc trong giao tiếp hàng ngày. Việc nắm vững cách sử dụng chúng sẽ giúp cải thiện khả năng giao tiếp và tạo ra những cuộc trò chuyện thú vị hơn.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu câu hỏi tu từ trong tiếng Việt

Nghiên cứu câu hỏi tu từ trong tiếng Việt mở ra nhiều hướng đi mới cho các nhà ngôn ngữ học. Việc hiểu rõ về ngữ nghĩa và ngữ dụng của chúng không chỉ giúp làm phong phú thêm kiến thức về ngôn ngữ mà còn góp phần vào việc phát triển các ứng dụng thực tiễn trong giao tiếp.

5.1. Tương lai của nghiên cứu câu hỏi tu từ

Nghiên cứu câu hỏi tu từ sẽ tiếp tục phát triển và mở rộng, với nhiều phương pháp và cách tiếp cận mới. Điều này sẽ giúp làm sáng tỏ hơn về vai trò của chúng trong ngôn ngữ và giao tiếp.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nhà nghiên cứu nên tiếp tục khám phá các khía cạnh khác nhau của câu hỏi tu từ, bao gồm cả việc so sánh với các ngôn ngữ khác. Điều này sẽ giúp làm phong phú thêm kiến thức về ngôn ngữ học và ngữ dụng học.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ ngữ nghĩa ngữ dụng câu hỏi tu từ tiếng việt luận án ts lý luận ngôn ngữ 62 22 01 01

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu bằng Phải chăng, Hay là, Không biết, Biết, Liệu hoặc kết thúc bằng chăng, không biết, nhỉ, đây, bao giờ bày tỏ một thái độ phân vân, không quả quyết, ngờ vực, ngần ngại đối với tính chân xác của mệnh đề được biểu thị trong câu. 6/ Câu nghi vấn có giá trị cảm thán Đó là những câu đi kèm với các từ ngữ nghi vấn như biết mấy, biết bao, bao nhiêu, nhƣờng nào, Sao. Có thể nói, với cách phân chia này, các câu hỏi tu từ mà chúng tôi quan tâm đã có một vị trí xác định trong hệ thống câu hỏi tiếng Việt. Những câu hỏi này có những giá trị ngôn trung đặc trưng.

Chúng trở thành một tiểu loại trong hệ thống phân loại câu hỏi tiếng Việt. Rõ ràng là việc nhìn câu hỏi dưới góc độ ngữ dụng, 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com góc độ hành chức của chúng đã cho ta những phát hiện mới, những nhìn nhận mới về câu hỏi. Khi đã được công nhận một vị trí, vai trò xác định trong hệ thống ngôn ngữ thì việc cần phải tiến hành nghiên cứu chúng một cách nghiêm túc như là một đối tượng cụ thể, độc lập là điều nên làm và cần làm. Với lý do này chúng tôi đã quyết định chọn nhóm câu hỏi này là đối tượng nghiên cứu của mình.

Với mong muốn thử xác lập cấu trúc ngữ nghĩa – ngữ dụng chung của chúng cũng như tìm hiểu các cơ chế, điều kiện hình thành và cách thức hoạt động của nhóm những câu hỏi này trong hoạt động giao tiếp. Những quan niệm về câu hỏi tu từ Như mọi người đều biết, đối với ngôn ngữ học truyền thống, khái niệm câu hỏi tu từ thường để chỉ những câu “về hình thức là câu hỏi mà về thực chất là câu khẳng định hoặc phủ định có cảm xúc (…). Nó có dạng không đòi hỏi câu trả lời mà chỉ nhằm tăng cƣờng tính diễn cảm của phát ngôn” [39]; có nghĩa là đối tượng chủ yếu được nhìn dưới góc độ phong cách học. Tuy nhiên, trong các tài liệu nghiên cứu hiện nay, thuật ngữ câu hỏi tu từ (rhetorical questions) có thể được hiểu với nội hàm rộng hơn, và có thể hiểu theo những nghĩa rộng hẹp khác nhau.

Theo đó, câu hỏi tu từ theo nghĩa rộng, hay còn được gọi là câu nghi vấn tu từ học, “là những câu nghi vấn không cần sự trả lời” [1] (xem thêm [52], [62], [76]). Có nghĩa là, chúng là những câu có hình thức hỏi nhưng lại không đòi hỏi cung cấp thông tin, chúng mang những giá trị ngôn trung khác, thực hiện những hành vi ngôn ngữ tại lời gián tiếp khác. Nghĩa là, chúng sẽ tương đương với khái niệm câu hỏi không chính danh. Còn câu hỏi tu từ theo nghĩa hẹp là những câu “có lực ngôn trung là một sự xác nhận về cực đối lập với cái mà câu hỏi thể hiện” [Sadock, 1971, 1974].

Tức là, “một câu hỏi tu từ khẳng định sẽ có lực ngôn trung là một sự xác nhận phủ định, còn một câu hỏi tu từ phủ định sẽ có lực ngôn trung là một sự xác nhận khẳng định” [73] (xem thêm [65], [82]). 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhóm câu hỏi mà chúng tôi quan tâm ở đây là những câu hỏi tu từ được quan niệm theo nghĩa hẹp. Cũng có một số tác giả muốn cụ thể hóa hơn trong việc định danh đối tượng, chẳng hạn như: Nguyễn Kim Thản (1964) đã gọi chúng là câu nghi vấn – khẳng định và câu nghi vấn – phủ định; hay Hồ Lê (1976) lại 17ung thuật ngữ câu hỏi xác nhận – khẳng định và câu hỏi xác nhận – phủ định; còn Cao Xuân Hạo (2004) thì gọi chúng là câu nghi vấn có giá trị khẳng định và câu nghi vấn có giá trị phủ định… Chúng tôi thấy rằng, việc sử dụng thuật ngữ câu hỏi tu từ, xét ở một khía cạnh nào đó, chưa thực sự thỏa đáng, cũng như chưa khu biệt rõ đối tượng. Tuy nhiên, sử dụng những thuật ngữ giống Nguyễn Kim Thản, Hồ Lê hay Cao Xuân Hạo, xét về mặt hình thức là khá dài dòng, hơn nữa chúng không hẳn là thuật ngữ mang tính định danh đối tượng mà thiên về miêu tả đối tượng, khi mà đã sử dụng kết hợp cả hình thức và nội dung (cái biểu đạt và cái được biểu đạt/hành động trực tiếp và hành động gián tiếp) của đối tượng để gọi tên.

Vì thế, chúng tôi vẫn quyết định sử dụng thuật ngữ câu hỏi tu từ (tương đương với thuật ngữ trong tiếng Anh: rhetorical question) để chỉ nhóm đối tượng mang những đặc điểm chính như sau: - Có hình thức nghi vấn. - Bao giờ cũng ngầm ẩn một nội dung phán đoán khẳng định hay phủ định. - Câu có chứa từ phủ định thì ngầm ẩn nội dung khẳng định mệnh đề tƣơng ứng và ngƣợc lại câu không chứa từ phủ định lại ngầm ẩn nội dung phủ định mệnh đề tƣơng ứng. Trong những trường hợp cần phân biệt giữa hai cái giá trị ngôn trung khẳng định và phủ định mà chúng thể hiện, chúng tôi sẽ chú thích thêm là câu hỏi tu từ có giá trị khẳng định và câu hỏi tu từ có giá trị phủ định.

Câu hỏi tu từ - những nghiên cứu và những vấn đề tồn tại Như chúng tôi đã từng đề cập đến ở trên, với cách tổ chức chất liệu ngôn ngữ và phương thức biểu đạt nghĩa mang đặc trưng riêng biệt, câu hỏi tu từ từ lâu đã được các nhà Việt ngữ học quan tâm, chú ý. Tuy nhiên, sự quan tâm này chưa thực sự thỏa đáng vì hầu nhưng các tác giả vẫn chưa thực sự coi nó là một đối tượng nghiên cứu riêng biệt, độc lập và hoàn chỉnh. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một số tác giả, khi miêu tả hệ thống ngữ pháp tiếng Việt đã đề cập đến những phát ngôn này như là một hiện tượng ngữ pháp đặc biệt. Thậm chí có những tác giả còn không xếp nó vào nhóm những câu nghi vấn, mặc dù chúng có sự xuất hiện của các đại từ nghi vấn, mà thường chỉ chú ý đến cái ý nghĩa biểu hiện của câu nên đã xếp chúng vào nhóm những câu phủ định hoặc khẳng định.

Chúng được xem như là những hình thức phủ định hoặc khẳng định đặc biệt trong tiếng Việt cần có sự chú thích riêng. Có thể kể ra ở đây như các tác giả Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm trong Việt Nam văn phạm, đã không đưa ra khái niệm câu hỏi tu từ mà ông chỉ bàn đến vị trí của từ phủ định trong các trường hợp câu phủ định có tiếng phiếm chỉ đại danh từ, như: ai, ngƣời nào, cái gì … đứng làm chủ từ và câu phủ định không có từ phủ định. Các tác giả này đã đưa ra nhận xét như sau: Thƣờng có những câu theo hình thức nghi vấn chính là câu phủ định rất mạnh. Cái nghĩa phủ định của câu ấy có thể mạnh hơn nữa khi ta đặt tiếng “nào” ở đầu câu, trƣớc đại danh từ đứng làm chủ từ; hay từ “đâu” cũng biểu diễn cái ý phủ định đó.

Tương tự như vậy, trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt – Câu”, Hoàng Trọng Phiến (1980), khi đề cập đến các câu kể khẳng định và phủ định, đã chú thích về sự tồn tại của những câu hỏi này như là một cách cấu tạo câu khẳng định và phủ định đặc biệt trong tiếng Việt: “Ngoài ra còn dùng từ phủ định với từ phiếm chỉ để khẳng định” hay “Trong ngôn ngữ nói hàng ngày còn có thể thấy lối nói phủ định kiểu: làm gì có chuyện ấy?. Có thể thấy những tác giả này mới chỉ đưa ra những nhận xét chung chung về kiểu câu này, chủ yếu dựa trên cái hình thức hỏi và ý nghĩa ngầm ẩn khẳng định và phủ định của câu, từ đó xem chúng như là những trường hợp ngoại lệ của câu hỏi hoặc của các câu tường thuật. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khi đó, một số tác giả khác thì đã đề cập đến khái niệm và sử dụng đích danh thuật ngữ các “câu hỏi tu từ” trong những nghiên cứu của mình, nhưng lại thường gộp chúng vào trong cùng một nhóm những câu hỏi không chính danh khác. Hay như chúng tôi đã từng nói đến ở phần trên, đó là một quan niệm về câu hỏi tu từ theo nghĩa rộng, nó bao gồm tất cả những trường hợp câu có hình thức hỏi nhưng lại mang một giá trị ngôn trung khác.

Tiêu biểu cho quan niệm này có thể kể đến các tác giả như Diệp Quang Ban (1987), Hoàng Trọng Phiến (1980)… Tác giả Diệp Quang Ban, trong “Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông – tập 2”, khi phân loại câu theo mục đích phát ngôn có đề cập đến loại câu “nghi vấn tu từ học”: “Đó là cách dùng câu nghi vấn không cần sự trả lời và nhiều khi hỏi về những điều đã biết, nhằm thu hút sự quan tâm và làm cho thể văn trở nên hoạt bát”[1]. Cũng như vậy, Hoàng Trọng Phiến đã đề cập đến khái niệm câu hỏi tu từ mà “nội dung các câu hỏi này không cần trả lời. Hỏi nhằm đạt đến sự đồng tình của ngƣời nghe, ngƣời đọc” [52]. Tuy nhiên, tác giả cũng đã nhìn nhận thấy bản chất sâu xa của vấn đề khi nhấn mạnh rằng: “Cái khó thuộc về cách cấu tạo (khẳng định, phủ định), trong khẩu ngữ, có khi câu có hình thức khẳng định mà nội dung lại phủ định và ngƣợc lại”.

Song, tác giả cũng mới chỉ dừng lại ở việc nêu hiện tượng và một số ví dụ cụ thể mà thôi… Có thể nói, xác định rõ đối tượng này với những đặc trưng cơ bản về hình thức và nội dung hơn cả là tác giả Nguyễn Kim Thản (1964). Trong Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, tập hai, Nguyễn Kim Thản, đã sử dụng thuật ngữ “câu nghi vấn tu từ học” để chỉ nhóm đối tượng này. Tác giả đã định nghĩa chúng như sau: “Đó là những câu nghi vấn không đòi hỏi ai trả lời và là hình thức vận dụng linh hoạt ngôn ngữ của tác giả. Nó làm cho lời văn thêm sắc bén.

Nó có thể kết cấu nhƣ những câu nghi vấn chân chính, đặc biệt trong ngôn ngữ viết nó còn có sự tham gia của các ngữ khí từ: ru, chăng, chăng tá…”[62]. Đi sâu hơn nữa, Nguyễn Kim Thản còn phân biệt hai loại câu nghi vấn tu từ học, đó là: - Câu nghi vấn – phủ định: là câu có phương thức biểu thị của câu nghi vấn nhưng thực chất là phủ định, thường dùng trong đối thoại nhằm nhấn mạnh ý nghĩa phủ định hay phản bác lại ý kiến của người khác. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ