mở đầu bằng Phải chăng, Hay là, Không biết, Biết, Liệu hoặc kết thúc bằng chăng, không biết, nhỉ, đây, bao giờ bày tỏ một thái độ phân vân, không quả quyết, ngờ vực, ngần ngại đối với tính chân xác của mệnh đề được biểu thị trong câu. 6/ Câu nghi vấn có giá trị cảm thán Đó là những câu đi kèm với các từ ngữ nghi vấn như biết mấy, biết bao, bao nhiêu, nhƣờng nào, Sao. Có thể nói, với cách phân chia này, các câu hỏi tu từ mà chúng tôi quan tâm đã có một vị trí xác định trong hệ thống câu hỏi tiếng Việt. Những câu hỏi này có những giá trị ngôn trung đặc trưng.
Chúng trở thành một tiểu loại trong hệ thống phân loại câu hỏi tiếng Việt. Rõ ràng là việc nhìn câu hỏi dưới góc độ ngữ dụng, 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com góc độ hành chức của chúng đã cho ta những phát hiện mới, những nhìn nhận mới về câu hỏi. Khi đã được công nhận một vị trí, vai trò xác định trong hệ thống ngôn ngữ thì việc cần phải tiến hành nghiên cứu chúng một cách nghiêm túc như là một đối tượng cụ thể, độc lập là điều nên làm và cần làm. Với lý do này chúng tôi đã quyết định chọn nhóm câu hỏi này là đối tượng nghiên cứu của mình.
Với mong muốn thử xác lập cấu trúc ngữ nghĩa – ngữ dụng chung của chúng cũng như tìm hiểu các cơ chế, điều kiện hình thành và cách thức hoạt động của nhóm những câu hỏi này trong hoạt động giao tiếp. Những quan niệm về câu hỏi tu từ Như mọi người đều biết, đối với ngôn ngữ học truyền thống, khái niệm câu hỏi tu từ thường để chỉ những câu “về hình thức là câu hỏi mà về thực chất là câu khẳng định hoặc phủ định có cảm xúc (…). Nó có dạng không đòi hỏi câu trả lời mà chỉ nhằm tăng cƣờng tính diễn cảm của phát ngôn” [39]; có nghĩa là đối tượng chủ yếu được nhìn dưới góc độ phong cách học. Tuy nhiên, trong các tài liệu nghiên cứu hiện nay, thuật ngữ câu hỏi tu từ (rhetorical questions) có thể được hiểu với nội hàm rộng hơn, và có thể hiểu theo những nghĩa rộng hẹp khác nhau.
Theo đó, câu hỏi tu từ theo nghĩa rộng, hay còn được gọi là câu nghi vấn tu từ học, “là những câu nghi vấn không cần sự trả lời” [1] (xem thêm [52], [62], [76]). Có nghĩa là, chúng là những câu có hình thức hỏi nhưng lại không đòi hỏi cung cấp thông tin, chúng mang những giá trị ngôn trung khác, thực hiện những hành vi ngôn ngữ tại lời gián tiếp khác. Nghĩa là, chúng sẽ tương đương với khái niệm câu hỏi không chính danh. Còn câu hỏi tu từ theo nghĩa hẹp là những câu “có lực ngôn trung là một sự xác nhận về cực đối lập với cái mà câu hỏi thể hiện” [Sadock, 1971, 1974].
Tức là, “một câu hỏi tu từ khẳng định sẽ có lực ngôn trung là một sự xác nhận phủ định, còn một câu hỏi tu từ phủ định sẽ có lực ngôn trung là một sự xác nhận khẳng định” [73] (xem thêm [65], [82]). 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhóm câu hỏi mà chúng tôi quan tâm ở đây là những câu hỏi tu từ được quan niệm theo nghĩa hẹp. Cũng có một số tác giả muốn cụ thể hóa hơn trong việc định danh đối tượng, chẳng hạn như: Nguyễn Kim Thản (1964) đã gọi chúng là câu nghi vấn – khẳng định và câu nghi vấn – phủ định; hay Hồ Lê (1976) lại 17ung thuật ngữ câu hỏi xác nhận – khẳng định và câu hỏi xác nhận – phủ định; còn Cao Xuân Hạo (2004) thì gọi chúng là câu nghi vấn có giá trị khẳng định và câu nghi vấn có giá trị phủ định… Chúng tôi thấy rằng, việc sử dụng thuật ngữ câu hỏi tu từ, xét ở một khía cạnh nào đó, chưa thực sự thỏa đáng, cũng như chưa khu biệt rõ đối tượng. Tuy nhiên, sử dụng những thuật ngữ giống Nguyễn Kim Thản, Hồ Lê hay Cao Xuân Hạo, xét về mặt hình thức là khá dài dòng, hơn nữa chúng không hẳn là thuật ngữ mang tính định danh đối tượng mà thiên về miêu tả đối tượng, khi mà đã sử dụng kết hợp cả hình thức và nội dung (cái biểu đạt và cái được biểu đạt/hành động trực tiếp và hành động gián tiếp) của đối tượng để gọi tên.
Vì thế, chúng tôi vẫn quyết định sử dụng thuật ngữ câu hỏi tu từ (tương đương với thuật ngữ trong tiếng Anh: rhetorical question) để chỉ nhóm đối tượng mang những đặc điểm chính như sau: - Có hình thức nghi vấn. - Bao giờ cũng ngầm ẩn một nội dung phán đoán khẳng định hay phủ định. - Câu có chứa từ phủ định thì ngầm ẩn nội dung khẳng định mệnh đề tƣơng ứng và ngƣợc lại câu không chứa từ phủ định lại ngầm ẩn nội dung phủ định mệnh đề tƣơng ứng. Trong những trường hợp cần phân biệt giữa hai cái giá trị ngôn trung khẳng định và phủ định mà chúng thể hiện, chúng tôi sẽ chú thích thêm là câu hỏi tu từ có giá trị khẳng định và câu hỏi tu từ có giá trị phủ định.
Câu hỏi tu từ - những nghiên cứu và những vấn đề tồn tại Như chúng tôi đã từng đề cập đến ở trên, với cách tổ chức chất liệu ngôn ngữ và phương thức biểu đạt nghĩa mang đặc trưng riêng biệt, câu hỏi tu từ từ lâu đã được các nhà Việt ngữ học quan tâm, chú ý. Tuy nhiên, sự quan tâm này chưa thực sự thỏa đáng vì hầu nhưng các tác giả vẫn chưa thực sự coi nó là một đối tượng nghiên cứu riêng biệt, độc lập và hoàn chỉnh. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một số tác giả, khi miêu tả hệ thống ngữ pháp tiếng Việt đã đề cập đến những phát ngôn này như là một hiện tượng ngữ pháp đặc biệt. Thậm chí có những tác giả còn không xếp nó vào nhóm những câu nghi vấn, mặc dù chúng có sự xuất hiện của các đại từ nghi vấn, mà thường chỉ chú ý đến cái ý nghĩa biểu hiện của câu nên đã xếp chúng vào nhóm những câu phủ định hoặc khẳng định.
Chúng được xem như là những hình thức phủ định hoặc khẳng định đặc biệt trong tiếng Việt cần có sự chú thích riêng. Có thể kể ra ở đây như các tác giả Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm trong Việt Nam văn phạm, đã không đưa ra khái niệm câu hỏi tu từ mà ông chỉ bàn đến vị trí của từ phủ định trong các trường hợp câu phủ định có tiếng phiếm chỉ đại danh từ, như: ai, ngƣời nào, cái gì … đứng làm chủ từ và câu phủ định không có từ phủ định. Các tác giả này đã đưa ra nhận xét như sau: Thƣờng có những câu theo hình thức nghi vấn chính là câu phủ định rất mạnh. Cái nghĩa phủ định của câu ấy có thể mạnh hơn nữa khi ta đặt tiếng “nào” ở đầu câu, trƣớc đại danh từ đứng làm chủ từ; hay từ “đâu” cũng biểu diễn cái ý phủ định đó.
Tương tự như vậy, trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt – Câu”, Hoàng Trọng Phiến (1980), khi đề cập đến các câu kể khẳng định và phủ định, đã chú thích về sự tồn tại của những câu hỏi này như là một cách cấu tạo câu khẳng định và phủ định đặc biệt trong tiếng Việt: “Ngoài ra còn dùng từ phủ định với từ phiếm chỉ để khẳng định” hay “Trong ngôn ngữ nói hàng ngày còn có thể thấy lối nói phủ định kiểu: làm gì có chuyện ấy?. Có thể thấy những tác giả này mới chỉ đưa ra những nhận xét chung chung về kiểu câu này, chủ yếu dựa trên cái hình thức hỏi và ý nghĩa ngầm ẩn khẳng định và phủ định của câu, từ đó xem chúng như là những trường hợp ngoại lệ của câu hỏi hoặc của các câu tường thuật. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khi đó, một số tác giả khác thì đã đề cập đến khái niệm và sử dụng đích danh thuật ngữ các “câu hỏi tu từ” trong những nghiên cứu của mình, nhưng lại thường gộp chúng vào trong cùng một nhóm những câu hỏi không chính danh khác. Hay như chúng tôi đã từng nói đến ở phần trên, đó là một quan niệm về câu hỏi tu từ theo nghĩa rộng, nó bao gồm tất cả những trường hợp câu có hình thức hỏi nhưng lại mang một giá trị ngôn trung khác.
Tiêu biểu cho quan niệm này có thể kể đến các tác giả như Diệp Quang Ban (1987), Hoàng Trọng Phiến (1980)… Tác giả Diệp Quang Ban, trong “Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông – tập 2”, khi phân loại câu theo mục đích phát ngôn có đề cập đến loại câu “nghi vấn tu từ học”: “Đó là cách dùng câu nghi vấn không cần sự trả lời và nhiều khi hỏi về những điều đã biết, nhằm thu hút sự quan tâm và làm cho thể văn trở nên hoạt bát”[1]. Cũng như vậy, Hoàng Trọng Phiến đã đề cập đến khái niệm câu hỏi tu từ mà “nội dung các câu hỏi này không cần trả lời. Hỏi nhằm đạt đến sự đồng tình của ngƣời nghe, ngƣời đọc” [52]. Tuy nhiên, tác giả cũng đã nhìn nhận thấy bản chất sâu xa của vấn đề khi nhấn mạnh rằng: “Cái khó thuộc về cách cấu tạo (khẳng định, phủ định), trong khẩu ngữ, có khi câu có hình thức khẳng định mà nội dung lại phủ định và ngƣợc lại”.
Song, tác giả cũng mới chỉ dừng lại ở việc nêu hiện tượng và một số ví dụ cụ thể mà thôi… Có thể nói, xác định rõ đối tượng này với những đặc trưng cơ bản về hình thức và nội dung hơn cả là tác giả Nguyễn Kim Thản (1964). Trong Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, tập hai, Nguyễn Kim Thản, đã sử dụng thuật ngữ “câu nghi vấn tu từ học” để chỉ nhóm đối tượng này. Tác giả đã định nghĩa chúng như sau: “Đó là những câu nghi vấn không đòi hỏi ai trả lời và là hình thức vận dụng linh hoạt ngôn ngữ của tác giả. Nó làm cho lời văn thêm sắc bén.
Nó có thể kết cấu nhƣ những câu nghi vấn chân chính, đặc biệt trong ngôn ngữ viết nó còn có sự tham gia của các ngữ khí từ: ru, chăng, chăng tá…”[62]. Đi sâu hơn nữa, Nguyễn Kim Thản còn phân biệt hai loại câu nghi vấn tu từ học, đó là: - Câu nghi vấn – phủ định: là câu có phương thức biểu thị của câu nghi vấn nhưng thực chất là phủ định, thường dùng trong đối thoại nhằm nhấn mạnh ý nghĩa phủ định hay phản bác lại ý kiến của người khác. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.