chương 1, luận án trình bày tổng quan những vấn đề lý thuyết, đưa ra quan điểm nghiên cứu của những nhà ngôn ngữ học chức năng về vấn đề ẩn dụ ngữ 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp cụ thể là Halliday. Tiếp theo đó là những nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống khác bàn về vấn đề ẩn dụ ngữ pháp trên tinh thần kế thừa kết quả nghiên cứu của Halliday. Luận án đưa ra những khái niệm liên quan là hiện thực hóa và sự tương thích. Khái quát tình hình hình nghiên cứu ẩn dụ ngữ pháp ở Việt Nam từ trước đến nay.
Trình bày quan điểm nghiên cứu của luận án và tiểu kết. Chương 2: Ẩn dụ ngữ pháp tư tưởng trong các văn bản khoa học xã hội tiếng Việt Trong chương 2 luận án nghiên cứu các vấn đề cụ thể của ẩn dụ ngữ pháp tư tưởng trong các văn bản khoa học xã hội. Luận án đưa ra các khái niệm ẩn dụ tư tưởng, cách lập ngôn của các loại ẩn dụ tư tưởng trong văn bản khoa học xã hội Việt Nam. Khảo sát các trường hợp ẩn dụ tư tưởng xuất hiện trong văn bản khoa học xã hội.
Qua quá trình khảo sát các trường hợp ẩn dụ tư tưởng trong văn bản khoa học xã hội, nhận thấy hiện tượng danh hóa được xem như là một công cụ thay thế để biểu đạt ý nghĩa trong văn bản. Thực trạng sử dụng các loại ẩn dụ tư tưởng trong văn bản khoa học xã hội tiếng Việt và tiểu kết. Chương 3: Ẩn dụ ngữ pháp liên nhân trong các bản khoa học xã hội Chương 3 luận án nghiên cứu các vấn đề ẩn dụ liên nhân trong các văn bản khoa học xã hội tiếng Việt. Khái quát vấn đề thức và tình thái trong tiếng Việt bao gồm: nghĩa tình thái, nghĩa mục đích phát ngôn và lực ngôn trung của cú.
Khảo sát các trường hợp ẩn dụ tình thái, ẩn dụ thức của cú trong các văn bản khoa học xã hội tiếng Việt và tiểu kết. Kết luận Phần kết luận tổng kết những kết quả đã nghiên cứu, nêu những hạn chế của luận án và đề xuất một số hướng nghiên cứu trong tương lai. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Cơ sở lí luận Ngôn ngữ học chức năng hệ thống đã được biết đến ở rất nhiều nơi trên thế giới và được sử dụng làm khung lí thuyết cho rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau.
Ngôn ngữ học có tính chức năng thể hiện ở ba điểm khu biệt có quan hệ rất gần gũi với nhau trong cách lí giải của nó về (1) các ngôn bản, (2) về hệ thống, và (3) về các thành phần của cấu trúc ngôn ngữ. Ngôn ngữ có tính chức năng là ngôn ngữ được thiết kế ra để giải thích cho việc ngôn ngữ được sử dụng như thế nào. Chính việc sử dụng ngôn ngữ qua hàng ngàn thế hệ đã hình thành nên hệ thống ngôn ngữ, với mục đích phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người. Ngữ pháp chức năng, về cơ bản là ngữ pháp tự nhiên, với ý nghĩa là mọi hiện tượng ngôn ngữ cuối cùng đều có thể giải thích được trong mối quan hệ với việc ngôn ngữ được sử dụng như thế nào.
Ngôn ngữ là một quá trình xã hội, bởi vì “xã hội và kí hiệu là không thể tách rời”. Dựa vào tiền đề này, ngôn ngữ học chức năng hệ thống xem xã hội như là một bộ phận cấu thành của một mô hính lí thuyết gồm bốn cấp độ: ngôn cảnh (complex), ngữ nghĩa (semantics), ngữ pháp-từ vựng (lexicogrammar), và âm vị học (phonology). Ở cấp độ ngôn cảnh, ngôn ngữ học chức năng hệ thống thu hút sự chú ý vào ba khía cạnh của tình huống lời nói, lần lượt gọi là trường của ngôn bản (field of discourse), không khí của ngôn bản (tenor of discourse), và phương thức của ngôn bản (mode of discourse). Trường của ngôn bản liên quan đến những gì đang diễn ra trong các tình huống lời nói, quyết định sự lựa chọn các ý nghĩa được hiện thực hóa trong các mẫu thức ngữ pháp và từ vựng để thể hiện (lấy cú hành động làm đại diện) ai, làm gì ai, cái gì, ở đâu.
Không khí của ngôn bản biểu thị các mối quan hệ vai diễn của những người tham gia vào tình huống lời nói (chẳng hạn mối quan hệ giữa giáo viên-học sinh), tác động đến kiểu quan hệ giữa những người tham gia và những gì người nói thực hiện để đạt được kiểu quan hệ đó. Phương thức của ngôn bản cho biết kênh giao tiếp (văn viết hay văn nói hay sự kết hợp cả hai) và các hình thức hùng biện như thuyết phục, mô tả, trình bày, nhân-quả, vấn đề-giải pháp,… Nó liên quan đến các đặc điểm như liên kết và mạch lạc của ngôn bản – 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc các cú được “treo” cùng nhau như thế nào để làm cho ngôn bản thành một thể thống nhất. Trường của ngôn bản, không khí của ngôn bản, và phương thức của ngôn bản hình thành nên khái niệm “ngữ vực” của Halliday. Ở cấp độ ngữ nghĩa, ngôn ngữ học chức năng hệ thống thừa nhận rằng ngôn ngữ được tổ chức theo ba siêu chức năng: siêu chức năng tư tưởng (ideational metafunction), siêu chức năng liên nhân (interpersonal metafunction), và siêu chức năng ngôn bản (textual metafunction).
Siêu chức năng tư tưởng, được kích hoạt bởi trường của ngôn bản ở tầng ngôn cảnh, liên quan đến việc thể hiện các ý tưởng hay kinh nghiệm (ví dụ sự thể hiện kiến thức ngôn ngữ học trong sách giáo khoa phổ thông). Siêu chức năng liên nhân, được kích hoạt bởi không khí của ngôn bản, thể hiện mối quan hệ xã hội giữa các cá nhân (ví dụ, mối quan hệ giữa các nhà ngôn ngữ học với tư cách là tác giả sách giáo khoa và học sinh). Siêu chức năng ngôn bản, được kích hoạt bởi phương thức của ngôn bản, liên quan đến việc tạo sự quan yếu giữa các phần đang được nói/viết trong một thông điệp, giữa ngôn bản và ngôn cảnh (ngôn cảnh ngôn ngữ và ngôn cảnh tình huống), đem lại cho ngôn bản cảm giác thực, sự liên kết và mạch lạc. Siêu chức năng tư tưởng, siêu chức năng liên nhân và siêu chức năng ngôn bản kích hoạt ba hệ thống tạo lời ở cấp độ ngữ pháp-từ vựng (mỗi hệ thống lại bao gồm một số tiểu hệ thống): hệ thống chuyển tác (transitivity system), hệ thống thức (mood system), và hệ thống ngôn bản (textual system).
Hệ thống chuyển tác liên quan đến các kiểu quá trình, các tham thể tham gia vào quá trình và các chu cảnh kèm theo. Ở một khía cạnh khác của hệ thống chuyển tác, ẩn dụ ngữ pháp được định nghĩa như là “sự thay thế lớp ngữ pháp này, hay cấu trúc ngữ pháp này bằng lớp ngữ pháp kia hay cấu trúc ngữ pháp kia”. Ẩn dụ ngữ pháp (grammatical metaphor) là một khái niệm được dẫn nhập vào lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống do Halliday giới thiệu đầu tiên trong công trình An Introduction to Functional Grammar (Dẫn luận ngữ pháp chức năng) [82], xuất bản lần thứ nhất năm 1985. Từ sau đó, lý thuyết về ẩn dụ ngữ pháp được phát triển bởi các nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống, bao gồm cả Halliday và nhiều nhà nghiên cứu khác như Martin, Mathiessen, Ravelli, Eggins, Goatly, … Mặc dù có những cách giải thích khác nhau, song trong ngôn ngữ học chức năng hệ 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống đã đạt được đồng thuận lớn đối với sự chú ý đến ẩn dụ ngữ pháp và một ít đến ẩn dụ từ vựng khi nghiên cứu về quan hệ giữa chúng.
Có thể thấy rằng, tuy khái niệm ẩn dụ ngữ pháp không được đề cập đến trong các lý thuyết ngôn ngữ học khác, nhưng cách nó được xử lý trong ngôn ngữ học chức năng hệ thống đã giúp chúng ta hiểu thêm về mối quan hệ giữa các cấu trúc ngữ pháp-từ vựng đồng ngôn liệu. Việc “tìm ra” ẩn dụ ngữ pháp đã kích thích sự phát triển của các nghiên cứu mô tả lý thuyết cũng như nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực này. Chẳng hạn như, những thuộc tính của ẩn dụ ngữ pháp trong tiếng Anh đã thúc đẩy việc nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ trẻ em và được đưa vào chương trình giáo dục ngôn ngữ trong một số trường đại học. Hiện nay, nội dung về ẩn dụ ngữ pháp của Halliday vẫn đang là kim chỉ nam cho việc nghiên cứu của rất nhiều các nhà ngôn ngữ học [115].
Trong chương này, luận án tóm lược những nội dung nghiên cứu bước đầu về ẩn dụ ngữ pháp trong công trình của Halliday [82], và của một số nhà ngôn ngữ học chức năng khác đã kế thừa và phát triển thêm lý thuyết của Halliday. Những nghiên cứu có tính chất mở rộng, phát triển nội dung vấn đề do chính Halliday hoặc Halliday và các đồng sự, hay do các nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống khác thực hiện, sẽ là phần khái quát tiếp theo. Tiếp đó luận án sẽ tìm hiểu hai khái niệm cơ bản có liên quan đến nội dung của ẩn dụ ngữ pháp là hiện thực hóa (realization) và tương thích (congruent). Cách trình bày này sẽ thay cho việc trình bày lịch sử một vấn đề nghiên cứu vẫn đang diễn ra và đã có những mâu thuẫn, những tranh luận phản bác trong việc nghiên cứu tiếng Anh cũng như mới bước đầu được áp dụng vào nghiên cứu tiếng Việt, và đây cũng là cơ sở lý thuyết để tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài của luận án.
Sơ lƣợc về sự dẫn nhập và nghiên cứu bƣớc đầu về ẩn dụ ngữ pháp 1. Halliday (1985/1994) Trong công trình Dẫn luận ngữ pháp chức năng, Halliday [18], [82] đã dành hẳn chương cuối cùng - chương 10 để trình bày về ẩn dụ ngữ pháp, mặc dù ngay ở phần Dẫn nhập và ở các chương 3, chương 4 ông cũng đã vài lần nhắc đến hiện tượng này khi nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến ẩn dụ ngữ pháp. Trong chương này, thuật ngữ ẩn dụ ngữ pháp được Halliday giới thiệu như là một kiểu ẩn dụ bổ sung cho ẩn dụ từ vựng vốn đã được biết đến một cách rộng rãi, bao gồm hai kiểu ẩn dụ khác nhau là ẩn dụ ở bình diện tư tưởng và ẩn dụ ở bình diện liên nhân. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.