Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học "Khảo sát phương thức sử dụng ẩn dụ ngữ pháp trong các văn bản khoa học tiếng Việt" do Nguyễn Thu Thủy thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, bảo vệ năm 2017, dưới sự hướng dẫn của GS.TS Hoàng Văn Vân. Chuyên ngành đăng ký là Lí luận ngôn ngữ (mã ngành 62.01).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu. Theo tác giả, trong khi ngữ pháp chức năng hệ thống đã được áp dụng vào nghiên cứu tiếng Việt qua các chuyên khảo của Hoàng Văn Vân, Diệp Quang Ban, Nguyễn Hòa và một số tác giả khác, vấn đề ẩn dụ ngữ pháp vẫn chưa được nghiên cứu một cách chi tiết và cụ thể, đặc biệt là hiện tượng ẩn dụ ngữ pháp trong các văn bản khoa học tiếng Việt. Tác giả xác định đây là khoảng trống trực tiếp thúc đẩy việc lựa chọn đề tài.

Mục đích nghiên cứu. Luận án đặt ra hai mục đích chính: (1) áp dụng ngôn ngữ học chức năng hệ thống để nghiên cứu bản chất của ẩn dụ ngữ pháp; (2) khảo sát các phương thức sử dụng ẩn dụ ngữ pháp trong văn bản khoa học xã hội tiếng Việt.

Nhiệm vụ nghiên cứu được tác giả xác định gồm hai nhiệm vụ cụ thể: nghiên cứu những vấn đề lý thuyết đặc trưng về ẩn dụ ngữ pháp trong tiếng Anh, tìm hiểu hiện tượng này trong nghiên cứu tiếng Việt và xây dựng khung lý thuyết về ẩn dụ ngữ pháp trong tiếng Việt; đồng thời khảo sát các cách diễn đạt sử dụng ẩn dụ ngữ pháp trong các văn bản khoa học xã hội tiếng Việt.

Đối tượng, phạm vi. Đối tượng nghiên cứu là các hiện tượng ẩn dụ ngữ pháp xuất hiện trong văn bản khoa học xã hội tiếng Việt. Nguồn ngữ liệu giới hạn trong các bài đăng trên 11 tạp chí khoa học xã hội, thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2003 đến năm 2016.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại.

Tác giả tổ chức tổng quan theo ba nhóm: tình hình quốc tế, tình hình trong nước, và quan điểm nghiên cứu của luận án.

Về tình hình quốc tế, khái niệm ẩn dụ ngữ pháp được Halliday giới thiệu lần đầu trong công trình An Introduction to Functional Grammar (1985/1994), dành riêng chương 10 để trình bày. Halliday phân biệt ẩn dụ ngữ pháp thành hai bình diện: ẩn dụ tư tưởng (ideational) và ẩn dụ liên nhân (interpersonal). Trong lần xuất bản thứ ba năm 2004, nội dung về ẩn dụ ngữ pháp được sửa đổi và bổ sung tư liệu từ các ngôn bản khoa học kỹ thuật. Theo Taverniers, thuật ngữ ẩn dụ ngữ pháp xuất hiện lần đầu năm 1985, nhưng khái niệm tương thích (congruence) và không tương thích (incongruence) đã từng xuất hiện sớm hơn trong các công trình của Halliday và Fawcett. Sau nghiên cứu khởi đầu của Halliday, các nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống khác tiếp tục phát triển lý thuyết, trong đó nổi bật có: Eggins, Fawcett, Goatly, Hasan, Martin, Matthiessen, Thompson. Đặc biệt, Martin đề xuất phân ẩn dụ ngữ pháp thành bốn loại: kinh nghiệm, lôgic, liên nhân và văn bản, trong khi Halliday và phần lớn các nhà nghiên cứu khác chỉ phân hai loại. Tập hợp nghiên cứu đa chiều về ẩn dụ ngữ pháp được Vandenbergen, Taverniers, Ravelli tuyển chọn trong một công trình chung, nêu bật những tranh luận liên quan đến danh hóa (Heyvaert), ranh giới ẩn dụ ngữ pháp–ẩn dụ từ vựng (Vandenbergen), và sự phân biệt ẩn dụ tư tưởng–ẩn dụ liên nhân (Heyvaert, Taverniers, Lassen).

Về tình hình trong nước, người đầu tiên quan tâm là Hoàng Văn Vân với bài báo "Tìm hiểu bước đầu về bản chất ẩn dụ ngữ pháp" (Tạp chí Khoa học – ĐHQG Hà Nội, 1999), giới thiệu và phân loại ẩn dụ ngữ pháp theo ba bình diện và chỉ ra khái niệm trọng tâm là "hiện thực hóa". Diệp Quang Ban trong Ngữ pháp tiếng Việt (2005) xác định cách dùng danh từ trong chức năng vị tố là ẩn dụ ngữ pháp. Đinh Văn Đức khi nghiên cứu quan hệ thì-thể trong tiếng Việt có nhắc đến "ẩn dụ ngữ pháp của vị ngữ". Nguyễn Văn Hiệp trong Cú pháp tiếng Việt ghi nhận hiện tượng danh hóa của cụm C-V làm chủ ngữ là biểu hiện của ẩn dụ ngữ pháp. Nguyễn Hòa và Đỗ Tuấn Minh có nhắc đến thuật ngữ nhưng không nghiên cứu bản chất hiện tượng trong tiếng Việt.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết. Tác giả nhận định các nghiên cứu trong nước mới giới thiệu ẩn dụ ngữ pháp như một khái niệm định danh cho một hiện tượng ngữ pháp nào đó mà chưa khảo sát hệ thống và cụ thể theo hướng Halliday đã chỉ ra. Luận án chọn lấp khoảng trống này bằng cách khảo sát toàn diện các kiểu ẩn dụ ngữ pháp trong ngôn bản khoa học xã hội tiếng Việt.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết. Luận án sử dụng khung lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống (Systemic Functional Linguistics) của Halliday. Trong khung lý thuyết này, ngôn ngữ được tổ chức theo bốn tầng: ngôn cảnh (context), ngữ nghĩa (semantics), ngữ pháp–từ vựng (lexicogrammar) và âm vị học (phonology). Ở tầng ngữ nghĩa, ngôn ngữ được tổ chức theo ba siêu chức năng: siêu chức năng tư tưởng (ideational metafunction), siêu chức năng liên nhân (interpersonal metafunction) và siêu chức năng ngôn bản (textual metafunction). Các hệ thống ngữ pháp tương ứng là hệ thống chuyển tác (transitivity system), hệ thống thức (mood system) và hệ thống ngôn bản (textual system). Hai khái niệm nền tảng được vận dụng xuyên suốt là hiện thực hóa (realization) và tương thích (congruence). Hiện thực hóa tương thích là khi hành động được thể hiện bằng động từ, sự vật bằng danh từ, phẩm chất bằng tính từ, một sự tình bằng một cú. Hiện thực hóa không tương thích (ẩn dụ ngữ pháp) xảy ra khi sự tương ứng đó bị phá vỡ, mang tính đánh dấu.

Phương pháp nghiên cứu. Luận án thuộc hướng định tính kết hợp thống kê mô tả. Hai phương pháp được sử dụng là:

  • Thống kê: Thống kê và phân loại các loại ẩn dụ ngữ pháp xuất hiện trong ngôn bản thu thập từ các tạp chí khoa học xã hội.
  • Mô tả: Dựa trên quan điểm Halliday, phân tích nội dung, ý nghĩa các yếu tố tham gia vào việc tạo nên các loại ẩn dụ ngữ pháp trong văn bản khoa học xã hội tiếng Việt.

Nguồn ngữ liệu. Tác giả thu thập ngữ liệu từ 11 tạp chí khoa học xã hội tiếng Việt, cụ thể: Dân tộc học (7 số), Nghiên cứu lịch sử (6 số), Nghiên cứu văn học (16 số), Ngôn ngữ (19 số), Nhà nước và Pháp luật (4 số), Tâm lý học (8 số), Triết học (5 số), Văn học dân gian (8 số), Xã hội học (5 số), Từ điển học và Bách khoa thư (4 số), Khoa học xã hội Việt Nam (5 số). Tổng cộng tác giả thu thập được hơn 1.089 ví dụ, tập hợp thành một bảng tư liệu, sau đó phân loại thành các kiểu ẩn dụ ngữ pháp.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương này trình bày toàn bộ nền tảng lý luận của luận án. Tác giả điểm lại các nghiên cứu bước đầu về ẩn dụ ngữ pháp của Halliday (1985/1994/2004), sau đó khái quát các quan điểm của các nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống khác. Chương trình bày chi tiết hai khái niệm cốt lõi: hiện thực hóa và tương thích, đồng thời giải thích phổ ngữ pháp–từ vựng và các kiểu cú phức cơ bản trong tiếng Anh (10 kiểu được Halliday phân loại theo bành trướng và phóng chiếu). Tác giả giới thiệu bảng hệ thống các đơn vị ngữ nghĩa–ngữ pháp trong mối liên hệ với các siêu chức năng (Bảng 1.3) và bảng kết cấu tương thích trong tiếng Anh (Bảng 1.4) do Halliday xác lập. Phần cuối chương khái quát tình hình nghiên cứu trong nước và trình bày quan điểm nghiên cứu của luận án.

Chương 2: Ẩn dụ tư tưởng trong các văn bản khoa học xã hội tiếng Việt

Đây là chương phân tích dữ liệu trọng tâm. Tác giả xác định và phân tích ẩn dụ tư tưởng trong văn bản khoa học xã hội theo hai nhóm lớn là danh hóa cụm động từ và danh hóa mệnh đề/cú.

Loại ẩn dụ tư tưởng Số lượng Tần số
Danh hóa cụm động từ 243/629 38,6%
Danh hóa mệnh đề/cú 386/629 61,4%

Trong nhóm danh hóa cụm động từ (243 trường hợp), kiểu phổ biến nhất là giữ vai trò Bị đồng nhất thể trong cú quan hệ đồng nhất (209/243, chiếm 86,1%). Ba kiểu còn lại gồm: giữ vai trò Đương thể trong cú quan hệ định tính (20/243, 8,2%); cụm động từ trong cú quá trình tinh thần (12/243, 4,9%); danh hóa bằng cái trong cú quan hệ sở hữu (2/243, 0,8%).

Trong nhóm danh hóa mệnh đề/cú (386 trường hợp), kiểu phổ biến nhất là cú bị bao được danh hóa giữ vai trò Bổ ngữ trong cú quá trình không tương thích (197/386, 51,0%). Các kiểu còn lại gồm: cú bị bao giữ vai trò Chủ ngữ/đề ngữ trong cú quá trình không tương thích (96/386, 25,0%); danh hóa bằng danh từ có ý nghĩa khái quát giữ vai trò Chủ ngữ/đề ngữ (71/386, 18,4%); cụm danh từ làm Chu cảnh trong cú quá trình không tương thích (18/386, 4,6%); thành phần Chu cảnh được hiện thực hóa không tương thích làm Chủ ngữ/đề ngữ (4/386, 1,0%). Tổng số ẩn dụ tư tưởng được phân tích trong chương là 629 trường hợp.

Chương 3: Ẩn dụ liên nhân trong các văn bản khoa học xã hội tiếng Việt

Chương phân tích ẩn dụ liên nhân theo hai hệ thống: tình thái và thức. Tổng số trường hợp được khảo sát là 460 trường hợp.

Loại ẩn dụ liên nhân Số lượng Tần số
Ẩn dụ tình thái 210/460 45,65%
Ẩn dụ thức 250/460 54,35%

Ẩn dụ tình thái (210 trường hợp) được phân thành bốn kiểu:

Kiểu cú Dấu hiệu nhận diện Số lượng Tần số
Tình thái chủ quan (chủ thể hiện) Tôi/chúng tôi cho rằng, nghĩ, e rằng, nhận thấy… 79/210 37,6%
Tình thái chủ quan (chủ thể ẩn) Thiết tưởng, thiết nghĩ… 35/210 16,7%
Tình thái đồng quan điểm với độc giả Chúng ta đều biết rằng, đều thừa nhận, như chúng ta đã biết… 58/210 27,6%
Tình thái che giấu tính chủ quan Ai cũng thừa nhận rằng, mọi điều đã rõ… 38/210 18,1%

Ẩn dụ thức (250 trường hợp) được phân thành hai nhóm: cú trần thuật có các giá trị ngôn trung khác (160/250, 64%) và cú nghi vấn có các giá trị ngôn trung (90/250, 36%). Trong nhóm cú trần thuật, kiểu phổ biến nhất là cú có giá trị ngôn trung như cầu khiến (132/160, 82,5%), được nhận diện qua các động từ ngôn hành kiến nghị, đề xuất, đề nghị, các vị từ tình thái muốn–hy vọng, các tiểu từ hãy–đừng và vị từ nên–cần–phải, hoặc phụ từ sẽ. Cú trần thuật có giá trị ngôn trung hứa hẹn chiếm 9,4% (15/160) và cú trần thuật có giá trị cảm thán chiếm 8,1% (13/160). Trong nhóm cú nghi vấn, kiểu có các giá trị ngôn trung khác chiếm đa số (65/90, 72,2%), trong khi cú nghi vấn có giá trị trình bày vấn đề nghiên cứu chiếm 27,8% (25/90).


Kết quả và những đóng góp mới

Tác giả tự xác định hai nhóm đóng góp của luận án.

Về lý luận, luận án được tác giả xác định là công trình đầu tiên lấy ẩn dụ ngữ pháp của ngữ pháp chức năng hệ thống làm đối tượng nghiên cứu để khảo sát hiện tượng này trong các văn bản khoa học xã hội tiếng Việt. Kết quả nghiên cứu góp phần ủng hộ việc áp dụng ngữ pháp chức năng hệ thống vào nghiên cứu tiếng Việt. Bên cạnh đó, luận án làm rõ thêm bản chất của ẩn dụ ngữ pháp: ẩn dụ ngữ pháp không phải là vấn đề của hệ thống ngôn ngữ mà là một quá trình hay một cơ chế nảy sinh trong sự tác động của các siêu chức năng và các loại ngôn cảnh, nhằm chuyển tải ý niệm trong tư duy hay nghĩa trong tâm thức con người.

Về thực tiễn, tác giả cho rằng việc hiểu rõ ẩn dụ ngữ pháp trong văn bản khoa học tiếng Việt có thể là cơ sở để xây dựng môn học về phương pháp soạn thảo văn bản khoa học, giúp sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh nâng cao khả năng viết báo cáo khoa học, luận văn, luận án. Ngoài ra, nắm vững cấu trúc ẩn dụ ngữ pháp còn có thể hỗ trợ người làm công tác phiên dịch, biên dịch trong việc chuyển mã ngôn ngữ.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Tác giả thừa nhận trong phần lời cảm ơn rằng luận án còn nhiều thiếu sót và mong nhận được góp ý. Theo giới thiệu bố cục, phần kết luận có nêu những hạn chế của luận án và đề xuất một số hướng nghiên cứu trong tương lai, song nội dung cụ thể của phần này không được trình bày trong phần văn bản được cung cấp.

Dựa trên phạm vi nghiên cứu được xác định trong văn bản, có thể ghi nhận một số giới hạn khách quan: nguồn ngữ liệu chỉ bao gồm văn bản khoa học xã hội dạng viết, không bao gồm văn bản khoa học tự nhiên hay văn bản nói; số lượng số tạp chí được thu thập không đồng đều giữa các đầu tạp chí; và phạm vi thời gian (2003–2016) chưa phủ toàn bộ giai đoạn phát triển của ngôn ngữ khoa học tiếng Việt đương đại.


Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo cho các nhóm đối tượng sau:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành ngôn ngữ học, đặc biệt những ai làm việc theo hướng ngữ pháp chức năng hệ thống hoặc phân tích diễn ngôn, có thể tham khảo toàn bộ chương 1 để nắm vững khung lý thuyết và chương 2, chương 3 để có mô hình phân tích cụ thể.
  • Giảng viên ngôn ngữ học và giáo viên tiếng Việt quan tâm đến vấn đề danh hóa, cấu trúc câu phức và tổ chức ngôn bản trong văn bản khoa học có thể tham khảo phần khảo sát định lượng ở chương 2 và chương 3.
  • Người làm công tác dịch thuật có thể tham khảo phần phân tích các kiểu ẩn dụ tư tưởng và liên nhân để hiểu cách văn bản khoa học tiếng Việt tổ chức nghĩa.
  • Nhà nghiên cứu tiếng Việt học quan tâm đến câu hỏi liệu các lý thuyết ngôn ngữ học phương Tây, cụ thể là ngữ pháp chức năng hệ thống, có thể áp dụng vào tiếng Việt ở mức độ nào, có thể tìm thấy trong luận án một trường hợp tham chiếu cụ thể.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát tổng cộng bao nhiêu ví dụ về ẩn dụ ngữ pháp?

Tác giả thu thập được hơn 1.089 ví dụ từ các tạp chí khoa học xã hội tiếng Việt. Trong đó, bảng tư liệu phân tích chính thức bao gồm 629 trường hợp ẩn dụ tư tưởng và 460 trường hợp ẩn dụ liên nhân.

2. Kiểu ẩn dụ tư tưởng nào xuất hiện phổ biến nhất trong văn bản khoa học xã hội tiếng Việt?

Trong nhóm ẩn dụ tư tưởng, danh hóa mệnh đề/cú chiếm tỷ lệ cao hơn (386/629, 61,4%) so với danh hóa cụm động từ (243/629, 38,6%). Trong danh hóa mệnh đề/cú, kiểu cú bị bao được danh hóa giữ vai trò Bổ ngữ trong cú quá trình không tương thích là phổ biến nhất với 197 trường hợp (51,0%).

3. Luận án phân biệt mấy kiểu ẩn dụ tình thái và nhận diện chúng qua dấu hiệu gì?

Luận án phân biệt bốn kiểu: tình thái chủ quan người viết (chủ thể hiện) nhận diện qua tôi/chúng tôi cho rằng, nghĩ, e rằng…; tình thái chủ quan (chủ thể ẩn) qua thiết tưởng, thiết nghĩ; tình thái đồng quan điểm qua chúng ta đều biết rằng, đều thừa nhận…; tình thái che giấu tính chủ quan qua ai cũng thừa nhận rằng, mọi điều đã rõ…

4. Halliday đã phân biệt ẩn dụ ngữ pháp theo những bình diện nào và luận án kế thừa như thế nào?

Halliday phân ẩn dụ ngữ pháp thành hai bình diện: tư tưởng (liên quan đến hệ thống chuyển tác) và liên nhân (liên quan đến hệ thống thức và tình thái). Luận án kế thừa cách phân loại này và áp dụng trực tiếp vào phân tích ngữ liệu tiếng Việt, cấu trúc thành Chương 2 (ẩn dụ tư tưởng) và Chương 3 (ẩn dụ liên nhân).

5. Trong ẩn dụ thức, cú nghi vấn được sử dụng như thế nào trong văn bản khoa học xã hội tiếng Việt?

Trong tổng số 250 trường hợp ẩn dụ thức, cú nghi vấn có các giá trị ngôn trung chiếm 90 trường hợp (36%). Phần lớn (65/90, 72,2%) là cú nghi vấn có các giá trị ngôn trung khác như biểu thị khẳng định (chẳng/chẳng phải… hay sao), biểu thị phân vân (phải chăng, liệu… hay không), biểu thị phỏng đoán (có lẽ, có thể), hoặc có câu trả lời ngay tiếp theo.


Kết luận

Luận án của Nguyễn Thu Thủy khảo sát có hệ thống phương thức sử dụng ẩn dụ ngữ pháp trong văn bản khoa học xã hội tiếng Việt dựa trên khung lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống của Halliday. Qua phân tích hơn 1.089 ví dụ từ 11 tạp chí khoa học xã hội (2003–2016), luận án ghi nhận ẩn dụ tư tưởng (629 trường hợp) và ẩn dụ liên nhân (460 trường hợp) với các kiểu phụ cụ thể và tần số phân bố được lập bảng chi tiết. Nghiên cứu xác nhận rằng cơ chế ẩn dụ ngữ pháp, đặc biệt là hiện tượng danh hóa, hoạt động như một phương thức tổ chức ngôn bản trong văn bản khoa học tiếng Việt tương tự như đã được mô tả trong ngôn ngữ Anh. Luận án đặt công trình trong mối quan hệ với các nghiên cứu trước của Hoàng Văn Vân, Diệp Quang Ban, Nguyễn Văn Hiệp và xác định vị trí của mình là bước khảo sát có hệ thống đầu tiên theo hướng này trong tiếng Việt.