Đặc trưng của các lối nói mang tính đánh giá trong tiếng Việt

Khám phá đặc trưng của các lối nói mang tính đánh giá trong tiếng Việt qua luận văn thạc sĩ USSH, phân tích ngữ nghĩa và ứng dụng thực tiễn.

Chuyên ngành

Ngôn Ngữ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2013

151
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Mục đích nghiên cứu

0.4. Đóng góp của luận văn

0.5. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu

0.6. Tư liệu và phương pháp nghiên cứu

0.7. Bố cục luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. Hành vi ngôn ngữ

1.2. Một số lí thuyết về hành vi ngôn ngữ

1.3. Hành vi đánh giá và những lối nói đánh giá

1.4. Đặc trưng văn hóa trong hành vi ngôn ngữ

1.5. Phương tiện thể hiện đánh giá trong tiếng Việt

1.6. Về các thành ngữ, tục ngữ, cụm từ cố định trong tiếng Việt

1.7. Về việc sử dụng các thành ngữ, tục ngữ, cụm từ cố định để đánh giá tích cực - tiêu cực

2. CHƯƠNG 2: HÌNH THỨC CỦA CÁC LỐI NÓI MANG TÍNH ĐÁNH GIÁ TRONG TIẾNG VIỆT

2.1. Các hình thức đánh giá tích cực

2.2. Đánh giá bằng hình thức so sánh (công thức 1)

2.3. Đánh giá bằng hình thức tôn cao đối tác (công thức 2)

2.4. Đánh giá bằng hình thức sử dụng quán ngữ tình thái “được cái” (công thức 3)

2.5. Đánh giá bằng hình thức cảm thán (công thức 4)

2.6. Đánh giá bằng hình thức sử dụng trợ từ “được” (công thức 5)

2.7. Đánh giá bằng hình thức khen, tán đồng (công thức 6)

2.8. Các hình thức đánh giá tiêu cực

2.9. Đánh giá bằng hình thức hạ thấp đối tượng (công thức 1)

2.10. Đánh giá bằng hình thức so sánh (công thức 2)

2.11. Đánh giá bằng hình thức sử dụng quán ngữ tình thái: đời thủa nhà ai, đời thủa nào, ai đời, ai lại (công thức 3)

2.12. Đánh giá bằng hình thức tách từ (công thức 4)

2.13. Đánh giá bằng hình thức sử dụng “gì/ gì mà” (công thức 5)

2.14. Đánh giá bằng hình thức sử dụng quán ngữ tình thái “phải cái” (công thức 6)

2.15. Đánh giá bằng hình thức láy từ (công thức 7)

2.16. Đánh giá bằng hình thức bác bỏ, hạ thấp đối tượng (công thức 8)

2.17. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NGỮ NGHĨA CỦA CÁC LỐI NÓI MANG TÍNH ĐÁNH GIÁ TRONG TIẾNG VIỆT

3.1. Đánh giá đặc trưng cố hữu, bất biến

3.1.1. Đánh giá tích cực

3.1.2. Đánh giá tiêu cực

3.2. Đánh giá đặc trưng ổn định, khó thay đổi

3.2.1. Đánh giá tích cực

3.2.2. Đánh giá tiêu cực

3.3. Đánh giá đặc trưng biến động theo hoàn cảnh

3.3.1. Đánh giá tích cực

3.3.2. Đánh giá tiêu cực

3.4. Ẩn dụ như một biểu hiện ngôn ngữ văn hóa trong lời đánh giá tiếng Việt

3.5. Đặc trưng văn hóa xã hội trong lời đánh giá tiếng Việt

3.5.1. Thể hiện văn hóa tôn ti

3.5.2. Thể hiện văn hóa gia trưởng (nam tôn nữ ti)

3.6. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về đặc trưng lối nói đánh giá trong tiếng Việt

Lối nói đánh giá trong tiếng Việt là một phần quan trọng trong giao tiếp, thể hiện quan điểm, thái độ của người nói đối với một đối tượng nào đó. Đặc trưng này không chỉ phản ánh cách nhìn nhận của người nói mà còn bộc lộ những giá trị văn hóa, xã hội của cộng đồng. Việc nghiên cứu lối nói đánh giá giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.

1.1. Định nghĩa và vai trò của lối nói đánh giá

Lối nói đánh giá được định nghĩa là những phát ngôn thể hiện sự nhận xét, đánh giá về một đối tượng nào đó. Vai trò của nó trong giao tiếp rất quan trọng, giúp người nói thể hiện cảm xúc, quan điểm và tạo ra sự tương tác giữa các bên.

1.2. Các loại lối nói đánh giá trong tiếng Việt

Có nhiều loại lối nói đánh giá trong tiếng Việt, bao gồm đánh giá tích cực và tiêu cực. Mỗi loại có cách thể hiện và ngữ nghĩa riêng, phản ánh sự đa dạng trong cách diễn đạt của người Việt.

II. Vấn đề và thách thức trong việc sử dụng lối nói đánh giá

Mặc dù lối nói đánh giá rất phổ biến, nhưng việc sử dụng chúng cũng gặp nhiều thách thức. Một số người có thể không hiểu đúng ý nghĩa của các lối nói này, dẫn đến hiểu lầm trong giao tiếp. Hơn nữa, sự khác biệt văn hóa cũng có thể ảnh hưởng đến cách thức đánh giá.

2.1. Hiểu lầm trong giao tiếp

Nhiều khi, lối nói đánh giá có thể bị hiểu sai do ngữ cảnh hoặc cách diễn đạt không rõ ràng. Điều này có thể dẫn đến những xung đột không đáng có trong giao tiếp.

2.2. Ảnh hưởng của văn hóa đến lối nói đánh giá

Mỗi nền văn hóa có cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Sự khác biệt này có thể tạo ra những khó khăn trong việc giao tiếp giữa các nền văn hóa khác nhau, đặc biệt là khi sử dụng lối nói đánh giá.

III. Phương pháp nghiên cứu lối nói đánh giá trong tiếng Việt

Để nghiên cứu lối nói đánh giá, cần áp dụng các phương pháp phân tích ngữ nghĩa và cấu trúc ngữ pháp. Việc này giúp xác định rõ các yếu tố cấu thành và cách thức sử dụng của chúng trong giao tiếp hàng ngày.

3.1. Phân tích ngữ nghĩa của lối nói đánh giá

Phân tích ngữ nghĩa giúp hiểu rõ hơn về nội dung và ý nghĩa của các lối nói đánh giá. Điều này rất quan trọng để nhận diện được các sắc thái trong cách diễn đạt.

3.2. Nghiên cứu cấu trúc ngữ pháp của lối nói đánh giá

Cấu trúc ngữ pháp của lối nói đánh giá có thể rất đa dạng. Việc nghiên cứu cấu trúc này giúp xác định các quy tắc và mẫu câu thường gặp trong giao tiếp.

IV. Ứng dụng thực tiễn của lối nói đánh giá trong giao tiếp

Lối nói đánh giá không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, truyền thông và kinh doanh. Việc hiểu và sử dụng đúng lối nói đánh giá có thể nâng cao hiệu quả giao tiếp.

4.1. Lối nói đánh giá trong giáo dục

Trong giáo dục, lối nói đánh giá được sử dụng để phản hồi và khuyến khích học sinh. Việc sử dụng đúng cách có thể tạo động lực cho học sinh phát triển.

4.2. Lối nói đánh giá trong truyền thông

Trong truyền thông, lối nói đánh giá giúp tạo ra các thông điệp rõ ràng và dễ hiểu. Điều này rất quan trọng trong việc truyền tải thông tin đến công chúng.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu lối nói đánh giá

Nghiên cứu lối nói đánh giá trong tiếng Việt là một lĩnh vực còn nhiều tiềm năng. Việc hiểu rõ hơn về đặc trưng và cách sử dụng của chúng sẽ giúp nâng cao chất lượng giao tiếp và hiểu biết văn hóa giữa các cộng đồng.

5.1. Tóm tắt những điểm chính

Lối nói đánh giá có vai trò quan trọng trong giao tiếp, nhưng cũng gặp nhiều thách thức. Việc nghiên cứu chúng cần được tiếp tục để hiểu rõ hơn về ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần có thêm nhiều nghiên cứu sâu hơn về lối nói đánh giá, đặc biệt là trong bối cảnh giao tiếp đa văn hóa. Điều này sẽ giúp nâng cao khả năng giao tiếp hiệu quả giữa các nền văn hóa khác nhau.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Hành vi ngôn ngữ 1. Một số lí thuyết về hành vi ngôn ngữ J. Austin, nhà triết học Anh ở Trường Đại học Tổng hợp Harvard (Mĩ) đã trình bày 12 chuyên đề nghiên cứu.

Những chuyên đề này, năm 1962, hai năm sau ngày ông mất được tập hợp lại và xuất bản thành sách với nhan đề “How to do things with word”. Tiêu đề này có người dịch là “Hành vi như thế nào bằng lời nói”, cũng có người dịch là “Nói tức là hành động”. Đồng thời cũng xuất hiện một số thuật ngữ khác nhau như: hành vi lời nói, hành vi ngôn từ, hành vi ngôn ngữ… Trong luận văn này, chúng tôi dùng thuật ngữ “Hành vi ngôn ngữ”.Austin cho rằng hành vi ngôn ngữ có thể chia làm ba loại là: hành vi tạo lời, hành vi ở lời và hành vi mượn lời. Ngữ dụng học quan tâm nhiều nhất đến hành vi ở lời.

Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu… để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung. Một bộ phận của hành vi tạo lời đã là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học tiền dụng học. Hành vi mượn lời là những hành vi “mượn” phương tiện ngôn ngữ, nói cho đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói. Ví dụ, nghe thông báo trên đài phát thanh: “Ngày mai, 25 tháng 07 ở Hà Nội sẽ có mưa lớn, gió mạnh, sức gió cấp 4 cấp 5 tức 40 đến 50 km một giờ” một số người sẽ rất lo lắng, tỏ ra bực mình nếu họ là những người ở xa cơ quan công tác; một số người khác trái lại sẽ thờ ơ; một số người khác nữa lại có thể vui mừng vì trời 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sẽ đỡ nóng bức.

Hành động lo lắng, bực mình hay thờ ơ, vui mừng đều thuộc hành vi mượn lời. Hành vi ở lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng. Một số hành vi ở lời như: hỏi, yêu cầu, ra lệnh, mời, hứa hẹn, khuyên bảo, đánh giá… Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận. Ví dụ, khi nói “Anh quá quắt lắm” là ta đã thực hiện hành vi đánh giá tiêu cực, hành vi chê ngay khi chúng ta nói.

Và người nghe dù có tán thành hay không tán thành về hành vi chê của ta thì cũng phải hồi đáp lại bằng một phát ngôn nào đó. Khác với hành vi mượn lời, hành vi ở lời có ý định (hay có đích), có quy ước và có thể chế, dù rằng quy ước và thể chế của chúng không hiển ngôn mà quy tắc vận hành của chúng được mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách không tự giác. Ví dụ, ở xã hội Việt Nam và Á Đông nói chung, khi ta hỏi về tuổi tác, tình trạng hôn nhân với người đối thoại là được phép, là tỏ sự quan tâm của người hỏi với người được hỏi. Trái lại hỏi về đề tài đó ở xã hội phương Tây lại bị xem là không lịch sự, là “dí mũi” vào đời tư của người ta.

Như vậy, nắm được ngôn ngữ không chỉ dừng lại ở việc biết phát âm, dùng từ, đặt câu… mà còn phải biết sử dụng ngôn ngữ đó theo đúng những quy định ở lời mà ngôn ngữ đó đòi hỏi, tức phải nắm được những quy tắc điều khiển các hành vi ở lời trong ngôn ngữ sao cho đúng lúc, đúng chỗ, hợp cảnh, hợp người. Đánh giá mà chúng tôi khảo sát trong luận văn này bao gồm các hành vi ở lời. Trong tiếng Việt, đánh giá thường được chia ra làm hai hướng: đánh giá tích cực - khen, đánh giá tiêu cực – chê. Khảo sát các lối nói đánh giá, chúng tôi tổng hợp những công thức tiêu biểu cũng như ngữ nghĩa của chúng, từ đó phát hiện đặc trưng văn hóa trong lời đánh giá khen chê của tiếng Việt.

8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đánh giá và những lối nói đánh giá Theo từ điển của Nguyễn Như Ý, đánh giá được định nghĩa là: “Nhận xét, bình phẩm về giá trị: Tác phẩm được đánh giá rất cao” [49, 589] Cùng với đánh giá, nhận xét là khái niệm có ý nghĩa gần tương tự như vậy. Nhận xét là đưa ra ý kiến xét đoán, đánh giá về một đối tượng như nhận xét tác phẩm văn học. Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, nhận xét được định nghĩa là “đưa là ý kiến có xem xét và đánh giá về một đối tượng nào đó”.

Như vậy, đánh giá có thể hướng về bất cứ đối tượng người hay vật thể nào, theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực. Tuy nhiên, đánh giá đối với con người đặc biệt quan trọng, bởi nó luôn bộc lộ quan hệ giữa những người giao tiếp, cái mà người ta hết sức giữ gìn. Đây là nơi bộc lộ qui tắc ngầm của xã hội, thể hiện ý thức về chuẩn xã hội vốn khác nhau ở những cộng đồng khác nhau. Bởi vậy, chúng tôi giới hạn khảo sát của mình ở sự đánh giá về con người.

Một lời nhận xét, đánh giá có thể được thể hiện thông qua rất nhiều hành động như: khen, biểu dương, tâng bốc, chê, mắng, chửi… Đặc biệt, đánh giá có thể thể hiện ở các động từ ngữ vi, cả ở những lối nói không có động từ ngữ vi. Nhưng chúng tôi tạm xếp chúng thành hai loại là: Đánh giá tích cực Đánh giá tiêu cực 1.Đánh giá tích cực Như trên chúng tôi đã đề cập, đánh giá tích cực được thể hiện thông qua nhiều hành động như khen, biểu dương, tâng bốc,… Trong đó: Khen là “nói lên sự đánh giá tốt về ai, về cái gì, việc gì với ý vừa lòng” [19, 497]. Ví dụ: Em bé đáng yêu quá! Lời khen có thể được diễn đạt thông qua một từ, một ngữ, một câu hay một đoạn,…Một số động từ nói năng có ý nghĩa gần với ý nghĩa của động từ khen như: tán dương, tán thưởng, ca ngợi, ca tụng,… 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khi nghiên cứu hành vi ngôn ngữ thuộc nhóm đánh giá này, cũng có tác giả chú trọng phân biệt từng hành vi nhỏ, cụ thể như sau. - Phân biệt động từ khen với động từ tâng hay tâng bốc: Tâng hay tâng bốc đều là những động từ nói năng biểu thị những lời nói hay, nói tốt, đề cao người nào đó ngay trước mặt người đó một cách quá mức.

Ví dụ: Họ tâng anh ta lên để lấy lòng. Họ tâng bốc anh ta lên tận mây xanh. Đó là sự phân biệt theo từ điển. Tuy nhiên, có thể thấy, hai động từ nói năng tâng, tâng bốc đều có điểm chung với động từ khen đó là sự đánh giá tốt về một đối tượng nào đó.

Cho dù nó được thực hiện với bất kỳ mục đích tư lợi nào, được đề cao quá mức và có thể là không thực chất, thì nó vẫn thực hiện một sự đánh giá, và đánh giá đó là tích cực. Bởi vậy, chúng tôi vẫn xếp các hành động tâng bốc, tán tụng… vào một nhóm và gọi chung là đánh giá tích cực.Đánh giá tiêu cực Ngược lại với đánh giá tích cực, đánh giá tiêu cực là thể hiện sự đánh giá thấp, không cho là phải, là tốt, là đúng chuẩn của người nói về một vấn đề nào đó. Hành vi đánh giá tiêu cực cũng bao gồm những hành động như: chê, mắng, chửi, trách móc,… Có nhiều cách định nghĩa chê khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt chê là “tỏ ý không thích, không vừa ý vì cho là kém là xấu” [33, 148].

Ví dụ: Chê chiếc áo này không đẹp. Tác giả Nguyễn Như Ý trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa chê là “đánh giá thấp, không cho là phải, là tốt” [49, 340]. Ví dụ: Ai cũng chê nó xấu. Như vậy có thể nói: “chê” là sự bày tỏ thái độ đánh giá tiêu cực của người nói nhằm tỏ thái độ chủ quan của mình về một người, một sự vật, sự việc mà người đó cho là không tốt, không thỏa đáng.

10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Người ta bày tỏ thái độ chê chỉ thông qua một câu mà chỉ được cấu tạo bằng một từ như: Vứt! Hỏng! Hứ! Ôi dào!.; cũng có thể chê bằng một văn bản trọn vẹn dài hoặc ngắn (một bài báo, một tác phẩm phê bình văn học,…); hoặc bàng những cử chỉ, điệu bộ như: cái nhếch mép, chun mũi, nụ cười ruồi, cử chỉ xua tay, lắc đầu,… Trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu xem xét những lối nói, những biểu thức có hàm ý đánh giá tích cực hay tiêu cực chứ không đi sâu tìm hiểu cả một bài hay một tác phẩm phê bình. Thường thì 2 hướng đánh giá tích cực, tiêu cực được thể hiện khá rõ. Tuy nhiên cũng có trường hợp phải viện đến bối cảnh mới phân biệt được. Có nhiều trường hợp mà lời nói rõ ràng có hình thức của một biểu thức đánh giá tích cực, nhưng đặt trong một văn cảnh cụ thể, kết hợp với ngữ điệu của người nói phát ra thì lời nói đó lại được hiểu là một đánh giá tiêu cực, một lời nói mỉa.

Ví dụ: Mẹ nói với cậu con trai: - Mày dạo này giỏi nhỉ! Hay: Giỏi! Rõ ràng trên bề mặt câu chữ thì đây là một lời khen. Nhưng nếu lời nói trên được phát ra kèm theo ngữ điệu kéo dài, nhấn mạnh ở cuối câu, đặc biệt nếu từ nhỉ được nói kéo dài và nhấn mạnh thì người nghe lại phải hiểu đây là một lời chê, một lời mắng. Cũng như đánh giá tích cực đã trình bày ở trên, có quan điểm phân biệt từng hành vi nhỏ trong nhóm đánh giá tiêu cực. Chẳng hạn, Nguyễn Thị Hoàng Yến trong luận án “Sự kiện lời nói chê trong tiếng Việt”, đã phân biệt như sau.

Hành vi chửi: “Chửi là bật ra những lời lẽ thô tục, cay độc để làm nhục người khác kèm theo cử chỉ nóng giận, bực tức” [33, 413]. Ví dụ: Giống lợn, đồ chó! 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Chê chưa đến mức độ ấy, chỉ dừng ở trạng thái tâm lý không hài lòng, không thích, biểu hiện bằng thái độ, lời nói nhằm hạ thấp uy tín, thể diện của đối tượng mà thôi”. Ví dụ: “Đồ mất dạy! Đồ bất hiếu!” Như vậy, theo Nguyễn Thị Hoàng Yến thì chê và chửi khác nhau ở mức độ tác động đến đối tượng mà người nói muốn đạt được thông qua lời nói của mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ